Sự hành động
Trong triết học, sự hành động là một sự kiện mà một tác nhân thực hiện vì một mục đích nhất định và được triển khai theo ý định của người đó.[1][2] Câu hỏi đầu tiên trong triết lý hành động là xác định hành động khác với các dạng hành vi khác như thế nào, chẳng hạn như phản xạ không điều kiện.[3] Có một sự tán thành đông đảo rằng câu trả lời cho câu hỏi này liên quan đến ý định của chủ thể. Ví dụ như việc lái xe ô tô là một hành động do tác nhân có ý định làm như vậy, nhưng hắt hơi chỉ là một hành vi đơn thuần vì nó xảy ra không phụ thuộc vào ý định của tác nhân. Lý thuyết chủ đạo về mối quan hệ giữa ý định và hành vi là thuyết nhân quả:[1] lái xe là một hành động vì nó được gây ra bởi ý định của tác nhân. Theo quan điểm này, các hành động được phân biệt với các sự kiện khác bởi lịch sử nhân quả của chúng.[2]
Hành động là một chiến lược và cũng là một thói quen, nhưng nó còn là một suy nghĩ nữa, khả năng hành động là kết quả của lối suy nghĩ đúng đắn.[4] Phát triển thói quen hành động bất chấp sợ hãi sẽ tạo ra chuyển động và lực đà.[5] Rèn luyện thói quen hành động bằng cách liên tục cố gắng tiến bộ và bỏ qua những đòi hỏi đối với sự hoàn hảo, vượt qua sự cầu toàn không phải nhấn mạnh vào kết quả vượt bậc mà vào cố gắng vượt bậc để chống lại sự trì hoãn.[6] Heidi Grant là nhà khoa học của Viện Neuroleadership, Phó giám đốc Trung tâm Khoa học về động lực tại Đại học Columbia, tác giả cuốn sách bán chạy Nine things successful people do differently (tạm dịch: 9 điều người thành công thực hiện theo cách khác biệt) cho rằng, điều quan trọng quyết định sự thành công không phải "bạn là ai", mà là "bạn làm gì". Người thành công đạt được nhiều mục tiêu không chỉ đơn giản vì họ có năng khiếu trong những lĩnh vực đó mà điểm làm cho họ trở nên khác biệt chính là hành động.[7]
Khả thể hành động (Affordance)
[sửa | sửa mã nguồn]Trong triết học đương đại, nhiều nhà tư tưởng đã mở rộng khái niệm "hành động" vượt ra ngoài phạm vi của ý chí cá nhân. Hành động không chỉ là kết quả của một chủ thể có ý định mà còn là sự hiện thực hóa của những điều kiện cho phép hành động có thể xảy ra. Từ góc nhìn sinh thái của James J. Gibson (1979),[8] môi trường không phải là một phông nền thụ động mà chứa đựng vô số khả thể hành động (affordances), những tiềm năng mà con người có thể nhận biết và hiện thực hóa tùy theo năng lực, mục đích và bối cảnh. Anthony Chemero (2003, 2009)[9][10] sau đó phát triển tư tưởng này thành một hình thái nhận thức hiện thân (embodied cognition), trong đó hành động không nằm hoàn toàn trong tâm trí hay vật thể, mà trong mối quan hệ năng động giữa chủ thể và thế giới.
Kế thừa và mở rộng hướng tiếp cận đó, một số học giả đương đại, trong đó có Nguyễn Nhật Quang (2025),[11][12] đề xuất thuyết khả thể hành động như một nền tảng bản thể học của hiện tượng thần kinh- sinh thái kết hợp trong việc tiến hành hành động có chủ đích (ví dụ hành động học tập). Theo hướng này, hành động không được hiểu như sự khởi phát tuyến tính từ ý định, mà như sự hội tụ giữa tiềm năng, mục đích và điều kiện ngữ cảnh, nơi mỗi hành động mang tính cá nhân đồng thời phản ánh cấu trúc vật chất và xã hội của thế giới. Hành động, vì thế, không chỉ là "điều con người làm", mà còn là cách thế giới cho phép con người được làm, một tiến trình đồng kiến tạo giữa ý chí, thân thể và môi trường sống.
Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ a b Wilson, George; Shpall, Samuel; Piñeros Glasscock, Juan S. (2016). "Action". The Stanford Encyclopedia of Philosophy. Metaphysics Research Lab, Stanford University.
- ^ a b Honderich, Ted (2005). "Action". The Oxford Companion to Philosophy. Oxford University Press.
- ^ Craig, Edward (1996). "Action". Routledge Encyclopedia of Philosophy. Routledge.
- ^ Thành công không chớp nhoáng-7 bước để đạt được thành công thực sự, Rory Vaden, Hồng Vân dịch, Nhà xuất bản Lao Động, Hà Nội, năm 2014, trang 206
- ^ Thành công không chớp nhoáng-7 bước để đạt được thành công thực sự, Rory Vaden, Hồng Vân dịch, Nhà xuất bản Lao Động, Hà Nội, năm 2014, trang 209
- ^ Thành công không chớp nhoáng-7 bước để đạt được thành công thực sự, Rory Vaden, Hồng Vân dịch, Nhà xuất bản Lao Động, Hà Nội, năm 2014, trang 212
- ^ 9 hành động tạo nên khác biệt của người thành công - Tạp chí Doanh nhân Sài Gòn
- ^ Gibson, Eleanor J. (ngày 1 tháng 6 năm 2001). Perceiving the Affordances. Psychology Press. ISBN 978-1-4106-0424-8.
- ^ Chemero, Anthony (tháng 4 năm 2003). "An Outline of a Theory of Affordances". Ecological Psychology. Quyển 15 số 2. tr. 181–195. doi:10.1207/s15326969eco1502_5. ISSN 1040-7413.
- ^ Chemero, Anthony P. (ngày 21 tháng 8 năm 2009). Radical Embodied Cognitive Science. The MIT Press. ISBN 978-0-262-25867-8.
- ^ Nguyễn, Nhật Quang; Đoàn, Thị Huệ Dung; Bùi, Thị Thục Quyên (ngày 24 tháng 10 năm 2025). "Thuyết khả thể hành động và mô hình giáo dục ngôn ngữ đa chiều trong thời đại trí tuệ nhân tạo". Tạp chí Giáo dục. tr. 417–426. ISSN 2354-0753.
- ^ Nguyen, Quang Nhat; Doan, Dung Thi Hue (ngày 17 tháng 10 năm 2025). "Beyond comprehensible input: a neuro-ecological critique of Krashen's hypothesis in language education". Frontiers in Psychology (bằng tiếng English). Quyển 16. doi:10.3389/fpsyg.2025.1636777. ISSN 1664-1078.
{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: DOI truy cập mở nhưng không được đánh ký hiệu (liên kết) Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)