Hội chứng Savant

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Hội chứng Savant
Đồng nghĩaBác học tự kỉ, bác học ngây ngô[1]
Kim Peek, diagnosed with Savant syndrome.jpg
Kim Peek được xem là bệnh nhân mắc hội chứng bác học, có thể nhớ nội dung chi tiết của hơn 12000 cuốn sách khác nhau.
KhoaTâm thần học, Thần kinh học
Triệu chứngTriệu chứng chung: Khuyết tật trí tuệ, nhưng có một số khả năng giỏi đặc biệt[1][2]
Các kiểuBẩm sinh hoặc tập nhiễm (acquired)[3]
Nguyên nhânRối loạn phát triển thần kinh, rối loạn gây tự kỷ, chấn thương não[1]
Tần suất1/1000000 (một phần triệu người mắc).[4]
Wikipedia không phải là một văn phòng y tế Phủ nhận y khoa 

Hội chứng bác học là một hội chứng - bệnh ở người, làm cho người bệnh có một hoặc vài khả năng xuất chúng, vượt xa mức trung bình.[5][6][1][2] Tên của hội chứng bắt nguồn từ tiếng Pháp là SAVANT (sa- văng) có nghĩa là "nhà bác học", "người xuất chúng", nên cũng còn được gọi là hội chứng savant (không viết hoa), trong thuật ngữ Y học Pháp, từ này được gọi là syndrome du savant hoặc savantisme. Các hiểu biết, kỹ năng hay kỹ xảo mà người bệnh mắc hội chứng bác học có được thường là xuất sắc hoặc rất xuất sắc, luôn liên quan đến não, nhất là bộ nhớ của người bệnh.[5][6][1] Những khả năng xuất sắc của người bệnh thường thể hiện ở khả năng tính toán rất nhanh, nhớ rất nhiều, chơi nhạc cụ và sáng tác rất tài giỏi, hoặc khả năng hội họa khác thường. Thông thường, mỗi người bệnh bác học chỉ có một kỹ năng đặc biệt xuất hiện.[1]

Những người mắc bệnh nói chung có rối loạn thần kinh như rối loạn phổ tự kỷ do di truyền (bẩm sinh) hoặc do bị chấn thương não.[6][1] Tuy nhiên, không phải bất cứ người nào mắc hội chứng này cũng là người bất thường, hoặc bị bệnh thần kinh hay tâm thần, chẳng hạn như "bác học âm nhạc đột xuất" Derek Amato là một người khỏe mạnh bình thường, có vợ với ba người con bình thường, hiện vẫn liên tục biểu diễn âm nhạc và phát hành các album.[7][8]

Khoảng một nửa các trường hợp có liên quan đến chứng tự kỷ và có thể được gọi là "những người tự kỷ".[1] Trong khi tình trạng bệnh này thường trở nên rõ ràng ở thời thơ ấu, một số trường hợp có thể phát triển sau này trong cuộc sống.[1] Nó không được công nhận là một rối loạn tâm thần trong DSM-5.[9]

Tình trạng này rất hiếm.[1] Một ước tính là nó ảnh hưởng đến khoảng một trong một triệu người.[4] Các trường hợp tính trạng của nữ giới thậm chí còn ít phổ biến hơn so với nam giới.[1] Ca y tế được ghi lại đầu tiên của tình trạng này là vào năm 1783.[1] Trong số những người mắc chứng tự kỷ từ 1 đến 10 đến 200 có hội chứng savant ở một mức độ nào đó.[1] Người ta ước tính rằng có ít hơn một trăm người có hội chứng Savant với những kỹ năng phi thường hiện đang sống.[1]

Dấu hiệu và triệu chứng[sửa | sửa mã nguồn]

Venice của nghệ sĩ mắc hội chứng Savant Stephen Wiltshire

Kỹ năng Savant thường được tìm thấy trong một hoặc nhiều trong năm lĩnh vực chính: nghệ thuật, trí nhớ, số học, khả năng âm nhạc và kỹ năng không gian.[1] Các loại người ăn chay phổ biến nhất là những người savant thuộc lịch,[10][11] "lịch người", là người có thể tính ngày trong tuần cho bất kỳ ngày nào với tốc độ và độ chính xác, hoặc nhớ lại ký ức cá nhân từ bất kỳ ngày nào. Bộ nhớ nâng cao là "siêu năng lực" quan trọng trong các kỹ năng Savant.[10]

Khoảng một nửa số người Savant bị tự kỷ; nửa còn lại thường có một số dạng chấn thương hoặc bệnh ở hệ thống thần kinh trung ương.[1] Người ta ước tính rằng 10% những người mắc chứng tự kỷ có một số dạng khả năng Savant.[1][12][13]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o Treffert DA (tháng 5 năm 2009). “The savant syndrome: an extraordinary condition. A synopsis: past, present, future”. Philosophical Transactions of the Royal Society of London. Series B, Biological Sciences 364 (1522): 1351–7. PMC 2677584. PMID 19528017. doi:10.1098/rstb.2008.0326. 
  2. ^ a ă Miller LK (tháng 1 năm 1999). “The savant syndrome: intellectual impairment and exceptional skill”. Psychological Bulletin 125 (1): 31–46. PMID 9990844. doi:10.1037/0033-2909.125.1.31. 
  3. ^ Hughes JR (2012). “The savant syndrome and its possible relationship to epilepsy”. Advances in Experimental Medicine and Biology 724: 332–43. ISBN 978-1-4614-0652-5. PMID 22411254. doi:10.1007/978-1-4614-0653-2_25. 
  4. ^ a ă Hyltenstam, Kenneth (2016). Advanced Proficiency and Exceptional Ability in Second Languages (bằng tiếng Anh). Walter de Gruyter GmbH & Co KG. tr. 258. ISBN 9781614515173. 
  5. ^ a ă “Savant syndrome”. 
  6. ^ a ă â Darold A. Treffert. “The savant syndrome: an extraordinary condition. A synopsis: past, present, future”. 
  7. ^ “Stroke of Genius: How Derek Amato Became a Musical Savant”. 
  8. ^ “Derek Amato”. 
  9. ^ Sperry, Len (2015). Mental Health and Mental Disorders: An Encyclopedia of Conditions, Treatments, and Well-Being [3 volumes]: An Encyclopedia of Conditions, Treatments, and Well-Being (bằng tiếng Anh). ABC-CLIO. tr. 969. ISBN 9781440803833. 
  10. ^ a ă Saloviita T, Ruusila L, Ruusila U (tháng 8 năm 2000). “Incidence of Savant Syndrome in Finland”. Perceptual and Motor Skills 91 (1): 120–2. PMID 11011882. doi:10.2466/pms.2000.91.1.120. 
  11. ^ Kennedy DP, Squire LR (tháng 8 năm 2007). “An analysis of calendar performance in two autistic calendar savants”. Learning & Memory 14 (8): 533–8. PMC 1951792. PMID 17686947. doi:10.1101/lm.653607. 
  12. ^ Treffert, Darold A. “The Autistic Savant”. Wisconsin Medical Society. 
  13. ^ “Savant Syndrome Statistics”. Health Research Funding. 12 tháng 7 năm 2014.