Hội chứng Stockholm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Hội chứng Stockholm là thuật ngữ mô tả một trạng thái tâm lý, trong đó người bị bắt cóc lâu ngày chuyển từ sợ hãi và căm ghét sang thông cảm và quý mến chính kẻ bắt cóc mình. Nguồn gốc của thuật ngữ này là một vụ tội phạm xảy ra năm 1973 tại Stockholm, Thụy Điển.[1]

Đến nay, hội chứng Stockholm vẫn là đề tài thu hút giớitâm lý học và nó cũng được thể hiện trong văn hóa. Theo các nhà tâm lý, đó là cơ chế tự vệ tự giác hoặc tự phát của người bị bắt cóc nhằm đương đầu với tình huống và tránh nguy hiểm. Khái niệm "Hội chứng Stockholm" cũng là một cách để cảnh sát giải thích với công chúng lý do vì sao các con tin kể về vụ bắt cóc khác với cách mà cảnh sát kể.

 Vụ tội phạm năm 1973 tại Stockholm, Thụy Điển[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1973, Jan Erik Olson, một tên tội phạm từng có tiền án tiền sự đã tổ chức cướp một ngân hàng tại vùng Norrmalmstorg, Stockholm, Thụy Điển. Cảnh sát đã nhanh chóng tới hiện trường và bao vây ngân hàng khi Jan vẫn còn đang ở trong đó. Để cố thủ, Jan đã bắt cóc 4 con tin. Cảnh sát đã cố gắng thương thuyết với Jan để thả con tin ra, còn Jan thì đòi cảnh sát đưa Clark Olofsson, bạn của Jan vào ngân hàng. Khi Olofsson đã vào trong, cảnh sát tiếp tục thương thuyết với cả hai và thậm chí là cả Thủ tướng Thụy Điển lúc đó cũng là gọi điện thoại để thương thuyết với hai tên tội phạm này. "Hội chứng Stockholm" ra đời khi cảnh sát nhận được một cú điện thoại kỳ lạ từ một con tin đang bị Jan bắt yêu cầu họ phải thả Jan và bạn của mình ra ngay lập tức. Sau năm ngày đêm bao vây, cảnh sát đã xịt hơi cay vào trong ngân hàng và giải cứu con tin thành công. Sau đó thì Olofsson đã trở thành bạn thân của Kristin Enmark, một trong bốn con tin hôm đó.

 Nguyên nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Sau một số vụ án khác, thuật ngữ “hội chứng Stockholm” đã trở nên khá phổ biến, nhưng nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này vẫn tương đối mơ hồ.

Chuyên gia tâm lý học Frank Ochberg nhận xét: “Đầu tiên, nỗi sợ hãi bất ngờ đến với các con tin, họ đinh ninh rằng mình sẽ chết. Sau đó, họ lại trải nghiệm trạng thái giống như một đứa trẻ - không thể tự ăn, nói hoặc đi vệ sinh mà không có sự cho phép. Vì vậy, những hành động nhỏ của kẻ bắt cóc con tin như cho ăn, uống đã dẫn đến sự biết ơn ban đầu. Các con tin dần rơi vào trạng thái tự phủ nhận thực tế rằng chính những kẻ bắt cóc đã đẩy họ vào tình huống như vậy, và trong tâm trí họ lại cho rằng đó là những kẻ “tối cao” có quyền quyết định việc họ được sống hay phải chết”. 

Ngành phân tâm học cũng có những giải thích thâm sâu hơn và cho rằng hội chứng này là một bản năng sinh tồn của con người có từ hồi mới sinh ra. Giống như những đứa trẻ nhỏ phải lệ thuộc vào người mẹ nuôi, cho bú, bế ẵm thì các nạn nhân bị bắt cóc phải thuần phục hoàn toàn tên cướp về mọi phương diện khiến theo thời gian thì trở nên gắn bó.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ de Fabrique, Nathalie; Romano, Stephen J.; Vecchi, Gregory M.; van Hasselt, Vincent B. (tháng 7 năm 2007). “Understanding Stockholm Syndrome”. FBI Law Enforcement Bulletin (Law Enforcement Communication Unit) 76 (7): 10–15. ISSN 0014-5688. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2010. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]