Hội chứng tiền kinh nguyệt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hội chứng tiền kinh nguyệt
Chuyên khoa Bệnh phụ khoa
ICD-10 N94.3
ICD-9-CM 625.4
Patient UK Hội chứng tiền kinh nguyệt

Hội chứng tiền kinh nguyệt đề cập đến các triệu chứng về thể chất và cảm xúc xảy ra ở một trong hai tuần trước kỳ kinh nguyệt. Các triệu chứng thường khác nhau giữa phụ nữ và xoay quanh thời điểm bắt đầu kỳ kinh. Các triệu chứng thông thường là mọc mụn, ngực nhạy cảm, đầy bụng, cảm giác mệt mỏi, khó chịu, và tâm trạng thay đổi. Thường thì các triệu chứng tồn tại trong khoảng sáu ngày.  Đối với từng người phụ nữ hội chứng này có thể thay đổi theo thời gian. Các triệu chứng không xuất hiện khi có thai hoặc sau khi mãn kinh.[1]

Chẩn đoán đòi hỏi một mô hình lặp đi lặp lại của các triệu chứng cảm xúc và thể chất xảy ra sau khi rụng trứng và kinh nguyệt đến mức độ chúng can thiệp vào cuộc sống bình thường của người đó. Triệu chứng của cảm xúc phải không được có mặt trong phần đầu của chu kỳ kinh nguyệt.[2] Một danh sách chi tiết các triệu chứng qua hàng tháng có thể giúp việc chẩn đoán tốt hơn. Các rối loạn khác mà có cùng triệu chứng cần được loại trừ trước khi thực hiện chẩn đoán.

Nguyên nhân của hội chứng này còn chưa được rõ. Some symptoms may be worsened by a high-salt diet, alcohol, or caffeine. Cơ chế ẩn sau hội chứng này được cho là do cường độ hormone. Hạn chế muối ăn, caffeine, và giảm stress kết hợp với tập thể dục có thể giúp những người có triệu chứng nhẹ. Canxivitamin D bổ sung có thể giúp điều trị. Các thuốc kháng viêm như naproxen có thể hỗ trợ các triệu chứng vật lý. Với các bệnh nhân có triệu chứng nặng, thuốc tránh thai hoặc birth control pills or the spironolactone lợi tiểu có thể hữu ích.

Có tới 80% phụ nữ cho biết có một số triệu chứng trước kỳ kinh nguyệt. Những triệu chứng này đủ điều kiện thành bệnh trong số 20 đến 30% phụ nữ tiền mãn kinh.[2] Rối loạn tiền kinh nguyệt là một trạng thái nặng hơn của hội chứng tiền kinh nguyệt với các triệu chứng tâm lý nghiêm trọng hơn. Rối loạn tiền kinh nguyệt ảnh hưởng đến 3-8 phần trăm phụ nữ tiền mãn kinh. Thuốc chống trầm cảm với lớp chất ức chế các serotonin tái hấp thu chọn lọc có thể được sử dụng bổ sung cho những biện pháp thông thường để điều trị rối loạn tiền kinh nguyệt.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Premenstrual syndrome (PMS) fact sheet”. Office on Women's Health. Ngày 23 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2015. 
  2. ^ a ă Chú thích trống (trợ giúp) 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]