Bước tới nội dung

Jure uxoris

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Thân vương Ferdinand của Sachsen-Coburg-Saalfeld-Koháry, chồng của Nữ vương Maria II của Bồ Đào Nha, ông được phong Vua của Bồ Đào Nha với vương hiệu Fernando II, đồng cai trị với vợ, ông giữ quyền này từ khi vợ của ông sinh ra người con trai đầu lòng

Jure uxoris (một thuật ngữ bằng tiếng La Tinh có nghĩa là "theo quyền của vợ")[1][2] mô tả tước hiệu quý tộc được sử dụng bởi một người đàn ông vì vợ anh ta giữ chức vụ hoặc tước hiệu suo jure ("theo quyền của cô ấy"). Tương tự như vậy, chồng của một nữ thừa kế có thể trở thành người sở hữu hợp pháp các vùng đất của cô ấy (ăn theo quyền của vợ). Ví dụ, phụ nữ đã kết hôn ở Vương quốc Anh và xứ Wales không có khả năng sở hữu bất động sản về mặt pháp lý cho đến khi có Đạo luật về tài sản của phụ nữ đã kết hôn năm 1882.

Các vị vua cai trị theo luật jure uxoris được coi là đồng cai trị với vợ của họ và không nên nhầm lẫn với các vị vua phối ngẫu, những người chỉ đơn thuần là phối ngẫu của vợ họ.

Thời Trung Cổ

[sửa | sửa mã nguồn]

Khái niệm jure uxoris là điều phổ biến trong thời Trung Cổ, kể cả đối với các nữ quân vương trị vì độc lập. Tại Vương quốc Jerusalem, Fulk V xứ Anjou, Guy de Lusignan, Conrad xứ Montferrat, Henry II xứ Champagne và Aimery de Lusignan đều trở thành quốc vương thông qua hôn nhân. Một trường hợp nổi tiếng khác của jure uxoris là Richard Neville, Bá tước Warwick đời thứ 16, người giành được tước hiệu này nhờ cuộc hôn nhân với Anne Beauchamp, Nữ Bá tước Warwick đời thứ 16, con gái của Richard Beauchamp, Bá tước Warwick đời thứ 13.

Sigismund xứ Luxembourg kết hôn với Nữ vương Mary của Hungary và giành được vương miện thông qua bà, đồng thời vẫn giữ ngôi vua sau khi bà qua đời năm 1395.

Một người đàn ông nắm giữ tước vị jure uxoris có thể tiếp tục giữ tước hiệu đó ngay cả sau khi vợ qua đời hoặc sau khi ly hôn. Khi cuộc hôn nhân giữa Marie I xứ Boulogne và Matthew xứ Boulogne bị hủy bỏ vào năm 1170, Marie mất tước hiệu Nữ Bá tước, trong khi Matthew I vẫn tiếp tục trị vì cho đến năm 1173. Tương tự, sau khi Maria, Nữ vương Sicily, qua đời năm 1401, người chồng góa của bà là Martin I của Sicily vẫn tiếp tục trị vì với tư cách Quốc vương cho đến khi ông qua đời năm 1409. Trong một số trường hợp, vương quốc thậm chí có thể được truyền lại cho con cháu của người chồng, ngay cả khi họ không phải là con ruột của người vợ đó (ví dụ như Jogaila, người trở thành vua nhờ kết hôn với Jadwiga và truyền ngôi cho các con sinh với Sophia xứ Halshany).

Các quốc vương jure uxoris trong thời Trung Cổ bao gồm:

  • Philip I xứ Navarre, kết hôn với Joan I của Navarre
  • Frederick II, Hoàng đế La Mã Thần thánh, được phong làm Quốc vương Jerusalem nhờ hôn nhân với Isabella II của Jerusalem
  • Louis I của Naples, chồng của Joanna I của Naples
  • Philip III xứ Navarre, kết hôn với Joan II của Navarre
  • John I của Castile, người đòi ngai vàng Bồ Đào Nha nhờ hôn nhân với Beatrice của Bồ Đào Nha
  • Guy de Lusignan, trị vì Jerusalem với tư cách Quốc vương theo quyền kết hôn với Sibylla của Jerusalem
  • Władysław II Jagiełło, trị vì Ba Lan với tư cách Quốc vương theo quyền hôn nhân với Jadwiga của Ba Lan

Thời Phục Hưng

[sửa | sửa mã nguồn]

Đến thời Phục Hưng, luật pháp và tập quán tại một số quốc gia đã thay đổi: người phụ nữ đôi khi vẫn giữ vai trò quân chủ, và chỉ một phần quyền lực được chuyển giao cho chồng. Điều này thường xảy ra khi nhiều vương quốc được hợp nhất, chẳng hạn như trường hợp Isabella và Ferdinand cùng chia sẻ vương quyền.

Tiền lệ jure uxoris đã làm phức tạp cuộc đời của hai con gái vua Henry VIII, cả hai đều kế vị ngai vàng theo quyền riêng. Cuộc hôn nhân của Nữ vương Mary I với Vua Philip vào năm 1554 được xem là một hành động chính trị, nhằm đưa Anh và Ireland vào quỹ đạo ảnh hưởng của Tây Ban Nha Công giáo. Quốc hội đã thông qua Đạo luật Hôn nhân của Nữ vương Mary với Philip xứ Tây Ban Nha, nhằm ngăn chặn việc Philip chiếm đoạt quyền lực dựa trên jure uxoris. Trên thực tế, cuộc hôn nhân này không có con, và Mary qua đời năm 1558, chấm dứt các yêu sách jure uxoris của Philip tại Anh và Ireland, đúng như dự liệu của đạo luật. Sau đó, Elizabeth I lên ngôi và bà chưa bao giờ kết hôn.

Tại Navarre, Jeanne d'Albret kết hôn với Antoine xứ Navarre vào năm 1548, và bà trở thành Nữ vương trị vì độc lập khi phụ vương qua đời năm 1555. Antoine được làm lễ đăng quang với tư cách đồng quân vương jure uxoris cùng Jeanne vào tháng 8 cùng năm.

Chuyển giao quyền lực một phần

Tại Anh và sau này là Vương quốc Liên hiệp Anh, người chồng thường hành động thay mặt vợ mình trong Viện Quý tộc (House of Lords), nơi các nữ quý tộc thừa kế bị cấm tham gia cho đến khi Đạo luật Quý tộc năm 1963 được ban hành. Những chức vụ này được thực hiện theo nguyên tắc jure uxoris.

Khi Lady Priscilla Bertie thừa kế tước hiệu Nữ Nam tước Willoughby de Eresby vào năm 1780, bà đồng thời giữ chức Lord Great Chamberlain. Tuy nhiên, chồng bà là Sir Peter Gwydyr đã thay mặt bà đảm nhiệm chức vụ này.

Điều kiện

[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Bồ Đào Nha, một nam phối ngẫu không thể trở thành quốc vương jure uxoris cho đến khi nữ vương trị vì sinh được một người con – tức người thừa kế hoàng gia. Mặc dù Nữ vương Maria II kết hôn với người chồng thứ hai vào năm 1836, Ferdinand xứ Saxe-Coburg-Gotha chỉ trở thành Quốc vương Ferdinand II vào năm 1837, khi đứa con đầu tiên của họ chào đời. Người chồng đầu tiên của Maria là Auguste xứ Beauharnais chưa bao giờ trở thành quân chủ, bởi ông qua đời trước khi có thể sinh ra người thừa kế. Đứa con của nữ vương không nhất thiết phải sinh sau khi bà đăng quang. Ví dụ, Nữ vương Maria I đã có con với chồng mình trước khi lên ngôi, vì vậy chồng bà lập tức trở thành Quốc vương Peter III vào thời điểm bà kế vị.

Hiện nay tại Tây Ban Nha, người chồng của một nữ quý tộc nắm giữ tước hiệu theo quyền riêng có thể sử dụng tước hiệu của vợ trong giao tiếp xã hội, mặc dù về mặt pháp lý ông không thực sự có quyền đối với tước hiệu đó. Ví dụ, Jaime de Marichalar thường được gọi là Công tước xứ Lugo trong thời gian hôn nhân với Infanta Elena, Nữ Công tước Lugo. Sau khi ly hôn, ông không còn sử dụng tước hiệu này nữa. Em rể của ông là Iñaki Urdangarin từng được gọi là Công tước xứ Palma, cho đến khi các cáo buộc tham nhũng khiến Quốc vương phải can thiệp. Kể từ ngày 12 tháng 6 năm 2015, ông không còn được gọi là Công tước Palma de Mallorca, sau khi tước hiệu này bị tước khỏi vợ ông là Infanta Cristina.

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. In Latin, jure is the ablative case of jus, meaning a legal right.
  2. Black, H. C. (1968), Law Dictionary (ấn bản thứ 4), citing Blackstone, Commentaries, quyển 3, tr. 210.