Kiến trúc Nhật Bản

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kinkaku-ji, Kyoto, được xây từ năm 1397 (thời kỳ Muromachi)

Kiến trúc Nhật Bản (日本建築 Nihon kenchiku?) có truyền thống làm từ các cấu trúc bằng gỗ, được nâng lên cao hơn mặt đất một chút, với mái lợp hoặc lợp tranh. Cửa kéo (fusuma) được sử dụng thay cho tường, cho phép cấu hình nội thất trong nhà có thể tùy biến cho những dịp khác nhau. Mọi người thường ngồi trên đệm hoặc trên sàn theo truyền thống; ghế và bàn cao không được sử dụng rộng rãi cho đến tận thế kỷ 20. Tuy nhiên từ thế kỷ 19, Nhật Bản đã hợp nhất các kiến trúc phương Tây, hiện đại, và hậu hiện đại vào xây dựng và thiết kế, và ngày nay là một nhà lãnh đạo trong thiết kế kiến trúc và công nghệ tiên tiến.

Kiến trúc đầu tiên của Nhật Bản trong thời tiền sử tập trung ở những căn nhà và cửa hàng đơn giản phù hợp với nhu cầu của một cộng đồng dân cư chuyên săn bắt và hái lượm. Ảnh hưởng từ nhà Hán ở Trung Quốc qua đường Triều Tiên chứng kiến sự ra đời của các kho chứa lương thực phức tạp hơn và các địa điểm chôn cất mang tính nghi lễ.

Quá trình phổ biến Phật giáo vào Nhật Bản trong thế kỷ thứ sáu đã dẫn đến việc xây dựng các đền chùa quy mô lớn với các kỹ thuật xử lý gỗ phức tạp. Ảnh hưởng từ các triều đại Trung Quốc ĐườngTùy dẫn đến việc xây dựng thủ đô cố định đầu tiên tại Nara. Mô hình đường phố bàn cờ của thành phố này sử dụng bản mẫu thiết kế của thủ đô Trường An. Việc thu nhỏ dần dần kích cỡ các tòa nhà đã dẫn đến các phép đo đạc quy chuẩn và tinh chỉnh trong các thiết kế mặt bằng và vườn tược. Phổ biến trà đạo đã nhấn mạnh tính đơn giản và thiết kế chân phương như là đối trọng cho sự cầu kỳ quá mức của tầng lớp quý tộc.

Trong giai đoạn Minh Trị Duy tân năm 1868 lịch sử của kiến trúc Nhật Bản đã được thay đổi triệt để với hai sự kiện quan trọng. Đạo luật đầu tiên là Đạo luật Thần Phật phân ly (Shinbutsu bunri) năm 1868, chính thức tách rời Phật giáo khỏi Thần đạo và tách các đền thờ Phật giáo ra khỏi các đền thờ Shinto, phá vỡ liên kết giữa hai tôn giáo đã kéo dài hơn một nghìn năm.[1]

Thứ hai, tại thời điểm đó Nhật Bản trải qua một giai đoạn Tây hóa mãnh liệt để cạnh tranh với các nước phát triển khác. Ban đầu kiến trúc và phong cách từ nước ngoài đã được du nhập vào Nhật Bản nhưng dần dần đất nước này đã đào tạo ra các kiến trúc sư và bắt đầu thể hiện phong cách riêng của mình. Các kiến trúc quay lại, bắt đầu bằng việc nghiên cứu các kiến trúc phương Tây, và giới thiệu Phong cách Quốc tế của chủ nghĩa hiện đại vào Nhật Bản. Tuy nhiên, chỉ đến sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các kiến trúc sư Nhật Bản mới tạo được ấn tượng trên trường quốc tế, trước tiên là các tác phẩm của các kiến trúc sư như Kenzo Tange và sau đó với các phong trào lý thuyết như Metabolism.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Stone, Jacqueline (tháng 12 năm 1993). “Review of Of Heretics and Martyrs in Meiji Japan: Muslim and Its Persecution by James Edward Ketelaar”. Harvard Journal of Asiatic Studies 53 (2): 582–598. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2011. 

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bognar, Botond (1995). The Japan Guide. Princeton Architectural Press. ISBN 1-878271-33-4. 
  • Bussagli, Mario (1989). History of World Architecture – Oriental Architecture/2. Faber and Faber. ISBN 0-571-15378-X. 
  • Bowring, R. and Kornicki, P. (1993), The Cambridge Encyclopedia of Japan, pp. 201–208, Cambridge University Press, ISBN 0-521-40352-9.
  • Coaldrake, William H. (1996) Architecture and Authority in Japan (Nissan Institute/Routledge Japanese Studies Series), Routledge, ISBN 978-0-415-10601-6
  • Daniell, Thomas (2008) After the Crash: Architecture in Post-Bubble Japan, Princeton Architectural Press, ISBN 978-1-56898-776-7
  • Diefendorf, Jeffry M; Hein, Carola; Yorifusa, Ishida biên tập (2003). Rebuilding Urban Japan After 1945. Hampshire, United Kingdom: Palgrave MacMillan. ISBN 0-333-65962-7. 
  • Fiévé, Nicolas (1996).L'architecture et la ville du Japon ancien. Espace architectural de la ville de Kyôto et des résidences shôgunales aux XIVe et XVe siècles, Bibliothèque de l'Institut des Hautes Études Japonaises, Collège de France, Paris, Maisonneuve & Larose, 358 pages + 102 illustrations. ISBN 2-7068-1131-5.
  • Fiévé, Nicolas (dir.) (2008).Atlas historique de Kyôto. Analyse spatiale des systèmes de mémoire d’une ville, de son architecture et de ses paysages urbains. Foreword Kôichirô Matsuura, Preface Jacques Gernet, Paris, Éditions de l’UNESCO / Éditions de l’Amateur, 528 pages, 207 maps et 210 ill. ISBN 978-2-85917-486-6.
  • Fiévé, Nicolas and Waley, Paul. (2003). Japanese Capitals in Historical Perspective: Place, Power and Memory in Kyoto, Edo and Tokyo. London: Routledge. 417 pages + 75 ill. ISBN 978-0-7007-1409-4
  • Frampton, Kenneth (1990). Modern Architecture a Critical History. Thames and Hudson. 
  • Gotō, Osamu (2003). Nihon Kenchikushi. Kyoritsu Shuppan. 
  • Gregory, Rob, August 2007, "Reading Matter", Architectural Review
  • Gregory, Rob, August 2007, "Rock Solid", Architectural Review
  • Itoh, Teiji (1973). Kura – Design and Tradition of the Japanese Storehouse. Kodansha International. ISBN 0-914842-53-6. 
  • Mitchelhill, Jennifer (2013). Castles of the Samurai:Power & Beauty. USA: Kodansha. ISBN 978-1568365121. 
  • Nishi, Kazuo; Hozumi, Kazuo (1996) [1983]. What is Japanese architecture? . Kodansha International. ISBN 4-7700-1992-0. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009. 
  • Payne, James, March 2010, "Lausanne", Architecture Today
  • Reynolds, Jonathan M. (2001). Maekawa Kunio and the Emergence of Japanese Modernist Architecture. University of California Press. ISBN 0-520-21495-1. 
  • Sickman & Soper, Laurence & Alexander (1956). The Art and Architecture of China. Penguin Books. 
  • Slessor, Catherine, October 2001, "Comment", Architectural Review
  • Slessor, Catherine, October 2001, "Common Ground", Architectural Review
  • Stewart, David B (2002). The Making of a Modern Japanese Architecture, From the Founders to Shinohara and Isozaki. Kodansha International. 
  • Sumner, Yuki; Pollock, Naomi (2010). New Architecture in Japan. London: Merrell. ISBN 978-1-85894-450-0. 
  • Takasaki, Masaharu (1998). An Architecture of Cosmology. Princeton Architectural Press. 
  • Tanigawa, Masami (2008). Yamamura House – Yodoko Guest House. Banana Books. 
  • Thompson, Jessica Cargill (2000). 40 architects under 40. Taschen. ISBN 3-8228-6212-6. 
  • Legault, Réjean; Goldhagen, Sarah biên tập (2000). Anxious Modernisms. Cambridge, Massachusetts: The MIT Press. ISBN 0-262-07208-4. 
  • Webb, Michael, October 2001, "Layered Media", Architectural Review
  • Webb, Michael, May 2006, "Container Art", Architectural Review
  • Spring 2005, "Do_co,mo.mo Japan: the 100 selection", The Japan Architect, No. 57
  • Fletcher, Banister; Cruickshank, Dan, Sir Banister Fletcher's a History of Architecture, Architectural Press, 20th edition, 1996 (first published 1896). ISBN 0-7506-2267-9. Cf. Part Four, Chapter 25
  • Koji Yagi (text), Ryo Hata (photos): A Japanese Touch For Your Home. Kodansha International, Tokyo, New York, London 1999 (Pbck.), ISBN 4-7700-1662-X

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]