Lợn Cornwall

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hai con lợn đen

Lợn Cornwall hay còn là lợn đen lớngiống lợn có nguồn gốc xuất xứ từ nước Anh tại các quận Cornwall Devon và Essex.

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Chúng có nguồn gốc từ vùng Cornwall, phía Nam nước Anh được hình thành vào khoảng 1824-1825. Do quá trình tạp giao giữa các giống lợn từ Anh, Tây Ban Nha, Ý, Bồ Đào Nha, Trung Quốc tạo thành. Nhìn chung, lợn Cornwall được tạo thành bởi quá trình lai tạo giữa giống lợn Berkshire với Lợn Trung Quốc.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn thân lợn có màu đen tuyền, đầu nhỏ và dài, tai to dài rủ xuống kín mặt, cổ nhỏ – dài, mình dài, vai-lưng-mông-đùi phát triển. Toàn thân có dáng hình dáng tiến về phía trước, Lợn chậm chạp và ít vận động so với các giống lợn Yorkshire hay lợn Duroc. Giống lợn này có tỷ lệ mỡ khá cao. Lợn có khả năng tăng trọng từ 500-600 g/ngày, 7 tháng tuổi Lợn thịt có thể đạt 90–100 kg. Khi trưởng thành con đực nặng 300 kg, con cái 220–240 kg. Lợn Cornwall được coi là giống lợn thích nghi khá tốt ở các vùng xứ nóng và có sức đề kháng cao.

Lợn Cornwall có khả năng sinh sản thấp, đẻ ít con và thưa trung bình đạt 1,4 – 1,5 lứa/năm. Mỗi lứa đẻ 9 -10 con, trọng lượng sơ sin (Pss) của Lợn con trung bình đạt 1,2 – 1,3 kg, trọng lượng cai sữa (Pcs) đạt 12 – 15 kg. Sức tiết sữa Lợn 3 – 5 kg/ngày. Khả năng sinh trưởng của Lợn chậm hơn so với Lợn Landrace hoặc Yorkshire.

Phổ biến[sửa | sửa mã nguồn]

Giống lợn này phổ biến ở Hung-ga-ri và một số nước Nam Âu vào những năm đầu của thế kỷ XX. Do Lợn có màu đen tuyền và thích nghi tốt hơn ở các nước có nhiệt độ cao hơn, chính vì vậy giống lợn này không nuôi phổ biến ở Anh. Lợn được nhập vào Việt Nam năm 1974, qua Hungary nuôi thích nghi ở nông trường Thành Tô và Ba Vì, do không thích hợp về khí hậu nên Lợn được chuyển vào nông trường giống lợn Triệu Hải năm 1976.

Tại đây giống lợn này thích nghi và phát triển. Đến năm 1993, do chủ trương trắng hóa đàn Lợn tại các tỉnh Thừa Thiên Huế và Quảng Trị và do ảnh hưởng của cơ chế thị trường và khoán sản phẩm đến người lao động, giống lợn này không được ưa chuộng, từ đó giống lợn này được loại bỏ hoàn toàn ở khu vực Bình – Trị – Thiên.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Alderson, Lawrence (2001). Rare Breeds (4th ed.). Princes Risborough: Shire Publications. pp. 27–28. ISBN 978-0-7478-0511-3. Truy cập 2012-03-20.
  • Case, Andy (2009). Beautiful Pigs: portraits of fine breeds. London: Frances Lincoln. p. 36. ISBN 978-0-7112-3059-0.
  • Lutwyche, Richard (1998). "The Large Black Pig". Country Garden and Smallholding (Saffron Walden: Broad Leys Publishing)., cited by: Megg Miller (2001). "Rare Breeds Trust of Australia: The Large Black". Rare Breeds Trust of Australia. Truy cập 2012-01-11.
  • "Large Black". Oklahoma State University. Truy cập 2012-02-21.
  • Plumb, Charles Sumner (1920). Types and Breeds of Farm Animals. Country life education. Ginn. p. 762.
  • Janet Vorwald Dohner (2001). The encyclopedia of historic and endangered livestock and poultry breeds. Yale University Press. pp. 189–190. ISBN 978-0-300-08880-9.
  • Miller, Megg (2001). "Rare Breeds Trust of Australia: The Large Black". Rare Breeds Trust of Australia. Truy cập 2012-01-11.
  • Board of Agriculture and Fisheries (1913). British Breeds of Live Stock (Second ed.). London: His Majesty's Stationery Office.
  • Wallace, Robert (1907). Farm Live Stock of Great Britain (4th ed.). Edinburgh: Oliver and Boyd; London: Gurney and Jackson. p. 718.
  • Large Black Pig Society (1899). The Herd Book of Large Black Pigs. Bury St. Edmund's.
  • Lutwyche, Richard (1998). "The Large Black Pig". Country Garden and Smallholding (Saffron Walden: Broad Leys Publishing)., cited by: Megg Miller (2001). "Rare Breeds Trust of Australia: The Large Black". Rare Breeds Trust of Australia. Truy cập 2012-01-11.