Lực lượng Phòng vệ Trên không Nhật Bản

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lực lượng Phòng vệ Trên không Nhật Bản
航空自衛隊
Flag of the Japan Air Self-Defense Force.svg
Thành lập 1 tháng 7 năm 1954
Quốc gia  Nhật Bản
Quy mô 45.000 người (2005)
769 máy bay[1] (2013)
Bộ phận của Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản
Các tư lệnh
Chỉ huy
hiện thời
Tướng Harukazu Saito
(Tham mưu trưởng Lực lượng Phòng vệ trên không)
Huy hiệu
Ấn tiêu Roundel of Japan.svg
Con dấu Flag of the Japan Air Self-Defense Force.svg
Phi cơ sử dụng
Cường kích F-2
Tác chiến
điện tử
E-767, EC-1, E-2C
Tiêm kích F-4EJ, F-15J/DJ, F-2, F-35A
Đánh chặn F-15J
Huấn luyện F-15DJ, T-7, T-400, T-4
Vận tải C-1, KC-767J, C-130H

Lực lượng Phòng vệ Trên không Nhật Bản (航空自衛隊 Kōkū Jieitai? hay JASDF – viết tắt của Japan Air Self-Defense Force), là bộ phận không quân của Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản chịu trách nhiệm về việc bảo vệ không phận Nhật Bản và hoạt động hàng không vũ trụ khác. Lực lượng này thực hiện tuần tra chiến đấu không phận xung quanh Nhật Bản, trong khi vẫn duy trì một mạng lưới rộng lớn các hệ thống radar mặt đất và cảnh báo phòng không sớm.[1]

Lực lượng này có khoảng 45.000 người vào năm 2005, và năm 2013 có 769 máy bay, trong đó có khoảng 350 máy bay chiến đấu. Trước khi thành lập Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản sau Thế chiến II, Nhật Bản đã không có một lực lượng không quân riêng. Các hoạt động hàng không đã được thực hiện bởi Đội hàng không Không lực Lục quân Đế quốc Nhật BảnKhông lực Hải quân Đế quốc Nhật Bản. Sau Thế chiến II, Quân đội Đế quốc Nhật Bản đã được giải thể và thay thế bằng Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản với việc thông qua Luật Lực lượng Phòng vệ năm 1954, và JASDF là bộ phận không quân của lực lượng này.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]