Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Type 10 - Chiến xa chủ lực do Nhật chế tạo bắt đầu sử dụng kể từ năm 2012

Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản (JGSDF-陸上自衛隊 Rikujō Jieitai; Hán-Việt: Lục thượng tự vệ đội, thường được gọi tắt là lục tự) là lực lượng Lục quân thuộc Bộ Phòng vệ Nhật Bản. Tham mưu trưởng lực lượng này là tướng Kiyofumi Iwata; Bộ tham mưu có trụ sở đặt tại Ichigaya, Tokyo. Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản có quân số vào năm 2008 là khoảng 150.000 quân và năm 2010 tiếp tục xấp xỉ 150.000 người.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Một người lính của JGSDF-Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản với thiết bị ngắm PDF-14 dùng cho ban đêm.

Sau năm 1945, theo Hiệp ước Potsdam do Lực lượng Đồng Minh ban hành, Lục quân Đế quốc Nhật BảnHải quân Đế quốc Nhật Bản bị giải thể, thay thế cho cả 2 lực lượng quân sự bảo vệ Nhật Bản này là các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ gồm 450.000 quân đặt dưới quyền của Thống tướng Douglas MacArthur.

Khi nổ ra Chiến tranh Triều Tiên vào năm 1950, rất nhiều đơn vị quân sự Hoa Kỳ được đưa đến Nam Triều Tiên tham chiến và điều đó khiến cho Nhật Bản hoàn toàn mất đi khả năng phòng vệ. Theo sự gợi ý từ chính phủ Hoa Kỳ, vào tháng 7/1950, chính quyền Nhật Bản đồng ý và thành lập Lực lượng Cảnh sát Trừ bị Quốc gia gồm 75.000 người được trang bị vũ khí bộ binh hạng nhẹ, huấn luyện bởi các cố vấn Mỹ.

Dựa trên cơ sở của Hiệp ước An ninh Nhật - Mỹ (Treaty of Mutual Cooperation and Security between the United States and Japan) được ký vào đầu năm 1952, nước Mỹ sẽ đảm nhận vai trò tác chiến và hỗ trợ nếu có bất kì sự đe dọa nào chống lại Nhật Bản trong khi các lực lượng Nhật Bản gồm cả Hải quân và Lục quân sẽ đảm nhận vai trò hậu cần và đối phó với các thảm họa thiên nhiên hoặc dịch bệnh. Giữa năm 1952, Lực lượng Cảnh sát Trừ bị Quốc gia gia tăng quân số lên 110.000 người và đổi tên thành Lực lượng Bảo an Quốc gia.

Nhật Bản tiếp tục tăng cường khả năng phòng vệ của mình. Vào ngày 1/7/1954, Cục Bảo an Quốc gia thông báo tái tổ chức thành Cục Phòng vệ Nhật Bản và Lực lượng Bảo an Quốc gia tái tổ chức thành Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản (Lục quân), Lực lượng Phòng vệ Duyên hải Nhật Bản (Hải quân), Lực lượng Phòng vệ Không phận Nhật Bản (Không lực). Cả 3 lực lượng được đặt dưới quyền của tướng Keizõ Hayashi - chỉ huy trưởng đầu tiên của Hội đồng Tham mưu Phòng vệ Nhật Bản.

Một bộ phận tổ chức lớn nhất là cấp sư đoàn và được coi như một đơn vị cơ bản. Là các đơn vị chủ chốt trong quân đội, nó có trách nhiệm bảo vệ một khu vực cụ thể. Quân đội nằm dưới sự kiểm soát trực tiếp của Chỉ huy Trưởng Cơ quan Quốc phòng. Dưới sự chỉ huy của các Bộ Chỉ Huy Quân khu, các Sư đoàn tác chiến và các đơn vị hỗ trợ có trách nhiệm bảo vệ khu vực của mình và chống lại những kẻ thù trực tiếp hoặc gián tiếp xâm lăng Nhật Bản.

Những người lính Nhật thuộc JGSDF tập trận cùng binh lính Mỹ năm 2006.

Khi Nhật Bản vươn lên trở thành một trong những quốc gia phồn thịnh nhất hành tinh, khi tình hình an ninh - quân sự thế giới có nhiều biến chuyển phức tạp, đặc biệt là sự trỗi dậy về mặt quân sự của các quốc gia khác trong khu vực, thì Cục Phòng vệ Nhật Bản không còn đáp ứng được các yêu cầu trong hoàn cảnh mới. Trong đó, Nhật đặc biệt nhấn mạnh mối đe dọa từ Bắc Triều Tiên cùng cuộc tranh chấp với Nga tại quần đảo Kuril ở phương Bắc, cuộc tranh chấp với Hàn Quốc tại nhóm đảo đá Takeshima, các tranh chấp về khu vực đặc quyền kinh tế biển với Trung Quốc ở khu vực quần đảo Senkaku.

Cuộc chạy đua vũ trang trong nhiều năm qua đã dẫn tới kết quả là nước Nhật nằm giữa một loạt nước có vũ khí hạt nhân gồm Nga, Trung Quốc, có thể là cả Bắc Triều Tiên, chưa kể đồng minh Mỹ đòi hỏi phải có quân đội chính thức. Năm 2006, Thủ tướng Shinzo Abe đã đẩy mạnh tiến trình thành lập Bộ Quốc phòng.[1] Cục Phòng vệ Nhật Bản được nâng cấp thành Bộ Quốc phòng vào ngày 9 tháng 1 năm 2007 dưới thời Thủ tướng Nhật Shinzo Abe. Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản được đặt trong Bộ Quốc phòng. Ngân sách quốc phòng năm tài khóa 2016 là 4859 tỉ Yên Nhật tương đương với 41 tỷ USD trong đó Lục quân nhận 17 tỷ USD (chiếm hơn 40%), chiếm 1% tổng GDP.

Hiện nay có khoảng trên 50.000 quân Mỹ đóng tại Nhật Bản, chủ yếu tại Okinawa. Lực lượng Hoa Kỳ tại Nhật Bản chủ yếu là Không lực, Hải quân và Lực lượng Thủy Quân Lục Chiến Viễn chinh số 3 Hoa Kỳ gồm Sư đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến, Lữ đoàn 3 Viễn chinh, Không đoàn 1 Không lực Viễn chinh và Liên đoàn 3 Hậu cần Thủy Quân Lục Chiến.

Cấu trúc[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng Hành Dinh của Quân khu Trung tâm tại Itami.
Sơ đồ phân bố các Sư đoàn, Lữ đoàn của Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản
Đội quân nhạc của Nhật tại trại Narashino năm 2008
Tổ chức Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản

Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản có khoảng 150.000 người (bao gồm cả đặc nhiệm). Tham mưu trưởng Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản được gọi là Mạc Liêu Trưởng Lục tướng (tương đương cấp Đại tướng) là chỉ huy cao nhất Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản.

Dưới sự quản lý của Tham mưu trưởng là 5 quân khu. Các quân đoàn Nhật Bản được gọi là Phương Diện Quân (Hōmentai (方面隊)), có quy mô từ 20.000 đến 30.000 người, được chỉ huy bởi một Lục tướng.

Mỗi Phương Diện Quân có trách nhiệm phòng vệ tại một quân khu cụ thể. Dưới Phương Diện Quân là các Sư đoàn quy mô từ 6.000 đến 9.000 người và các Lữ đoàn có quy mô từ 3.000 đến 4.000 người và một số đơn vị hỗ trợ khác.

Trong khi đó, khác với cấp Lữ đoàn, cấp Trung đoàn nằm trong cơ cấu của các Sư đoàn có quy mô tương đương cấp Tiểu đoàn của các quốc gia khác, còn cấp Tiểu đoàn có quy mô tương đương cấp Đại đội. Sư đoàn và Lữ đoàn ở Nhật được xem cấp cơ bản, quan trọng nhất, do có cấu tạo hỗn hợp và có khả năng ứng chiến linh hoạt cao.

Hệ thống chỉ huy từ cao xuống thấp trong quân đội Nhật Bản:

• Chỉ huy trưởng cấp Quân đoàn-Quân khu là Lục tướng (tương đương cấp Trung tướng).

• Chỉ huy trưởng cấp Sư đoàn là Lục tướng hổ (tương đương cấp Thiếu tướng).

• Chỉ huy trưởng cấp Lữ đoàn là Nhất đẳng lục tá (tương đương cấp Đại tá).

• Chỉ huy trưởng cấp Tiểu đoàn là Nhị đẳng lục tá (tương đương cấp Trung tá).

• Chỉ huy trưởng cấp Đại đội là Nhất đẳng lục úy (tương đương cấp Đại úy).

• Chỉ huy trưởng cấp Trung đội là Nhị đẳng lục úy (tương đương cấp Trung úy).

• Ngoài ra, ở cấp tiểu đội trưởng do Nhị đẳng lục tào hoặc Tam đẳng lục tào chỉ huy (tương đương với Trung sĩ nhất hoặc Trung sĩ). Ở cấp Trung đội, hỗ trợ huấn luyện cho các binh sĩ có các Nhất đẳng lục tào (tương đương Thượng sĩ) và các Lục tào trưởng (tương đương với Thượng sĩ tham mưu) sẽ cố vấn chiến thuật để hỗ trợ cho các chỉ huy trưởng tiểu đoàn, có quyền hạn và trách nhiệm đứng thứ 3 trong tiểu đoàn sau Tiểu đoàn trưởng và Tiểu đoàn phó.

Hiện tại Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản có các đơn vị như sau:

• 8 Sư đoàn Bộ binh (1, 2, 3, 4, 6, 8, 9, 10).

• Sư đoàn 7 Thiết giáp.

• 5 Lữ đoàn Bộ binh (5, 11, 13, 14, 15) (được chuyển đổi từ Sư đoàn 5, 11, 13, 14, 15 Bộ binh).

• Lữ đoàn 12 Đột kích không vận (trước đây là Lữ đoàn 12 Bộ binh, được chuyển đổi từ Sư đoàn 12 Bộ binh).

• Lữ đoàn 1 Dù phản ứng nhanh.

• 5 Lữ đoàn Huấn luyện.

• 1 Lữ đoàn Pháo Dã chiến.

• 2 Lữ đoàn Phòng không.

• 4 Lữ đoàn Công binh.

• Lữ đoàn 1 Trực thăng Không vận (gồm 24 phi đoàn trực thăng và 2 trung đội trực thăng chống tăng).

• Lực lượng Tác chiến Phản ứng nhanh Trung tâm Quốc gia Nhật Bản.

Lực lượng Tác chiến Phản ứng nhanh Trung tâm Quốc gia Nhật Bản có quân số hiện tại là 5.400 người gồm có các đơn vị như sau:

  • Bộ Chỉ Huy đặt tại trại Asaka, Nerima, Tokyo có 230 người.

• Lữ đoàn 1 Dù đóng ở trại Narashino, Funabashi, Chiba có 1.900 người.

• Lữ đoàn 1 Trực thăng Không vận (được huấn luyện bởi Trung đoàn 160 Không vận Chiến dịch Đặc Biệt Hoa Kỳ) đóng tại trại Kisarazu, Kisarazu, Chiba có 900 người.

• Trung đoàn Tìm kiếm và Cứu nạn đóng tại trai Utsunomiya, Utsunomiya, Tochigi có 700 người.

• Liên đoàn Lực lượng Đặc Biệt Nhật Bản (được huấn luyện bởi Lực lượng Đặc Biệt và Lực lượng Delta Hoa Kỳ) đóng tại trại Narashino, Funabashi, Chiba có 600 người.

• Trung tâm Phòng vệ Vũ khí Hạt nhân, Sinh học, Hóa học đóng tại trại Ōmiya, Kita-ku, Saitama có 155 người.

• Đơn vị Quân y Phòng chống Vũ khí Hạt nhân, Sinh học, Hóa học đóng tại trại Asaka, Nerima, Tokyo có 70 người.

• Đơn vị Huấn luyện các hoạt động giữ gìn hòa bình Liên Hiệp Quốc đóng tại trại KomakadoGotemba, Shizuoka có 80 người.

• Trung đoàn Bộ binh phía Tây (Thủy Quân Lục Chiến) đóng tại trại Sasebo, Nagasaki có 765 người, đơn vị bộ binh hạng nhẹ, phản ứng nhanh, được huấn luyện tác chiến thủy bộ bởi Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ.

Các lực lượng quân sự này có nhiệm vụ phòng vệ khắp nơi trên nước Nhật (xem Sơ đồ phân bố các Sư đoàn, Lữ đoàn của quân đội Nhật). Cơ cấu các cấp của Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản có quy mô rất nhỏ nhưng bù lại tổ chức linh hoạt và trang bị vô cùng tinh vi, hiện đại nhất châu Á.

Ngoài ra, còn có các tổ chức và đơn vị khác:

• Bộ Chỉ Huy Điều phối Nhiên liệu và Nguyên vật liệu Nhật Bản.

• Bộ Chỉ Huy Tìm kiếm và Triển khai trên bộ Nhật Bản.

• Bộ Chỉ Huy Lực lượng Truyền tin Nhật Bản.

• Lực lượng Quân cảnh Nhật Bản.

• Bộ Chỉ Huy Tình báo Quân sự Nhật Bản.

• Bộ Chỉ Huy Phòng vệ Tình báo Nhật Bản (bảo vệ và phản gián).

• Trường Cao đẳng đào tạo sĩ quan tham mưu Lục quân Nhật Bản.

• Trường tuyển chọn và đào tạo sĩ quan Lục quân Nhật Bản.

Phân bố của 5 quân đoàn Nhật Bản, tương ứng với 5 quân khu

JGSDF 2nd Division.svg Sư đoàn 2 Bộ binh, đóng tại trại Asahikawa, Asahikawa; chịu trách nhiệm phòng thủ Tây Bắc Hokkaido.
JGSDF 5th Brigade.svg Lữ đoàn 5 Bộ binh, đóng tại trại Obihiro, Obihiro; chịu trách nhiệm phòng thủ Đông Bắc Hokkaido.
JGSDF 7th Division.svg Sư đoàn 7 Thiết giáp, đóng tại trại Higashi Chitose, Chitose; chịu trách nhiệm phòng thủ Nam Hokkaido.
JGSDF 11th Brigade.svg Lữ đoàn 11 Bộ binh, đóng tại trại Makomanai, Sapporo; chịu trách nhiệm phòng thủ Tây Nam Hokkaido.
• Lữ đoàn 1 Pháo binh, đóng tại trại Kita Chitose ở Chitose.
• Lữ đoàn 1 Phòng không, đóng tại trại Higashi Chitose gồm Liên đoàn 1 đóng tại trại Higashi Chitose và Liên đoàn 4 đóng tại trại Nayoro ở Nayoro (trang bị Hệ thống tên lửa MIM-23 Hawk).
• Lữ đoàn Huấn luyện Quân khu Phương Bắc, đóng tại trại Higashi Chitose.
• Trung đội Công binh, đóng tại trại Minami Eniwa, Eniwa.
• Đơn vị tác chiến điện tử số 1, đóng tại Higashi Chitose.
• Liên đoàn Truyền tin Quân khu Phương Bắc, đóng tại trại Sapporo.
• Liên đoàn Không vận Quân khu Phương Bắc, đóng tại trại Okadama, Sapporo.
• Liên đoàn Hỗ trợ Hậu cần Quân khu Phương Bắc, đóng tại trại Shimamatsu, Eniwa.
• Phân đội Tài chính Quân khu Phương Bắc, đóng tại trại Sapporo.
• Phân đội Quân y Quân khu Phương Bắc, đóng tại trại Makomanai.
• Cục Tình báo Quân khu Phương Bắc, đóng tại trại Sapporo.
• Ban quân nhạc Quân khu Phương Bắc, đóng tại trại Makomanai.
• Bộ chỉ huy công tác huấn luyện hỗ trợ Quân khu Phương Bắc, đóng tại trại Higashi Chitose.
• Đại đội Đất đối Hạm và Chống Chiến Xa Quân khu Phương Bắc, đóng tại trại Kutchan, Kutchan (trang bị Hệ thống tên lửa đa năng Type 96).
• Tổng kho Tiếp liệu và Tiếp vận, yểm trợ Hậu cần Hokkaidõ, đặt ở trại Shimamatsu, chứa hơn 100.000 tấn đạn dược và nhiên liệu cung cấp cho Quân khu Phương Bắc.
JGSDF 6th Division.svg Sư đoàn 6 Bộ binh, đóng tại Higashine, chịu trách nhiệm phòng thủ các tỉnh: Fukushima, Miyagi, Yamagata.
JGSDF 9th Division.svg Sư đoàn 9 Bộ binh, đóng tại Aomori, chịu trách nhiệm phòng thủ các tỉnh: Akita, Aomori, Iwate.
• Lữ đoàn 2 Công binh, đóng tại Shibata.
• Lữ đoàn Huấn luyện Quân khu Đông Bắc, đóng tại Sendai.
• Đơn vị Pháo binh Đông Bắc gồm Trung đoàn 4 Tên lửa Mặt đất, đóng tại Hachinohe (trang bị Tên lửa Đất đối Hạm Type-88) và Tiểu đoàn 130 Pháo binh, đóng tại Sendai (trang bị Hệ thống pháo phản lực đa năng M270).
• Liên đoàn 5 Phòng không, đóng ở trại Hachinohe (trang bị Hệ thống Tên lửa MIM-23 Hawk).
• Liên đoàn Truyền tin Quân khu Đông Bắc, đóng tại Sendai.
• Liên đoàn Không vận Quân khu Đông Bắc, đóng tại Sendai.
• Liên đoàn Hỗ trợ Hậu cần Quân khu Đông Bắc, đóng tại Sendai.
• Phân đội Tài chính Quân khu Đông Bắc, đóng tại Sendai.
• Phân đội Quân y Quân khu Đông Bắc, đóng tại Sendai.
• Cục Tình báo Quân khu Đông Bắc, đóng tại Sendai.
• Ban quân nhạc Quân khu Đông Bắc, đóng tại Sendai.
• Bộ chỉ huy công tác huấn luyện hỗ trợ Quân khu Đông Bắc, đóng tại Sendai.
• Tổng kho Tiếp liệu và Tiếp vận, yểm trợ Hậu cần Tõhoku, đóng tại Sendai, có chứa hơn 70.000 tấn đạn dược và nhiên liệu cung cấp cho Quân khu Đông Bắc.
JGSDF 1st Division.svg Sư đoàn 1 Bộ binh, đóng tại trại Nerima, Nerima, chịu trách nhiệm phòng thủ Thủ đô Tokyo và các tỉnh: Chiba, Ibaraki, Kanagawa, Saitama, ShizuokaYamanashi.
JGSDF 12th Brigade.svg Lữ đoàn 12 Bộ binh (Đột kích không vận), đóng tại trại Soumagahara, Shintō, chịu trách nhiệm phòng thủ các tỉnh: Gunma, Nagano, NiigataTochigi.
• Lữ đoàn 1 Công binh, đóng tại trại Koga, Koga.
• Lữ đoàn Huấn luyện Quân khu Phương Đông, đóng tại trại Takeyama, Yokosuka.
• Liên đoàn 2 Phòng không, đóng tại trại Matsudo, Matsudo (trang bị Hệ thống tên lửa Type 3 Chũ-SAMs).
• Liên đoàn Truyền tin Quân khu Phương Đông, đóng tại trại Asaka.
• Liên đoàn Không vận Quân khu Phương Đông, đóng tại trại Tachikawa, Tachikawa.
• Liên đoàn Hỗ trợ Hậu cần Quân khu Phương Đông, đóng tại trại Asaka.
• Phân đội Tài chính Quân khu Phương Đông, đóng tại trại Asaka.
• Phân đội Quân y Quân khu Phương Đông, đóng tại trại Asaka.
• Cục Tình báo Quân khu Phương Đông, đóng tại trại Asaka.
• Ban quân nhạc Quân khu Phương Đông, đóng tại trại Asaka.
• Bộ chỉ huy công tác huấn luyện hỗ trợ Quân khu Phương Đông, đóng tại trại Asaka.
• Tổng kho Tiếp liệu và Tiếp vận, yểm trợ Hậu cần Kantõ, đóng tại trại Kasumigaura, Tsuchiura, có chứa hơn 150.000 tấn đạn dược và nhiên liệu cung cấp cho Quân khu Phương Đông.
JGSDF 3rd Division.svg Sư đoàn 3 Bộ binh, đóng tại Itami, chịu trách nhiệm phòng thủ các tỉnh: Hyōgo, Kyōto, Nara, Ōsaka, ShigaWakayama.
JGSDF 10th Division.svg Sư đoàn 10 Bộ binh, đóng tại Nagoya, chịu trách nhiệm phòng thủ các tỉnh: Aichi, Fukui, Gifu, Ishikawa, MieToyama.
JGSDF 13th Brigade.svg Lữ đoàn 13 Bộ binh, đóng tại Kaita, chịu trách nhiệm phòng thủ khu vực Chūgoku.
JGSDF 14th Brigade.svg Lữ đoàn 14 Bộ binh, đóng tại Zentsūji, chịu trách nhiệm phòng thủ khu vực Shikoku.
• Lữ đoàn 4 Công binh, đóng tại Uji.
• Liên đoàn 8 Phòng không, đóng tại Ono (trang bị Hệ thống tên lửa Type 3 Chũ-SAMs).
• Lữ đoàn Huấn luyện Quân khu Trung tâm, đóng tại Ostu.
• Liên đoàn Truyền tin Quân khu Trung tâm, đóng tại Itami.
• Liên đoàn Không vận Quân khu Trung tâm, đóng tại Yao.
• Liên đoàn Hỗ trợ Hậu cần Quân khu Trung tâm, đóng tại Kyoto.
• Phân đội Quân y Quân khu Trung tâm đóng tại trại Itami.
• Tiểu đoàn Tình báo Quân khu Trung tâm, đóng tại trại Itami.
• Tổng kho Tiếp liệu và Tiếp vận, yểm trợ Hậu cần Kansai, đóng tại Uji, có chứa hơn 80.000 tấn đạn dược và nhiên liệu cung cấp cho Quân khu Trung tâm.
JGSDF 4th Division.svg Sư đoàn 4 Bộ binh, đóng tại Kasuga, chịu trách nhiệm phòng thủ các tỉnh: Fukuoka, Nagasaki, ŌitaSaga.
JGSDF 8th Division.svg Sư đoàn 8 Bộ binh, đóng tại Kumamoto, chịu trách nhiệm phòng thủ các tỉnh: Kagoshima, KumamotoMiyazaki.
JGSDF 15th Brigade.svg Lữ đoàn 15 Bộ binh, đóng tại Naha, chịu trách nhiệm phòng thủ tỉnh Okinawa.
• Trung đoàn Bộ binh Phía Tây (Thủy Quân Lục Chiến Nhật Bản), đóng tại Sasebo.
• Lữ đoàn 5 Công binh, đóng tại Ogõri.
• Lữ đoàn Huấn luyện Quân khu Phương Tây, đóng tại Sasebo.
• Lữ đoàn 2 Phòng không, đóng tại Iizuka gồm Liên đoàn 3 đóng tại Iizuka và Liên đoàn 7 đóng tại Õmura (trang bị Hệ thống tên lửa MIM-23 Hawk).
• Lực lượng Pháo binh Quân khu Phương Tây gồm Trung đoàn 5 Tên lửa chống Hạm, đóng tại Kumamoto (trang bị Hệ thống tên lửa đối hạm Type 88) và Tiểu đoàn 112 Pháo tự hành (trang bị pháo tự hành M110), Tiểu đoàn 132 Pháo phản lực (trang bị Hệ thống pháo phản lực đa năng M270), cả 2 đều đóng ở Yufu.
• Liên đoàn Truyền tin Quân khu Phương Tây, đóng tại Kumamoto.
• Liên đoàn Không vận Quân khu Phương Tây, đóng tại Mashiki.
• Liên đoàn Hỗ trợ Hậu cần Quân khu Phương Tây, đóng tại Yoshinogari.
• Phân đội Quân y Quân khu Phương Đông, đóng tại trại Kumamoto.
• Tiểu đoàn Tình báo Quân khu Phương Tây, đóng tại trại Kumamoto.
• Tổng kho Tiếp liệu và Tiếp vận, yểm trợ Hậu cần Kyũshũ, đóng tại Yoshinogari, có chứa hơn 200.000 tấn đạn dược và nhiên liệu cung cấp cho Quân khu Phương Tây.

Cấp bậc[sửa | sửa mã nguồn]

Trưởng lục tướng hay đầy đủ là Thống hiệp Lục thượng Mạc liêu Trưởng lục tướng (統合・陸上幕僚・長陸将) là danh xưng cấp bậc dành riêng cho Tham mưu trưởng Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản, không phải quân hàm chính thức, nhưng được sử dụng như cấp hiệu riêng phân biệt, tương đương cấp bậc Đại tướng 4 sao của Mỹ. Chính thức, thì cấp bậc Lục tướng là quân hàm cao nhất của Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản, tương đương cấp bậc Trung tướng ở các quốc gia khác. Dưới cấp Lục tướng là cấp bậc Lục tướng hổ, được chia thành Nhất đẳng Lục tướng hổ (tương đương Thiếu tướng) và Nhị đẳng Lục tướng hổ (tương đương Chuẩn tướng), nhưng sử dụng cùng một cấp hiệu.

Chuẩn lục úy là cũng là cấp bậc không chính thức, dành cho Học viên sĩ quan, tương đương cấp bậc Chuẩn úy.

Sĩ quan & Học viên sĩ quan
(幹部・准尉)
Cấp bậc Trưởng
lục tướng
(幕僚長)
Lục tướng
(陸将)
Lục tướng
hỗ
(陸将補)
Nhất đẳng
Lục tá
(1陸佐)
Nhị đẳng
Lục tá
(2陸佐)
Tam đẳng
Lục tá
(3陸佐)
Nhất đẳng
Lục úy
(1陸尉)
Nhị đẳng
Lục úy
(2陸尉)
Tam đẳng
Lục úy
(3陸尉)
Chuẩn
lục úy
(准陸尉)
Loại A
(甲階級章)
JGSDF General insignia (a).svg JGSDF Lieutenant General insignia (a).svg JGSDF Major General insignia (a).svg JGSDF Colonel insignia (a).svg JGSDF Lieutenant Colonel insignia (a).svg JGSDF Major insignia (a).svg JGSDF Captain insignia (a).svg JGSDF First Lieutenant insignia (a).svg JGSDF Second Lieutenant insignia (a).svg JGSDF Warrant Officer insignia (a).svg
Loại B
(乙階級章)
JGSDF General insignia (b).svg JGSDF Lieutenant General insignia (b).svg JGSDF Major General insignia (b).svg JGSDF Colonel insignia (b).svg JGSDF Lieutenant Colonel insignia (b).svg JGSDF Major insignia (b).svg JGSDF Captain insignia (b).svg JGSDF First Lieutenant insignia (b).svg JGSDF Second Lieutenant insignia (b).svg JGSDF Warrant Officer insignia (b).svg
Thu gọn
(略章)
JGSDF General insignia (miniature).svg JGSDF Lieutenant General insignia (miniature).svg JGSDF Major General insignia (miniature).svg JGSDF Colonel insignia (miniature).svg JGSDF Lieutenant Colonel insignia (miniature).svg JGSDF Major insignia (miniature).svg JGSDF Captain insignia (miniature).svg JGSDF First Lieutenant insignia (miniature).svg JGSDF Second Lieutenant insignia (miniature).svg JGSDF Warrant Officer insignia (miniature).svg
Binh sĩ
(曹・士)
Insignia Lục tào
trưởng
(陸曹長)
Nhất đẳng
lục tào
(1陸曹)
Nhị đẳng
lục tào
(2陸曹)
Tam đẳng
lục tào
(3陸曹)
Lục sĩ
trưởng
(陸士 長)
Nhất đẳng
lục sĩ
(1陸士)
Nhị đẳng
lục sĩ
(2陸士)
Loại A
(甲階級章)
JGSDF Sergeant Major insignia (a).svg JGSDF Master Sergeant insignia (a).svg JGSDF Sergeant First Class insignia (a).svg JGSDF Sergeant insignia (a).svg JGSDF Leading Private insignia (a).svg JGSDF Private First Class insignia (a).svg JGSDF Private insignia (a).svg
Loại B
(乙階級章)
JGSDF Sergeant Major insignia (b).svg JGSDF Master Sergeant insignia (b).svg JGSDF Sergeant First Class insignia (b).svg JGSDF Sergeant insignia (b).svg JGSDF Leading Private insignia (b).svg JGSDF Private First Class insignia (b).svg JGSDF Private insignia (b).svg
Thu gọn
(略章)
JGSDF Sergeant Major insignia (miniature).svg JGSDF Master Sergeant insignia (miniature).svg JGSDF Sergeant First Class insignia (miniature).svg JGSDF Sergeant insignia (miniature).svg JGSDF Leading Private insignia (miniature).svg JGSDF Private First Class insignia (miniature).svg JGSDF Private insignia (miniature).svg

Ngân sách Quốc phòng[sửa | sửa mã nguồn]

Các sĩ quan của JGSDF đang quan sát Lực lượng Thủy quân Lục chiến diễn tập tại đảo Okinawa.

Tính đến tháng 10 năm 2016, Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản có 150.000 người trong tổng số 250.000 quân. Với ngân sách Quốc phòng khoảng 41 tỷ USD vào năm 2016 chưa tính chi phí cho quân đội Mỹ ở Nhật, chi phí quân sự của Nhật đứng hàng thứ 7 thế giới, dưới các đồng minh phương Tây như Mỹ - 577 tỷ USD và Anh - 65 tỷ USD hay thấp hơn cả các quốc gia đang có tranh chấp như Nga - 65.6 tỷ USD và Trung Quốc - 146 tỷ USD. Từ năm tài khoá 2002, ngân sách quốc phòng Nhật đã vượt con số 1% GDP, vươn lên là 1 trong 10 quốc gia có chi tiêu cho quân sự nhiều nhất trên thế giới[2].

Binh sĩ Nhật thuộc trung đoàn 20 Bộ binh đang được huấn luyện sử dụng súng trường tấn công Type 89

Hướng phát triển quân đội Nhật chủ yếu tập trung vào giảm quân số nhưng tăng chất lượng, trang thiết bị, tăng khả năng cơ động, mở rộng phạm vi hoạt động của Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản, tăng cường hợp tác với Mỹ đồng thời đẩy nhanh các biện pháp củng cố an ninh, phòng ngừa bị tấn công, đe dọa, công khai về quốc phòng qua các hoạt động, diễn đàn chung về an ninh, giải trừ quân bị, trao đổi quân sự với các nước trong và ngoài khu vực.

Nhật Bản là 1 quần đảo nên việc phòng thủ có nhiều thuận tiện. Từ sau thập niên 90, khi Liên Bang Xô viết sụp đổ thì nguy cơ nước Nhật bị tấn công từ phía Bắc là không còn nhưng tình hình trong vùng vẫn không có gì thay đổi khi họ phải chịu sự đe dọa thường trực của Bắc Hàn và nhất là sự phát triển kinh tế của Trung Quốc trong những năm gần đây đã tạo điều kiện cho chính quyền Bắc Kinh gia tăng năng lực quân sự của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.

Gần đây qua sự mở rộng quân sự công khai của Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa, Lục quân Nhật Bản đã thay đổi chiến lược chuyển sang tấn công chứ không còn giữ thế phòng thủ như trước. Lục quân Nhật được đánh giá là có thực lực hàng đầu trên thế giới.

Huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Binh sĩ Trung đoàn Bộ binh 22 JGSDF tập trận chung với binh sĩ quân đội Mỹ tại Fort Lewis Leschi Town vào tháng 10 năm 2008.

Quân đội Nhật được huấn luyện tốt và có lực lượng huấn luyện hiện đại và tiên tiến. Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản có các trại huấn luyện như Narashino, Nihonbara...

Trang bị[sửa | sửa mã nguồn]

Binh sĩ thuộc Tiểu đoàn 1 Nhảy dù đang thực tập huấn luyện tại trại huấn luyện Narashino ngày 11 tháng 1/2009
Thực tập đổ bộ bằng trực thăng CH-47 tại Narashino

Máy bay[sửa | sửa mã nguồn]

Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản (JGSDF) sử dụng 532 máy bay, gồm 528 chiếc trực thăng.

Máy bay Xuất xứ Kiểu Phiên bản Đang phục vụ Ghi chú
Beechcraft Super King Air  Hoa Kỳ Máy bay tiện tích LR-2 5
Bell 205  Hoa Kỳ Trực thăng tiện tích UH-1H
UH-1J
161 Chế tạo bởi Fuji
Bell AH-1 Cobra  Hoa Kỳ Trực thăng tấn công AH-1S 88 Chế tạo bởi Fuji
Boeing AH-64 Apache  Hoa Kỳ Trực thăng tấn công AH-64DJP 55 Đang chuyển giao
Kawasaki-Vertol 107 Cờ Nhật Bản Nhật Bản Trực thăng vận tải KV-107 18
Boeing CH-47 Chinook  Hoa Kỳ Trực thăng vận tải CH-47J
CH-47JA
61 Chế tạo bởi Kawasaki
Eurocopter Super Puma  Pháp Trực thăng chở VIP AS 332L 3
Eurocopter EC 225  Pháp Trực thăng chở VIP EC 225LP 1 Thay thế cho AS332L[3][4]
Kawasaki OH-1 Cờ Nhật Bản Nhật Bản Trực thăng trinh sát 22 Đang chuyển giao
MD Helicopters MD 500 Cờ Nhật Bản Nhật Bản Trực thăng trinh sát OH-6D
OH-6J
48
115
Chế tạo bởi Kawasaki
Mitsubishi MU-2 Cờ Nhật Bản Nhật Bản Liên lạc LR-1 11
UH-60 Black Hawk  Hoa Kỳ Trực thăng vận tải UH-60JA 23 Chế tạo bởi Mitsubishi

Chiến Xa[sửa | sửa mã nguồn]

Hai người lính thuộc Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản tại trại huấn luyện, tháng 3/2008

Thiết Quân Vận Bộ Binh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Xe chiến đấu bộ binh hạng nhẹ Mitsubishi kiểu 89 Cờ Nhật Bản Nhật Bản
  • Xe thiết giáp bọc thép trinh sát Komatsu kiểu 87 Cờ Nhật Bản Nhật Bản
  • Xe thiết giáp bọc thép chở quân Komatsu kiểu 96 Cờ Nhật Bản Nhật Bản

Xe các loại khác[sửa | sửa mã nguồn]

Pháo mặt đất[sửa | sửa mã nguồn]

Các binh sĩ Nhật tại trại huấn luyện-tháng 2/2008

Thiết bị Phòng không[sửa | sửa mã nguồn]

Vũ khí cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Binh sĩ Nhật thuộc Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản thực hành cấp cứu cho thương binh tại Trại Huấn luyện khu vực Nihonbara, Nihonbara, Nhật Bản, tháng 11/2007

Vũ khí chống tăng[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]