Quân đội Nhân dân Triều Tiên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quân đội Nhân dân Triều Tiên
Chosŏn inmin'gun
(조선인민군)
NKPA soldiers DD-SD-00-01441.jpg

Binh lính Triều Tiên tại Khu phi quân sự Triều Tiên (K-DMZ) năm 1998
Quân chủng Quân kỳ Lục quân Quân đội Nhân dân Triều Tiên Lục quân

Quân kỳ Hải quân Quân đội Nhân dân Triều Tiên Hải quân
Quân kỳ của Không quân Quân đội Nhân dân Triều Tiên Không quân

  • Tên lửa đạn đạo
  • Đặc công
Lãnh đạo
Tổng tư lệnh tối cao Nguyên soái Kim Jong Un
Bộ trưởng quốc phòng Phó nguyên soái Pak yong-sik
Tổng tham mưu trưởng Phó nguyên soái Hyon Yong Chol
Lực lượng
Hiện dịch 1,106,000[1] (2010) (xếp thứ 4)
Trừ bị 8,200,000 (2010) (xếp thứ 2)
Chi tiêu
Ngân sách $5–10 tỷ[2][3]
 % GDP ~25% (năm 2010)
Các bài có liên quan
Lịch sử Chiến tranh Triều Tiên
Quân đội Nhân dân Triều Tiên
Chosŏn'gŭl 조선인민군
Hancha 朝鮮人民軍
Romaja quốc ngữ Joseon Inmingun
McCune–Reischauer Chosŏn Inmingun

Quân đội Nhân dân Triều Tiên là lực lượng quân sự của Triều Tiên, gồm năm nhánh: Lục quân, Hải quân, Không quân, Tên lửa đạn đạo và Đặc công. Đây được xem là một trong những lực lượng quân đội đông nhất thế giới, đứng thứ 4 trên thế giới về quân số, với khoảng 1,1 triệu người trong lực lượng chính quy.[4] Nó cũng có một lực lượng dự bị khoảng 8 triệu người. Ngân sách quốc phòng của Triều Tiên ước tính vào khoảng là 5,217 tỉ USD (2002), ước tính chiếm khoảng 22,9% GDP (2003).

Với chính sách ưu tiên hàng đầu cho quân sự, quân đội Triều Tiên không chỉ sở hữu một quân đội với quân số hùng hậu mà họ còn có trong trang bị rất nhiều vũ khí hiện đại. Hiện tại, kho vũ khí của Triều Tiên phần lớn là các vũ khí từ thập niên 1970-1980, tuy nhiên, để chống lại chiến trang công nghệ cao của Mỹ, Triều Tiên đã đầu tư nghiên cứu các loại vũ khí công nghệ cao và phát triển kỹ thuật đánh lạc hướng điện tử như thiết bị làm nhiễu, sơn tàng hình, tàu ngầm nhỏ, vũ khí sinh học, hệ thống laser chống người...

Tổng tư lệnh tối cao của Quân đội Nhân dân Triều Tiên là Kim Jong-un, Đại Nguyên Soái, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng, Chủ tịch Quân ủy TW

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền thân của Quân đội Nhân dân Triều Tiên là lực lượng Quân Tình nguyện Triều Tiên, các lực lượng du kích chống đế quốc Nhật, những cựu chiến sĩ người Triều Tiên phục vụ trong Hồng quân của Liên XôHồng quân Công Nông của Trung Quốc thời Mao Trạch Đông. Một trong những nhà lãnh đạo của lực lượng du kích là Kim Nhật Thành, người đã tập hợp một nhóm khoảng 300 lính du kích Triều Tiên hoạt động chống phát xít Nhật ở Mãn Châu. Năm 1978, Kim Nhật Thành, lúc này là lãnh tụ tối cao của Triều Tiên, đã ra sắc lệnh đổi "Ngày thành lập Quân đội" từ ngày 8 tháng 2 thành ngày 25 tháng 4 - là ngày thiết lập lực lượng quân đội du kích chống Nhật năm 1932.

Quân đội Nhân dân Triều Tiên được thành lập chính thức vào ngày 8 tháng 2 năm 1948 và nhận được sự giúp đỡ về trang bị của Liên Xô.

Lực lượng[sửa | sửa mã nguồn]

Quân nhân Quân đội Nhân dân Triều Tiên đang gác tại Bàn Môn Điếm.

Giống như quân đội Liên Xô trước đây, quân đội Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên được cấu thành từ 4 bộ phận, trong đó chú trọng phát triển Lục quân, một phần vũ khí đặc biệt, trong khi đó phòng không không quân và hải quân không được phát triển tương xứng.

Lục quân[sửa | sửa mã nguồn]

Lục quân CHDCND Triều Tiên gồm 924 nghìn người, chiếm 90% quân số toàn quân đội, biên chế thành 153 đơn vị cấp sư đoàn và lữ đoàn với 4 binh chủng:

- Binh chủng bộ binh (60 sư đoàn bộ binh thường, 25 sư đoàn bộ binh cơ giới)

- Binh chủng thiết giáp: 25 lữ đoàn với vài trăm T-34, 2.200 T-54/T-55/T-59, 800 T-62, khoảng 1.000 chiếc Thiên mã hổ (phiên bản T-62 do Triều Tiên tự sản xuất) khoảng 300 chiếc Bão phong hổ (Triều Tiên tự sản xuất dựa trên T-72), và 2.270 xe thiết giáp.

- Binh chủng pháo binh: 30 lữ đoàn với 33 nghìn pháo mặt đất và pháo phòng không các loại. Ngoài ra còn có hàng nghìn đơn vị tên lửa vác vai và xe tên lửa loại SA-7, SA-14, SA-16 do Liên Xô cung cấp.

- Lực lượng vũ khí đặc biệt: cấu thành từ 2 bộ phận: tác chiến và phòng chống chiến tranh hóa học; Tác chiến và phòng chống chiến tranh sinh học. Hiện nay bộ phận này có hàng nghìn đạn pháo mang tác nhân sinh hóa, cũng như nhiều vũ khí sinh hóa có khả năng hủy diệt hàng loạt.

Chỉ cách khu giới tuyến phi quân sự (DMZ) khoảng 40 km, thủ đô Seoul của Hàn Quốc là mục tiêu lý tưởng cho những cuộc pháo kích từ Triều Tiên. Vì vậy, pháo binh Triều Tiên được quan tâm đầu tư mạnh mẽ, sở hữu tới 21.100 hệ thống pháo mặt đất. Chuyên gia quân sự Victor Cha và David Kang cho rằng với số pháo hùng hậu này, Triều Tiên đủ sức bắn nửa triệu quả đạn vào Seoul chỉ trong một giờ. Nổi bật trong số các loại pháo Bình Nhưỡng đang biên chế là M1978 Koksan. M1978 có tầm bắn lên đến 40 km với đạn thông thường hoặc 60 km với đạn tăng tầm.

Pháo phản lực 40 nòng 122 ly BM-21, Triều Tiên đã tự sản xuất dựa trên công nghệ của Nga

Yếu tố quan trọng khác của pháo binh Triều Tiên nằm ở hệ thống pháo phản lực bắn loạt (MLRS). Lực lượng này có khả năng phóng nhiều quả đạn trong thời gian rất ngắn, trong khi khả năng cơ động rất cao (ví dụ như loại BM-21, mỗi hệ thống với 6 xe phóng có thể phóng tới 240 quả đạn trong 20 giây, sau đó di chuyển sang nơi khác để tránh bị đối phương bắn trả). Triều Tiên đã tự phát triển nhiều pháo phản lực phóng loạt với cỡ nòng từ 107mm đến 300mm, tầm bắn xa và sức công phá mạnh hơn pháo xe kéo thông thường. Theo ước tính, Triều Tiên có khoảng gần 5.000 bệ phóng pháo phản lực bắn loạt, khoảng 2/3 số đó bố trí sát biên giới, có thể nã khoảng 100.000 quả đạn lên lãnh thổ Hàn Quốc trong chưa đầy 1 phút. Tuy không có độ chính xác cao như pháo thông thường nhưng với tốc độ bắn cực nhanh kiểu "rải trấu", pháo phản lực phóng loạt rất lợi hại khi tấn công mục tiêu trên diện rộng như đô thị hoặc doanh trại, gây sốc và tàn phá diện rộng cho đối phương. Đây được đánh giá là vũ khí được triển khai đầu tiên nếu có chiến tranh nổ ra trên bán đảo Triều Tiên.

Khả năng tác chiến của pháo binh Triều Tiên đã được kiểm nghiệm trong trận đấu pháo ở đảo Yeonpyeong năm 2010. Trong một thời gian ngắn chưa đầy 1 phút, pháo phản lực bắn loạt của Triều Tiên đã bắn khoảng 108 quả đạn, đánh trúng chính xác các mục tiêu của Hàn Quốc trên hòn đảo, khiến 2 khẩu pháo tự hành loại hiện đại là K-9 Thunder cỡ 155mm của Hàn Quốc bị hư hại, 2 lính chết và 19 bị thương. Choáng váng vì đòn pháo kích của Triều Tiên, 3 khẩu pháo K-9 khác của Hàn Quốc phải mất 13 phút để khởi động radar điều khiển nhằm bắn trả lại, nhưng tất cả đạn pháo đều trượt mục tiêu do pháo của Triều Tiên đã cơ động sang một trận địa khác.

Để phòng tránh việc bị tên lửa hành trình hoặc máy bay ném bom của Mỹ tấn công, tất cả các hệ thống pháo binh, các căn cứ, kho đạn của Tiều Tiên đều được ngụy trang và giấu kín trong những hầm ngầm kiên cố, rất khó bị đối phương phát hiện và luôn trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu tốt. Kể cả khi bị phát hiện thì với độ sâu hàng chục mét tới hàng trăm mét của các hầm ngầm, việc tiêu diệt chúng bằng tên lửa hành trình hoặc máy bay ném bom cũng là điều rất khó khăn

Phòng không - Không quân[sửa | sửa mã nguồn]

Lực lượng phòng không không quân kể từ đầu 1990 được thống nhất về một mối dưới sự chỉ huy của Bộ tư lệnh Không quân quốc gia với 3 cụm tác chiến phòng không không quân hợp thành (gồm các đơn vị rada, tên lửa, trinh sát, tiêm kích, ném bom, vận tải...)

- Sở chỉ huy không chiến số 1 đóng tại Kaech'n (phòng thủ khu vực biên giới Tây-Bắc giáp TQ, biển Hoàng Hải, quân khu Bình Nhưỡng, được trang bị phần lớn tiêm kích đánh chặn MiG-29)

- Sở chỉ huy không chiến số 2 tại Tocksan (phòng thủ vùng biển Nhật Bản và biên giới với Nga)

- Sở chỉ huy không chiến số 3 đóng tại Hwangju (giáp khu phi quân sự)

Hải quân[sửa | sửa mã nguồn]

Lực lượng hải quân biên chế thành 2 hạm đội: Hạm đội Hoàng hải gồm 300 tàu chiến các loại, Hạm đội Đông hải có 470 tàu. Vũ khí đa phần do Liên Xô, Trung Quốc viện trợ và một phần tự chế tạo (trước 1990).

Gần đây, Triều Tiên đã nâng cấp hải quân bằng việc phát triển các vũ khí mới. Đầu năm 2015, Hải quân Triều Tiên đã trang bị tên lửa hành trình chống hạm thế hệ mới do nước này tự sản xuất dựa trên loại Kh-35 (3M-24) Uran-E của Nga với tầm bắn vào khoảng 250 km. Hôm 23/4/2016, Triều Tiên đã phóng một tên lửa đạn đạo từ tàu ngầm lớp Sinpo nặng 2.000 tấn, cho thấy họ đã đạt được nhiều tiến bộ trong việc phát triển công nghệ tên lửa phóng từ tàu ngầm.

Triều Tiên cũng đang phát triển một loại tàu ngầm có choán nước lên tới 3.000 tấn, có thể phóng 3 tên lửa đạn đạo

Tên lửa đạn đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù không có nhiều vũ khí hiện đại, nhưng Triều Tiên chú trọng phát triển hệ thống tên lửa đạn đạo để tạo thành nền tảng vũ khí chiến lược răn đe. Sức mạnh quân sự càng củng cố thêm khi Triều Tiên được ước đoán có khoảng 84 tên lửa đạn đạo tầm trung, tầm xa có khả năng mang đầu đạn hạt nhân, mà phần lớn trong đó là tự chế tạo.

Tên lửa Loại Quốc gia sản xuất Phạm vi hỏa lực Số lượng
FROG-7 Tên lửa đất đối đất  Liên Xô 70 km 24 quả
KN-1 Tên lửa chống hạm  CHDCND Triều Tiên 110[5] - 160 km[6][7][8]  ?
KN-2 Toksa Tên lửa đạn đạo tầm ngắn (SRBM) cải tiến  CHDCND Triều Tiên 120 – 140 km[9] 30 quả
Hwasong-5 SRBM  CHDCND Triều Tiên 330 km ~180
Hwasong-6 SRBM  CHDCND Triều Tiên 700 km >700[10]
Scud-ER 1 SRBM  CHDCND Triều Tiên 800 km  ?
Rodong-1 Tên lửa đạn đạo tầm trung (MRBM)  CHDCND Triều Tiên 1,300 km >200[11]
Rodong-2 MRBM  CHDCND Triều Tiên 2,000 km 50 ?[12]
Taepodong-1 MRBM  CHDCND Triều Tiên 2,500 km 10[13] hoặc 25-30[14]
Taepodong-2 Tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM)  CHDCND Triều Tiên tăng tầm đến 10,000 km; 6,700 km trung bình[15][16][17]  ?
BM25 Tên lửa đạn đạo tầm trung cơ động (IRBM), nhái R-27 Zyb  CHDCND Triều Tiên +2,500 km  ?
Musudan-1 Tên lửa đạn đạo liên lục địa phóng từ tàu ngầm (SLBM), nhái R-27 Zyb  CHDCND Triều Tiên 4,000 km  ?
Phạm vi hỏa lực của hệ thống tên lửa đạn đạo Triều Tiên

Đặc công, đặc nhiệm[sửa | sửa mã nguồn]

Với việc phải chuẩn bị tác chiến với một đối thủ mạnh hơn rất nhiều về trang bị là quân đội Mỹ, Triều Tiên đặc biệt quan tâm phát triển lực lượng đặc nhiệm, nhằm sử dụng ưu thế huấn luyện và kỹ năng tác chiến để bù đắp cho sự yếu thế hơn về trang bị. Cục Huấn luyện Bộ binh hạng nhẹ Triều Tiên đóng vai trò tương tự Bộ Tư lệnh đặc biệt Mỹ (SOCOM), là cơ quan chịu trách nhiệm phối hợp các đơn vị đặc nhiệm của nước này.

Năm 2015, lực lượng đặc công Triều Tiên có hơn 25 lữ đoàn, với hơn 18 vạn binh sĩ, chủ yếu bố trí ở gần khu vực phi quân sự. Có thể nói Triều Tiên có tỷ lệ quân tinh nhuệ vào loại cao nhất thế giới. Đội quân này được ví là "con dao nhọn" của quân đội Triều Tiên.

Triều Tiên có khoảng 8 lữ đoàn bắn tỉa, gồm Lữ đoàn số 17, 60 và 61 biên chế cho lục quân, Lữ đoàn số 11, 16 và 21 của không quân và Lữ đoàn số 29 và 291 trực thuộc hải quân. Mỗi đơn vị có quân số 3.500 người, được tổ chức thành 7-10 tiểu đoàn bắn tỉa, có vai trò tương tự đặc nhiệm Ranger và SEAL của Mỹ. Khác với đặc nhiệm Mỹ, các lữ đoàn này có thể tác chiến như lực lượng đổ bộ đường không và hải quân đánh bộ thông thường.

Cục Trinh sát Triều Tiên được biên chế thành 4 tiểu đoàn trinh sát độc lập. Mỗi tiểu đoàn gồm 500 quân có nhiệm vụ tiên phong dẫn đầu một quân đoàn băng qua khu DMZ nguy hiểm. Họ đều là những quân nhân am hiểu vị trí phòng thủ của hai phía tại khu phi quân sự. Một tiểu đoàn thứ 5 được cho là chuyên tổ chức các chiến dịch ở nước ngoài.

Về vũ khí, lực lượng đặc biệt của Triều Tiên không sánh được so với một số nước phát triển, nhưng vũ khí tinh thần của đội quân này thì rất mạnh. Các thành viên của lực lượng đặc biệt Triều Tiên được đào tạo về chính trị rất cao và được huấn luyện những nội dung đặc biệt giúp họ trở thành những người có bản lĩnh kiên cường, có kỹ năng quân sự đặc biệt.

Cấu trúc[sửa | sửa mã nguồn]

Rút kinh nghiệm từ các cuộc chiến tranh Việt Nam, Israel-Ả rập, Bắc Triều Tiên tập trung phát triển các quân đoàn cơ động tại vùng biên giới với Hàn Quốc, đặc biệt là lực lượng đặc công.

Qua các cuộc chiến gần đây như Iraq, Nam Tư, CHDCND Triều Tiên cũng tăng cường xây dựng các hệ thống hầm ngầm kiên cố nhằm bảo vệ quân đội trước các cuộc tập kích có sức phá hủy lớn.

Hệ thống quân hàm[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống cấp bậc quân hàm của Quân đội Nhân dân Triều Tiên được thành lập ngày 8 tháng 2 năm 1948, tham chiếu hầu như hoàn toàn hệ thống quân hàm của Hồng quân Liên Xô, có bổ sung thêm, gồm 5 nhóm với 18 bậc quân hàm nhưng không đặt quân hàm cấp soái. Đến tháng 2 năm 1953, đặt thêm 2 cấp quân hàm là Nguyên soái và Thứ soái (còn gọi là Phó nguyên soái). Cấp bậc Nguyên soái Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Chosŏn Minjujuŭi Inmin Konghwaguk Wonsu) phong cho Kim Nhật Thành với vị thế thống soái các lực lượng vũ trang giống như Đại Nguyên soái Stalin của Liên Xô. Cấp bậc Thứ soái (Chasu) phong cho Bộ trưởng Quốc phòng Choi Yong Kun, tương đương với cấp bậc Nguyên soái Liên Xô. Đặc thù hệ thống quân hàm của Quân đội Nhân dân Triều Tiên có một vài sự khác biệt về tên gọi giữa các nhánh Hải Quân so với nhánh Lục Không quân về tên gọi.

Năm 1992, nhân dịp sinh nhật 80 tuổi của Kim Nhật Thành, một cấp bậc mới được đặt ra có tên gọi là Đại Nguyên soái Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Chosŏn Minjujuŭi Inmin Konghwaguk Dae Wonsu) để tôn phong cho ông. Đồng thời con trai ông, Kim Chính Nhật, cũng được tôn phong là Nguyên soái Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Chosŏn Minjujuŭi Inmin Konghwaguk Wonsu). Bộ trưởng Quốc phòng bấy giờ là O Chin-u cũng được tôn lên cấp bậc Nguyên soái, nhưng với tên gọi Nguyên soái Quân đội Nhân dân Triều Tiên (Chosŏn Inmin'gun Wonsu).

Hạng
cấp
Chữ
Triều Tiên
Phiên âm Nghĩa Việt
tương đương
Cấp hiệu Phân hạng
NATO
Cấp
soái
대원수 Dae Wonsu Đại Nguyên soái Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên
Generalissimo rank insignia (North Korea).svg
OF-10
공화국원수 Konghwaguk Wonsu Nguyên soái Nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên
Marshal of the DPRK rank insignia.svg
인민군원수 Inmin'gun Wonsu Nguyên soái Quân đội Nhân dân Triều Tiên
Marshal of the KPA rank insignia.svg
차수 Chasu Phó nguyên soái Quân đôi Nhân dânTriều Tiên
Vice-Marshal rank insignia (North Korea).svg
Quân hàm quân chủng Lục quân Hải quân Không quân
Cấp
tướng
대장 Daejang Đại tướng Quân đội Nhân dân Triều Tiên(Thuỷ sư Đô đốc Hãi quân Triều Tiên) General of the Army rank insignia (North Korea).svg Fleet Admiral rank insignia (North Korea).svg General of the Air Force rank insignia (North Korea).svg OF-9
상장 Sangjang Thượng tướng Quân đội Nhân dân Triều Tiên(Đô đốc Hải quân Triều Tiên) Colonel General rank insignia (North Korea).svg Admiral rank insignia (North Korea).svg Colonel General of the Air Force rank insignia (North Korea).svg OF-8
중장 Chungjang Trung tướng Quân đội Nhân dân Triều Tiên(Phó Đô đốc Hải quân Triều Tiên) Lieutenant General rank insignia (North Korea).svg Vice Admiral rank insignia (North Korea).svg Lieutenant General of the Air Force rank insignia (North Korea).svg OF-7
소장 Sojang Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Triều Tiên(Chuẩn Đô đốc Hải quân Triều Tiên) Major General rank insignia (North Korea).svg Rear Admiral rank insignia (North Korea).svg Major General of the Air Force rank insignia (North Korea).svg OF-6
Cấp
대좌 Taejwa Đại tá Senior Colonel rank insignia (North Korea).svg Commodore rank insignia (North Korea).svg Senior Colonel of the Air Force rank insignia (North Korea).svg OF-5
상좌 Sangjwa Thượng tá Colonel rank insignia (North Korea).svg Senior Captain rank insignia (North Korea).svg Colonel of the Air Force rank insignia (North Korea).svg
중좌 Chungjwa Trung tá Lieutenant Colonel rank insignia (North Korea).svg Captain rank insignia (North Korean Navy).svg Lieutenant Colonel of the Air Force rank insignia (North Korea).svg OF-4
소좌 Sojwa Thiếu tá Major rank insignia (North Korea).svg Commander rank insignia (North Korea).svg Major of the Air Force rank insignia (North Korea).svg OF-3
Cấp
úy
대위 Taewi Đại úy Captain rank insignia (North Korea).svg Lieutenant Commander rank insignia (North Korea).svg Captain of the Air Force rank insignia (North Korea).svg OF-2
상위 Sangwi Thượng úy Senior Lieutenant rank insignia (North Korea).svg Lieutenant rank insignia (North Korean Navy).svg Senior Lieutenant of the Air Force rank insignia (North Korea).svg OF-1
중위 Chungwi Trung úy Lieutenant rank insignia (North Korea).svg Lieutenant Junior Grade rank insignia (North Korea).svg Lieutenant of the Air Force rank insignia (North Korea).svg
소위 Sowi Thiếu úy Junior Lieutenant rank insignia (North Korea).svg Ensign rank insignia (North Korea).svg Junior Lieutenant of the Air Force rank insignia (North Korea).svg
Bậc
hạ sĩ quan
특무상사 T'ŭngmu-sangsa Thượng sĩ cao cấp(Thuỷ sư thượng sĩ Hải quân Triều Tiên) Chief Master Sergeant rank insignia (North Korea).svg Chief Petty Officer rank insignia (North Korea).svg Master Aircrew rank insignia (North Korea).svg OR-8
상사 Sangsa Thượng sĩ Senior Sergeant rank insignia (North Korea).svg Petty Officer First Class rank insignia (North Korea).svg Flight Sergeant rank insignia (North Korea).svg OR-7
중사 Chungsa Trung sĩ nhất/Trung sĩ cao cấp Sergeant rank insignia (North Korea).svg Petty Officer Second Class rank insignia (North Korea).svg Sergeant rank insignia (North Korean Air Force).svg OR-6
하사 Hasa Trung sĩ tham mưu/Trung sĩ trung cấp Junior Sergeant rank insignia (North Korea).svg Petty Officer Third Class rank insignia (North Korea).svg Junior Sergeant rank insignia (North Korean Air Force).svg OR-5
Bậc
binh sĩ
상급병사 Sanggŭp-pyŏngsa Nhất chiến sĩ thượng cấp/Trung sĩ Senior Corporal rank insignia (North Korea).svg Able Seaman rank insignia (North Korea).svg Corporal rank insignia (North Korean Air Force).svg OR-4
중급병사 Chunggŭp-pyŏngsa Nhất chiến sĩ trung cấp/Hạ sĩ Corporal rank insignia (North Korea).svg Seaman rank insignia (North Korea).svg Senior Aircraftman rank insignia (North Korea).svg OR-3
초급병사 Hagŭp-pyŏngsa Nhất chiến sĩ sơ cấp/Binh nhất Lance Сorporal rank insignia (North Korea).svg Seaman Apprentice rank insignia (North Korea).svg Leading Aircraftman rank insignia (North Korea).svg OR-2
전사 Chŏnsa Chiến sĩ/Binh nhì(Thuỷ thủ) Private rank insignia (North Korea).svg Seaman Recruit rank insignia (North Korea).svg Aircraftman rank insignia (North Korea).svg OR-1
Đại nguyên soái Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên
  1. Kim Nhật Thành (1992)
  2. Kim Chính Nhật (truy phong, 2012)
Nguyên soái Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên
  1. Kim Chính Ân (2012)
Nguyên soái Quân đội Nhân dân Triều Tiên
  1. O Chin-u (1992)
  2. Ch'oe Kwang (1995)
  3. Ri Ul-sol (1995)
  4. Kim Yong Chun (2016)
  5. Hyon Chol Hae (2016)
Phó Nguyên soái
  1. Choi Yong-kun (1953)
  2. Kim Il (1972)
  3. Kim Kwang-jin (1992)
  4. Paek Hak-rim (1992)
  5. Kim Ik-hyon (1992)
  6. Ri Tu-ik (1992)
  7. Cho Myŏng-rok (1995)
  8. Li Ha-il (1995)
  9. Kim Il-chol (1997)
  10. Chon Jae-son (1997)
  11. Pak Ki-so (1997)
  12. Ri Yong-mu (1998)
  13. Kim Ryong-yon (1998)
  14. Ri Yong Ho (2010)
  15. Kim Jong-gak (2012)
  16. Choe Ryong Hae (2012)
  17. Hyon Yong-chol (2012), bị hạ quân hàm xuống Đại tướng
  18. Hwang Pyong-so (2014)
  19. Ri Myong-su (2016)
Đại tướng Quân đội Nhân dân Triều Tiên
Thượng tướng Quân đội Nhân dân Triều Tiên
Trung tướng Quân đội Nhân dân Triều Tiên
Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Triều Tiên

Trang thiết bị[sửa | sửa mã nguồn]

Từ cuối năm 1970, Triều Tiên bắt đầu tổ chức lại quân đội và hiện đại hóa lục quân. Triều Tiên đã bắt đầu chế tạo các loại xe tăng T-62 trang bị pháo 115mm, đây là loại xe tăng chiến đấu chủ yếu của Quân đội Liên Xô trong những năm 1960. Dựa trên xu thế chung và các bức ảnh chụp được ở các cuộc diễu binh của lực lượng vũ trang cho thấy rõ ràng là Triều Tiên đã có những thay đổi đáng kể từ các thiết kế của Liên Xô hay Trung Quốc trong các mẫu xe tăng của họ.

Năm 1980, để quân đội cơ động hơn và hiện đại hơn, nhiều loại xe tăng mới, pháo tự hành, xe bọc thép, xe tải đã được đồng loạt đưa vào trang bị. Lục quân vẫn giữ các loại vũ khí trước đây và bảo quản một số lượng lớn trang thiết bị trong các kho niêm cất, giữ lại các trang bị đã cũ nhưng có sự cải tiến trong các lực lượng chính quy hay trong lực lượng dự bị.

Giữa những năm 1980 đến 1992, Triều Tiên đã tổ chức và trang bị lại, được triển khai chủ yếu cho lục quân. Từ giữa các năm 1984 đến 1992, quân đội đã trang bị thêm khoảng 1.000 xe tăng, hơn 2.500 xe APC/IFV, khoảng 6.000 pháo và dàn phóng rốc két. Năm 1992, Triều Tiên đã phát triển gấp đôi số lượng xe tăng và pháo binh.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ International Institute for Strategic Studies (ngày 3 tháng 2 năm 2010). Hackett, James, biên tập. The Military Balance 2010. London: Routledge. ISBN 1857435575. 
  2. ^ http://globalfirepower.com/country-military-strength-detail.asp?country_id=North-Korea
  3. ^ “World Wide Military Expenditures”. Truy cập 28 tháng 2 năm 2015. 
  4. ^ " Background Note: North Korea", US Department of State, October, 2006.
  5. ^ KN-01 Anti-Ship Cruise Missile, globalsecurity.org
  6. ^ North Korea test-fires short-range barrage, AP, ngày 2 tháng 7 năm 2009
  7. ^ North Korea fires four missiles, Jerusalem Post, ngày 2 tháng 7 năm 2009
  8. ^ North Korea Missile Chronology 2008/9, NTI.org
  9. ^ North Korea to Deploy New Missile, U.S. Says, NTI.org, ngày 9 tháng 7 năm 2007
  10. ^ North Korea test-fires more missiles, says Seoul, CNN, ngày 4 tháng 7 năm 2009
  11. ^ In N. Korea, Missiles Herald A Defiant 4th, Washington Post, ngày 4 tháng 7 năm 2009
  12. ^ No-Dong The source provides information of the No-Dong (Rodong) program as a whole, although it points out, that total production of Nodong missiles amounts only to 50 units. Since it is known that the Rodong-1 only has been produced in a number, greater than 200, this source probably refers to the Rodong-2.
  13. ^ [1]
  14. ^ Взлет не разрешен, vzgliad.ru, ngày 27 tháng 3 năm 2009
  15. ^ FACTBOX: North Korea's Taepodong-2 long-range missile, Reuters, ngày 13 tháng 3 năm 2009
  16. ^ North Korea to launch 'satellite' on rocket, welt.de, ngày 24 tháng 2 năm 2009
  17. ^ North Korea's Missiles, Radio Free Asia, ngày 25 tháng 2 năm 2009

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]