Đại tướng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Đại tướngquân hàm sĩ quan cao cấp trong lực lượng vũ trang chính quy của nhiều quốc gia.[1] Ở một số quốc gia, có quy mô quân đội nhỏ không thiết lập quân hàm này (như Albania, Latvia, Litva...). Trong lịch sử, một số quốc gia thiết lập quân hàm này sau cấp bậc Nguyên soái, Thống chế, hoặc Thống tướng (tùy theo quốc gia). Nhưng hiện nay, ở hầu hết quốc gia thì quân hàm này là quân hàm hiện dịch cao nhất.

Một số tài liệu tiếng Việt thường dùng thuật ngữ "tướng 4 sao", phỏng theo thuật ngữ "four-star rank" trong tiếng Anh để chỉ cấp bậc Đại tướng. Thuật ngữ này cũng thường được dùng trong Hải quân để chỉ cấp bậc Đô đốc 4 sao, được xem là tương được cấp bậc Đại tướng trong Lục quân và Không quân. Quân hàm này được xem là tương đương cấp bậc OF-9 trong thang quân hàm của các lực lượng vũ trang NATO.

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Danh xưng Đại tướng là một từ Hán Việt, bắt nguồn từ một chức vụ võ quan trong thời phong kiến. Trong triều đình phong kiến các quốc gia ảnh hưởng văn minh Trung Hoa, chức vụ đại tướng (hay đại tướng quân) thường không phải là chức võ quan cao cấp nhất. Như trong lịch sử Việt Nam thời nhà Lý (1009-1225) chia các chức quan võ như sau: Đô thống, Nguyên soái, Tổng quản, Khu mật sứ, Khu mật tả hữu sứ, Tả hữu kim ngô, Thượng tướng, Đại tướng, Đô tướng, Tướng quân các vệ, chỉ huy sứ, vũ vệ, hỏa đầu, các binh tào Vũ Tiệp và Vũ Lâm. Các chức quan võ này đều thấp hơn Thái úy và nội ngoại Hành điện Đô trị sự, Kiểm hiệu Bình chương sự. Phẩm trật các hàng quan võ đều có chín bậc (nhất phẩm, nhị phẩm, v.v.) nhưng giữa chức và phẩm trật thì chưa thấy sách nào ghi lại mối tương quan của chúng.

Một ngoại lệ tồn tại trong lịch sử Nhật Bản là chức vụ Chinh di Đại tướng quân, thường được biết với tên gọi Shōgun. Nguyên thủy đây chỉ là chức vụ võ quan của triều đình cử đi đánh dẹp ở phía Đông Nhật Bản. Tuy nhiên về sau các tướng quân phát triển thế lực, lấn át cả triều đình, trở thành nhà cai trị trên thực tế của đất nước Nhật Bản, kéo dài qua các thời kỳ Mạc phủ Kamakura (1185-1333), Ashikaga (1336-1573) và Tokugawa (1603-1868), chỉ chấm dứt với cuộc Minh Trị duy tân.

Danh xưng Đại tướng được dùng lần đầu với ý nghĩa là một quân hàm quân sự hiện đại cũng bắt đầu từ Nhật Bản vào năm 1867 khi Lục quân Đế quốc Nhật Bản được thành lập và chức vụ Shōgun bị bãi bỏ. Cấp bậc Đại tướng (大将, taisho) được ấn định là cấp bậc võ quan cao cấp nhất trong Lục quân Đế quốc Nhật Bản. Không lâu sau, cấp bậc này cũng được sử dụng trong Hải quân Đế quốc Nhật Bản. Từ đó hình thành 2 cấp bậc phân biệt tương đương là Lục quân Đại tướng (陸軍大将, Rikugun-taishō) và Hải quân Đại tướng (海軍大将, Kaigun-taishō).

Hiện nay, tương đương quân hàm General (Quân đội Mỹ; Quân đội Vương quốc Anh, có khi được gọi không chính thức là full General để khỏi nhầm với cấp tướng nói chung), Генерал армии (Quân đội Nga), Général d'Armée (Quân đội Pháp, có 5 sao), Thượng tướng (上將 Shang Jiang với 3 sao, Quân đội Trung Quốc).

Hàm tương đương trong Hải quân Hoàng gia Anh, Mỹ và Pháp là Đô đốc, trong Hải quân Nga là Đô đốc Hạm đội (адмирал флота), có 4 sao. Đại tướng Không quân Anh được gọi là Air Chief Marshal.

Quân đội Liên Xô và Quân đội Nga trước kia có bậc Nguyên soái quân binh chủng, tương đương với Đại tướng: Nguyên soái không quân (маршал авиации), Nguyên soái pháo binh (маршал артиллерии), Nguyên soái công binh (маршал инженерных войск), Nguyên soái bộ đội tăng thiết giáp (маршал бронетанковых войск), Nguyên soái bộ đội thông tin liên lạc (маршал войск связи). Các hàm này đã lần lượt bị bãi bỏ năm 1984 và năm 1993.

Quân đội Nhân dân Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Cấp hiệu cầu vai Đại tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam

Quân hàm Đại tướng lần đầu tiên được quy định theo Sắc lệnh số 33 ngày 22 tháng 3 năm 1946 do Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký, là quân hàm cao cấp nhất trong Quân đội Quốc gia Việt Nam. Trong Sắc lệnh này cũng quy định cấp hiệu Đại tướng gồm 3 ngôi sao vàng trên nền đỏ. Tuy nhiên, mãi đến năm 1948, mới có quân nhân đầu tiên thụ phong quân hàm này là Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp. Ông đồng thời là người Việt có thời gian giữ quân hàm Đại tướng lâu nhất cho đến thời điểm này.

Ngày nay, quân hàm Đại tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam mang 4 sao vẫn là quân hàm cao cấp nhất, thường chỉ phong cho các quân nhân giữ 1 trong 3 chức vụ Bộ trưởng Quốc phòng, Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị.

Đại tướng là cấp bậc cao nhất của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Đại tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam thường giữ các chức vụ Bộ trưởng Quốc phòng, Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị. Ngày nay, tại Việt Nam các quân hàm từ Thiếu tướng trở lên đều do Chủ tịch nước ký quyết định phong cấp và ban hành.

Các đại tướng của Quân đội Nhân dân Việt Nam:

Công an Nhân dân Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Cấp hiệu cầu vai Đại tướng Công an nhân dân Việt Nam

Đại tướng là cấp bậc cao nhất của Công an nhân dân và chỉ dành Bộ trưởng Công an.

Các đại tướng của Công an Nhân dân Việt Nam:

Quân lực Việt Nam Cộng hòa (1955-1975)[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa, quân hàm này mang 4 sao, là quân hàm cao nhất thực tế, vì quân hàm cao nhất trên danh nghĩa là Thống tướng (5 sao) chỉ được phong cho tướng Lê Văn Tỵ. Các đại tướng của quân lực này:

Cấp hiệu cầu vai Đại tướng Quân lực Việt Nam Cộng Hòa

Quốc quân Trung Hoa Dân Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Cấp bậc Nhất cấp Thượng tướng (一級上將) trong Quân đội Trung Hoa Dân Quốc được xem là tương đương cấp bậc Đại tướng, được đặt ra lần đầu tiên vào năm 1935. Cùng năm đó, 9 quân nhân được tôn phong cấp bậc này gồm Phùng Ngọc Tường, Chu Bồi Đức, Lý Tông Nhân, Hà Ứng Khâm, Trương Học Lương, Trần Tế Đường, Đường Sinh Trí, Diêm Tích Sơn (lục quân) và Trần Thiệu Khoan (hải quân).

Từ năm 2012, Quốc hội Trung Hoa Dân Quốc thông qua luật chỉ phong cấp bậc Đại tướng trong thời chiến. Quân nhân cuối cùng được giữ cấp bậc này là Lâm Trấn Di, cựu Tổng tham mưu trưởng Quốc quân Trung Hoa Dân Quốc (2009-2013).

Giải phóng quân Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Quân đội Trung Quốc, từ 1955 đến 1965 có quân hàm Đại tướng mang 4 sao, dưới cấp Nguyên soái, được dịch sang tiếng AnhSenior General hoặc Army General. Chỉ có 10 người từng được phong quân hàm Đại tướng trong Quân đội Trung Quốc: Túc Dụ, Từ Hải Đông, Hoàng Khắc Thành, Trần Canh, Đàm Chính, Tiêu Kình Quang, Trương Vân Dật, La Thuỵ Khanh, Vương Thụ Thanh, Hứa Quang Đạt. Khi bắt đầu Cách mạng văn hóa do Mao Trạch Đông phát động, hệ thống quân hàm bị hủy bỏ. Hệ thống quân hàm trong Quân đội Trung Quốc chỉ được khôi phục lại vào năm 1988, khi đó không còn các cấp bậc Nguyên soái và Đại tướng nữa.

Nhất cấp Thượng tướng (一級上將) chỉ tồn tại từ năm 1988 đến năm 1994 và cũng không có quân nhân nào được phong quân hàm này.

Quân đội Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Đại tướng (full General) có 4 sao là cấp bậc cao nhất của Quân đội Mỹ trong thời bình và thứ 3 trong hệ thống Quân hàm Quân đội Mỹ sau [[Đại thốh các Bộ chỉ huy cấp Tập đoàn quân (Fied Army) trở lên. Hiện tại, trong Các lực lượng đồng phục Mỹ có tổng cộng khoảng 39 người giữ cấp bậc nàyng tướng Hoa Kỳ|Đại thống tướng]] và Thống tướng, cấp bậc này trong Hải quân được gọi là Đô đốc (full Admiral). các Bộ chỉ huy cấp Tập đoàn quân (Fied Army) trở lên. Hiện tại, trong Các lực lượng đồng phục Mỹ có tổng cộng khoảng 39 người giữ cấp bậc này chia cho 5 lực lượng gồm: Lục quân(12), Hải Quân(11), Không quân(11), Lính thủy đánh bộ(4), Tuần duyên(1).

Quân đội Nga[sửa | sửa mã nguồn]

Đại tướng (генера́л а́рмии "Generál Ármii") có 1 sao lớn là cấp bậc cao nhất của Quân đội Nga trong thời bình. Đại tướng Nga thường giữ các chức vụ Bộ trưởng, Thứ trưởng Quốc phòng, Tổng tham mưu trưởng.

Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Danh xưng Đại tướng thường được dùng cho các cấp bậc khác nhau theo từng thời kỳ của người Đức

Tự vệ đội Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Mạc liêu trưởng tướng ("僚陸長将")có 4 sao là cấp bậc cao nhất của Tự vệ đội Nhật Bản. Đại tướng Nhật giữ các chức vụ Chủ tịch, Thành viên Hội đồng tham mưu trưởng.

Thái Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Đại tướng (พลเอก "Phon Ek") là cấp bậc cao nhất trên thực tế của Quân đội Thái Lan, cấp bậc cao nhất là Nguyên soái chỉ phong cho Quốc vương và một số thành viên Hoàng gia như một danh hiệu. Đại tướng Thái Lan thường giữ các chức vụ Tư lệnh tối cao, Tư lệnh và Phó tư lệnh ba Quân chủng.

Pakistan[sửa | sửa mã nguồn]

Đại tướng (General) là cấp bậc cao nhất của Quân đội Pakistan. Trong Quân đội Pakistan, cấp bậc này thường được trao cho Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng, Tham mưu trưởng của ba quân chủng: lục quân, không quân, hải quân.

Ấn Độ[sửa | sửa mã nguồn]

Đại tướng (General) là cấp bậc cao nhất trên thực tế của Quân đội Ấn Độ, cấp bậc cao nhất là Nguyên soái chỉ được truy phong. Đại tướng Ấn Độ thường giữ các chức vụ Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng, Tham mưu trưởng của ba quân chủng: lục quân, không quân, hải quân.

Italia[sửa | sửa mã nguồn]

Đại tướng (generale) là cấp bậc cao nhất của Quân đội Italia, chỉ có Tổng tham mưu trưởng Quân đội Italia giữ cấp bậc này.

Philippines[sửa | sửa mã nguồn]

Đại tướng (General) là cấp bậc cao thứ hai của Quân đội Philippines sau Thống tướng (General of Army), chỉ có Tổng tham mưu trưởng Quân đội Philippines giữ cấp bậc Đại tướng. Vì cấp bậc Thống tướng chỉ duy nhất được trao cho Thống tướng Douglas MacArthur của Mỹ nên Đại tướng thực tế là cấp bậc cao nhất của Quân đội Philippines.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Theo định nghĩa trong Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam 2004 thì Đại tướng là "bậc quân hàm cao nhất của sĩ quan cấp tướng trong LLVT nhiều nước.". Tr.322.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]