Cao Văn Viên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cao Văn Viên
Caovanvien.jpg
Cao Văn Viên
Tiểu sử
Sinh

11 tháng 12, 1921

Vientiane-Lào
Mất

22 tháng 1, 2008 (86 tuổi)

Arlington, Virginia
Binh nghiệp
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Năm tại ngũ 1951-1975
Cấp bậc US-O10 insignia.svg Đại tướng
Chỉ huy Flag of France.svg Quân đội Pháp
Flag of South Vietnam.svg Quân đội Quốc gia Việt Nam
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Khen thưởng Silver Star ribbon.svg Huân chương Ngôi sao bạc
Legion of Merit ribbon.svg Legion of Merit
National Order of Vietnam

Cao Văn Viên (1921-2008) là một trong 5 sĩ quan được phong hàm Đại tướng trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Ông cũng là vị tướng giữ chức vụ Tổng Tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong thời gian lâu nhất (1965-1975).

Thân thế và bước đầu binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 11 tháng 12 năm 1921 tại Vientiane, Lào. Gia đình lấy chữ đầu của chữ Vientiane để đặt tên cho ông.[cần dẫn nguồn]

Thuở nhỏ, ông học tại Lào và đậu bằng Trung học Pháp. Năm 1945, ông làm công chức tại Paksé, Nam Lào. Năm 1949, ông hồi hương, nhập ngũ vào Quân đội Liên hiệp Pháp, được cử theo học khóa đào tạo sĩ quan người Việt tại trường Võ bị Cap Saint Jacques (Vũng Tàu) và tốt nghiệp thủ khoa với quân hàm Thiếu úy. Cùng tốt nghiệp với ông hai sĩ quan trẻ là Nguyễn Chánh ThiNguyễn Hữu Hạnh.

Sau khi ra trường năm 1950, ông được điều về công tác tại Bộ Tổng tham mưu Quân đội Quốc gia Việt Nam vừa được thành lập. Một năm sau, năm 1951, ông được thăng cấp Trung úy và được cử theo học lớp Chỉ huy chiến thuật tại Trung tâm Huấn luyện Chiến thuật Hà Nội.

Năm 1952, ông được bổ nhiệm làm Trưởng Phòng 2 (tình báo) Khu chiến Hưng Yên. Cuối năm, ông được thăng cấp Đại úy và được cử làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 10 Việt Nam. Năm 1954, đổi sang làm Trưởng Phòng 3 (tác chiến) Khu chiến Hưng Yên. Tháng 3 năm 1955, thăng Thiếu tá, Trưởng Phòng 4 (tiếp vận) Bộ Tổng tham mưu Quân đội Quốc gia Việt Nam.

Sau khi chính thể Việt Nam Cộng hòa được thành lập, ông được cử làm Tùy viên Quân sự Đại sứ quán Việt Nam Cộng hòa tại Washington DC, Hoa Kỳ. Năm 1957, được cử theo học lớp Chỉ huy & Tham mưu tại trường Fort Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ.

Sau khi tốt nghiệp về nước, tháng 2 năm 1958, ông được bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng Biệt bộ Tham mưu Phủ Tổng thống. Cuối năm ông được thăng Trung tá.

Người đứng ngoài các cuộc đảo chính[sửa | sửa mã nguồn]

Trong cuộc đảo chính 1960, ông bị lực lượng đảo chính của Đại tá Nguyễn Chánh Thi bắt giữ và được thả ra sau khi cuộc đảo chính hoàn toàn thất bại. Ngay sau đó, ông được Tổng thống Ngô Đình Diệm bổ nhiệm làm Tư lệnh Lữ đoàn Dù thay Đại tá Nguyễn Chánh Thi đã đào thoát sang Campuchia. Cuối năm ông được thăng cấp Đại tá.

Đến khi cuộc đảo chính 1963 nổ ra, ông là một trong những số ít sĩ quan cao cấp trung thành với Tổng thống Ngô Đình Diệm, kiên quyết không đứng về phe đảo chính do các tướng lĩnh Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Mai Hữu Xuân, Lê Văn Kim tiến hành. Vì vậy ông bị các tướng lĩnh tước quyền chỉ huy Lữ đoàn Dù. Tuy nhiên do sự can thiệp của tướng Tôn Thất Đính nên ông chỉ bị cách ly mà không rơi vào số phận bi thảm như các Đại tá Hồ Tấn QuyềnLê Quang Tung. Sau 1 tuần lễ ông được phục hồi chức Tư lệnh Lữ đoàn Dù.

Sau khi tướng Nguyễn Khánh thực hiện cuộc chỉnh lý để giành quyền lực, để tranh thủ sự ủng hộ của các sĩ quan trẻ, ngày 3 tháng 3 năm 1964, tướng Khánh đã thăng đặc cách cho ông tại mặt trận lên cấp Thiếu tướng (ông bị thương trong cuộc hành quân Quyết Thắng tại Hồng Ngự). Ông là vị Đại tá cuối cùng được thăng cấp Thiếu tướng trước khi Việt Nam Cộng hòa đặt ra quy chế phong Đại tá lên Chuẩn tướng.[1]

Tháng 9 năm 1964, ông được tướng Khánh cử vào chức vụ Tham mưu trưởng Liên quân tại Bộ Tổng tham mưu. Nhưng chỉ 1 tháng sau, ông chuyển sang giữ chức Tư lệnh Quân đoàn III. Đến tháng 2 năm 1965, tướng Khánh bị các tướng trẻ gạt bỏ khỏi chính quyền, ông được thăng quân hàm Trung tướng và ngày 14 tháng 10 ông được cử vào chức vụ Tổng Tham mưu trưởng thay Trung tướng Nguyễn Hữu Có Tổng trưởng Quốc phòng đang kiêm nhiệm.

Năm 1966, ông kiêm nhiệm chức vụ Tư lệnh Hải quân trong 1 tháng. Đầu năm 1967, ông kiêm nhiệm chức vụ Tổng trưởng Quốc phòng trong thời gian ngắn thay tướng Nguyễn Hữu Có, cũng chính là người tiền nhiệm của ông trong vị trí Tổng tham mưu trưởng, bị bãi chức trong khi đang đi công du tại Đài Loan. Cũng vào thời điểm này, ông được thăng quân hàm Đại tướng.

Năm 1972, Hội đồng Nội các quyết định chức vụ Tổng tham mưu trưởng được xếp ngang hàng Tổng trưởng và được dự họp trong Hội đồng Nội các.

Năm 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Trước sức ép mãnh liệt của dư luận và áp lực quân sự của quân Giải phóng, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức. Cũng không lâu sau đó, Tướng Cao Văn Viên cũng từ nhiệm vào ngày 27 tháng 4 năm 1975 và xin giải ngũ khi chưa có quyết định chính thức của tân Tổng thống Trần Văn Hương. Ông giao việc xử lý thường vụ lại cho Trung tướng Đồng Văn Khuyên và lên máy bay di tản sang Mỹ.

Sau sự kiện 1975, ông sống bình lặng tại Arlington, Virginia. Thời gian cuối đời ông sống ở viện dưỡng lão.

Ông mất vào rạng sáng ngày 22 tháng 1 năm 2008, thọ 87 tuổi.[2]

Đánh giá về ông[sửa | sửa mã nguồn]

Trong suốt thời gian giữ chức vụ Tổng tham mưu trưởng, ông được đánh giá là một tướng lĩnh có tài và không liên quan đến các hoạt động chính trị. Tuy nhiên, ông cũng bị đánh giá là một người an phận và không muốn tạo trách nhiệm.

Hồi ký "Việt Nam Nhân Chứng" của tướng Trần Văn Đôn viết: "Có lần ông Thiệu than phiền ông Cao Văn Viên không làm việc nhiều. Ông Thiệu nhờ tôi nói với Đại tướng Viên, Tổng Tham Mưu trưởng, về việc ông này cứ ở mãi Tổng Tham mưu làm việc, không chịu đi ra ngoài, ông Viên trả lời: Tôi đã xin từ chức mấy lần mà ông Thiệu không chấp nhận nên tôi cứ ở văn phòng làm việc mà thôi!"

Trong hồi ký "Đôi dòng ghi nhớ" của cựu Đại tá Phạm Bá Hoa, chánh văn phòng Tổng tham mưu trưởng, cũng nhận xét là trong gần 9 năm rưỡi giữ chức Tổng Tham Mưu trưởng, ông không thực sự làm hết trách nhiệm, đến văn phòng cho có lệ, ít ra chiến trường, đặc biệt là vào những năm 1973-1975, ông chỉ còn chú trọng nhiều đến việc tập luyện yoga và thậm chí, đi học lấy bằng Cử nhân Văn chương Pháp tại Đại học Văn khoa Sài Gòn ngoài giờ làm việc.

Lý giải sự việc này, theo cuộc phỏng vấn của Lý Thanh Tâm tháng 12 năm 2004, ông cho rằng do Tổng thống Thiệu, với tư cách Tổng tư lệnh Quân đội, đã tập trung hết quyền binh trong tay, đã cho đặt một hệ thống máy truyền tin tại dinh Độc lập để liên lạc thẳng với các quân khu, điều động các đơn vị, bổ nhiệm tư lệnh vùng và ra lệnh trực tiếp hành quân. Bộ Tổng Tham mưu chỉ còn giữ vai trò tuân hành và thị chứng. Do đó, ông đã nhiều lần xin từ chức nhưng không được chấp thuận. Vì vậy ông chỉ có thể phản ứng bằng cách tiêu cực như trên.

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Song thân của ông là ông Cao văn Tý và bà Nguyễn Thị Võ

Ông lập gia đình với bà Cécile Trần Thị Tạo, sinh năm 1925, đã từ trần tại Mỹ. Ông bà có 2 người con: 1 trai, 1 gái. Cô con gái hiện là (2015) giáo sư luật và cũng là nhà văn Lan Cao.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lâm Vĩnh Thế, Nhóm tướng trẻ trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa vào giai đoạn 1964-1965.
  2. ^ “Đại tướng Cao Văn Viên qua đời”. BBC Tiếng Việt. 22 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2008. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử quân lực Việt Nam Cộng hoà. Hương Quê. ISBN 978-0-9852-1820-1.