Long An

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Long An
Tỉnh
Logo Bieu trung tinh Long An.png
Biểu trưng
Một góc TP.Tân An bên sông Vàm Cỏ Tây.jpg
Một góc TP.Tân An bên sông Vàm Cỏ Tây
Địa lý
Tọa độ: 10°41′30″B 106°12′17″Đ / 10,691647°B 106,204834°Đ / 10.691647; 106.204834Tọa độ: 10°41′30″B 106°12′17″Đ / 10,691647°B 106,204834°Đ / 10.691647; 106.204834
Diện tích 4491,9km²[1][2]
Dân số (2016)  
 Tổng cộng 1.490.600 người[2]
 Thành thị 455.956 người
 Nông thôn 1.035.000 người
 Mật độ 332 người/km²[2]
Dân tộc Việt, Khmer, Hoa
Hành chính
Quốc gia Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Vùng

Đồng bằng sông Cửu Long (địa lý)

Vùng đô thị Thành phố Hồ Chí Minh (đô thị)
Tỉnh lỵ Thành phố Tân An
Thành lập 1698 (thành lập phủ Gia Định), 1705 (mở xứ Vũng Gù)
Chính quyền  
 Chủ tịch UBND Trần Văn Cần[3]
 Chủ tịch HĐND Phạm Văn Rạnh
 Chánh án TAND Lê Văn Lợi
 Viện trưởng VKSND Đinh Văn Sang
 Bí thư Tỉnh ủy Phạm Văn Rạnh
 Trụ sở UBND Trung Tâm hành chính tỉnh Long An, quốc lộ 1A, phường 6, thành phố Tân An
Đại biểu quốc hội Trương Hoà Bình, Phạm Văn Rạnh, Trần Văn Cần
Phân chia hành chính 1 thành phố, 1 thị xã và 13 huyện
Mã hành chính VN-41
Mã bưu chính 85xxxx
Mã điện thoại 272
Biển số xe 62
Website Tỉnh Long An

Long An là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam. Tỉnh lỵ của Long An là thành phố Tân An, cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 50 km theo đường Quốc lộ 1A. Long An là tỉnh nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam[4] và là cửa ngõ nối liền Đông Nam Bộ với khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nhất là có chung đường ranh giới với Thành phố Hồ Chí Minh, bằng hệ thống các quốc lộ: 1A, 50, 62, N1, N2, Đường Hồ Chí Minh, Trục đường động lực liên kết TPHCM - Long An - Tiền Giang (Quy hoạch). Tỉnh được xem là thị trường tiêu thụ hàng hóa nông sản lớn nhất của Đồng bằng Sông Cửu Long[4].

Điều kiện tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Ruộng Lúa tại huyện Mộc Hóa

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Long An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, ẩm. Do tiếp giáp giữa 2 vùng Đông Nam BộTây Nam Bộ cho nên vừa mang các đặc tính đặc trưng cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long lại vừa mang những đặc tính riêng biệt của vùng miền Đông[5].

Nhiệt độ trung bình hàng tháng 27,2-27,7 °C. Thường vào tháng 4 có nhiệt độ trung bình cao nhất 28,9 °C, tháng 1 có nhiệt độ trung bình thấp nhất là 25,2 °C.

Lượng mưa hàng năm biến động từ 966–1325 mm. Mùa mưa chiếm trên 70-82% tổng lượng mưa cả năm. Mưa phân bổ không đều, giảm dần từ khu vực giáp ranh Thành phố Hồ Chí Minh xuống phía tâyTây Nam. Các huyện phía Đông Nam gần biển có lượng mưa ít nhất. Cường độ mưa lớn làm xói mòn ở vùng gò cao, đồng thời mưa kết hợp với cường triều, với lũ gây ra ngập úng, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của dân cư.

Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm là 80-82%. Thời gian chiếu sáng bình quân ngày từ 6,8 - 7,5 giờ/ngày và bình quân năm từ 2.500-2.800 giờ. Tổng tích ôn năm 9.700-10.100 °C. Biên độ nhiệt giữa các tháng trong năm dao động từ 2-4 °C.

Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 có gió Đông Bắc, tần suất 60-70%. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 có gió Tây Nam với tần suất 70%[5].

Tỉnh Long An nằm trong vùng đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo có nền nhiệt ẩm phong phú, ánh nắng dồi dào, thời gian bức xạ dài, nhiệt độ và tổng tích ôn cao, biên độ nhiệt ngày đêm giữa các tháng trong năm thấp, ôn hòa.

Những khác biệt nổi bật về thời tiết khí hậu như trên có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống xã hội và sản xuất nông nghiệp.

Địa hình[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng lúa xanh mát của Phú Ngãi Trị - Châu Thành - Long An

Tỉnh Long An thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, có tọa độ địa lý từ 105030' 30 đến 106047' 02 kinh độ Đông và 10023'40 đến 11002' 00 vĩ độ Bắc[4]. phía Đông giáp với Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh, phía Bắc giáp với tỉnh Svay Rieng, Vương Quốc Campuchia[6], phía Tây giáp với tỉnh Đồng Tháp và phía Nam giáp với tỉnh Tiền Giang. Sở hữu vị trí địa lý khá đặc biệt bên cạnh đó còn thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Long An được xác định là vùng kinh tế động lực có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam.

Dù xếp vào vùng Đồng bằng sông Cửu Long nhưng Long An là phần đất chuyển tiếp giữa Đông Nam BộTây Nam Bộ, nên địa hình có xu hướng thấp dần từ đông bắc xuống tây nam. phía bắc và đông bắc tỉnh có một số gò đồi thấp; giữa tỉnh là vùng đồng bằng và phía tây nam tỉnh là vùng trũng Đồng Tháp Mười, trong đó có khu rừng tràm ngập phèn rộng 46.300 ha.

Tỉnh có 6 nhóm đất chính, nhưng phần lớn là dạng phù sa bồi lắng lẫn nhiều tạp chất hữu cơ, cấu tạo bở rời, tính chất cơ lý kém, nhiều vùng bị chua phèn và tích tụ độc tố.

Địa hình Long An bị chia cắt nhiều bởi hệ thống sôngkênh rạch chằng chịt với tổng chiều dài lên tới 8.912 km, sông Vàm Cỏ ĐôngVàm Cỏ Tây hợp thành sông Vàm Cỏ, kênh Dương Văn Dương,... trong đó lớn nhất là sông Vàm Cỏ Đông chảy qua Long An.

Thuỷ văn[sửa | sửa mã nguồn]

Miền quê với kênh rạch tỉnh Long An

Long An chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều từ biển Đông qua cửa sông Soài Rạp. Thời gian 1 ngày triều là 24 giờ 50 phút, một chu kì triều là 13-14 ngày. Vùng chịu ảnh hưởng của triều nhiều nhất là các huyện phía Nam Quốc lộ 1A, đây là nơi ảnh hưởng mặn từ 4 đến 6 tháng trong năm[7]. Triều biển Đông tại cửa sông Soài Rạp có biên độ lớn từ 3,5 đến 3,9 m, đã xâm nhập vào sâu trong nội địa với cường độ triều mạnh nhất là mùa khô. Biên độ triều cực đại trong tháng từ 217 đến 235 cm tại Tân An và từ 60 đến 85 cm tại Mộc Hoá[7]. Do biên độ triều lớn, đỉnh triều mùa gió chướng đe doạ xâm nhập mặn vào vùng phía nam. Trong mùa mưa có thể lợi dụng triều tưới tiêu tự chảy vùng ven 2 sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây làm giảm chi phí sản xuất[7].

Bị ngập mặn chủ yếu là từ biển Đông qua cửa sông Soài Rạp do chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều. Trước đây, sông Vàm Cỏ Tây mặn thường xâm nhập trên Tuyên Nhơn (huyện Thạnh Hóa) khoảng 5 km. Mặn xâm nhập bắt đầu từ tháng 1 đến tháng 6 với mức 2 đến 4 gam/lít[8]. Đất phèn tập trung với 2084,49 km2, chiếm 69,8% diện tích toàn vùng Đồng Tháp Mười và bằng 46,41% diện tích tự nhiên của tỉnh[9]. Lũ thường bắt đầu vào trung tuần tháng 8 và kéo dài đến tháng 11[10], mưa tập trung với lưu lượng và cường độ lớn nhất trong năm gây khó khăn cho sản xuất và đời sống. Lũ đến tỉnh Long An chậm và mức ngập không sâu[10].

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Các di chỉ khảo cổ học cho thấy, ngay từ thời cổ đại, Long An đã là địa bàn quan trọng của vương quốc Phù Nam - Chân Lạp. Khi Nguyễn Hữu Cảnh vào khai phá miền Nam, đất Long An thuộc phủ Gia Định. Thời Minh Mạng, đất Long An thuộc tỉnh Gia Định. Đầu thời Pháp thuộc, Nam Kỳ được chia thành 21 tỉnh, đất Long An nằm trong địa bàn 2 tỉnh Tân AnChợ Lớn.

Dân số tỉnh Long An 1967[11]
Quận Dân số
Bến Lức 46.877
Bình Phước 86.206
Cần Đước 83.631
Cần Giuộc 86.082
Rạch Kiến 40.527
Tân Trụ 36.157
Thủ Thừa 48.212
Tổng số 427.702

Ngày 22 tháng 10 năm 1956, chính quyền Sài Gòn lập tỉnh Long An trên cơ sở sáp nhập hai tỉnh Chợ Lớn và Tân An. Tỉnh lỵ đặt tại Tân An, về mặt hành chánh thuộc xã Bình Lập, quận Châu Thành.

Ngày 24 tháng 04 năm 1957, tỉnh Long An bao gồm 7 quận như sau:

Ngày 3 tháng 10 năm 1957, quận Châu Thành đổi tên thành quận Bình Phước.

Ngày 3 tháng 3 năm 1959, lập quận mới Đức Huệ, gồm 3 xã.

Ngày 7 tháng 2 năm 1963, đổi tên quận Cần Đước thành quận Cần Đức, quận Cần Giuộc thành quận Thanh Đức.

Ngày 15 tháng 10 năm 1963, tách 2 quận Đức Hoà, Đức Huệ nhập vào tỉnh Hậu Nghĩa.

Ngày 17 tháng 11 năm 1965, đổi tên quận Cần Đức thành quận Cần Đước, quận Thanh Đức thành quận Cần Giuộc như cũ.

Ngày 7 tháng 1 năm 1967, lập mới quận Rạch Kiến, gồm 9 xã.

Sau năm 1975, quận Bình Phước đổi về tên cũ là Châu Thành, quận Rạch Kiến giải thể.

Năm 1976, tỉnh Long An hợp nhất với tỉnh Kiến Tường và 2 quận Đức Hoà, Đức Huệ của tỉnh Hậu Nghĩa thành tỉnh Long An mới. Toàn bộ đất của tỉnh Kiến Tường cũ trở thành huyện Mộc Hoá của tỉnh Long An. Cùng năm, xã Bình Lập, huyện Châu Thành được tách ra để thành lập thị xã Tân An - thị xã tỉnh lỵ tỉnh Long An. Tỉnh Long An gồm thị xã Tân An và 9 huyện: Bến Lức, Cần Đước, Cần Giuộc, Châu Thành, Đức Hoà, Đức Huệ, Mộc Hoá, Tân Trụ, Thủ Thừa.

Ngày 11 tháng 03 năm 1977, hợp nhất 2 huyện Thủ Thừa và Bến Lức thành huyện Bến Thủ, hợp nhất 2 huyện Tân Trụ và Châu Thành thành huyện Tân Châu.

Ngày 30 tháng 03 năm 1978, chia huyện Mộc Hoá thành hai huyện: Mộc Hoá và Vĩnh Hưng.

Ngày 19 tháng 9 năm 1980, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 298-CP, chia huyện Mộc Hoá thành hai huyện lấy tên là huyện Mộc Hoá và huyện Tân Thạnh và đổi tên huyện Tân Châu thành huyện Vàm Cỏ.

Ngày 14 tháng 01 năm 1983, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 05-HĐBT, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh Long An như sau:

- Chia huyện Bến Thủ thành 2 huyện Bến Lức và Thủ Thừa.

- Mở rộng thị xã Tân An trên cơ sở nhập 3 xã của huyện Vàm Cỏ và 3 xã của huyện Bến Thủ, với tổng điện tích tự nhiên 7794 ha.

Ngày 4 tháng 4 năm 1989, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 36/HĐBT, chia huyện Vàm Cỏ thành 2 huyện Châu Thành và Tân Trụ.

Ngày 26 tháng 6 năm 1989, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 74/HĐBT, thành lập huyện Thạnh Hóa từ một phần các huyện Mộc Hóa và Tân Thạnh.

Ngày 24 tháng 3 năm 1994, Chính phủ ban hành Nghị định số 27-CP, chia huyện Vĩnh Hưng thành 2 huyện Vĩnh Hưng và Tân Hưng.

Ngày 24 tháng 8 năm 2009, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 38/NQ-CP, thành lập thành phố Tân An thuộc tỉnh Long An trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Tân An.

Ngày 18 tháng 3 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 33/NQ-CP, thành lập thị xã Kiến Tường thuộc tỉnh Long An trên cơ sở điều chỉnh 20.428,20 ha diện tích tự nhiên và 64.589 nhân khẩu của huyện Mộc Hoá.

Tỉnh Long An có 15 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm thành phố Tân An, thị xã Kiến Tường và các huyện: Bến Lức, Cần Đước, Cần Giuộc, Châu Thành, Đức Hoà, Đức Huệ, Mộc Hoá, Tân Hưng, Tân Thạnh, Tân Trụ, Thạnh Hoá, Thủ Thừa, Vĩnh Hưng.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Long An có 15 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 13 huyện. Trong đó có với 192 đơn vị hành chính cấp , gồm có 14 thị trấn, 12 phường và 166 [12]:

Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Long An
Tên Dân số (người)2018 Hành chính
Thành phố (1)
Tân An 205.659 9 phường, 5 xã
Thị xã (1)
Kiến Tường 70.589 3 phường, 5 xã
Huyện (13)
Bến Lức 185.100 1 thị trấn, 14 xã
Cần Đước 196.500 1 thị trấn, 16 xã
Cần Giuộc 192.329 1 thị trấn, 16 xã
Châu Thành 150.000 1 thị trấn, 12 xã
Tên Dân số (người)2018 Hành chính
Đức Hòa 275.759 3 thị trấn, 17 xã
Đức Huệ 79.079 1 thị trấn, 10 xã
Mộc Hóa 31.569 7 xã
Tân Hưng 49.742 1 thị trấn, 11 xã
Tân Thạnh 78.551 1 thị trấn, 12 xã
Tân Trụ 80.596 1 thị trấn, 10 xã
Thạnh Hóa 58.778 1 thị trấn, 10 xã
Thủ Thừa 95.235 1 thị trấn, 12 xã
Vĩnh Hưng 57.364 1 thị trấn, 9 xã
Dự án khu đô thị tại Thành phố Tân An

Phát triển đô thị[sửa | sửa mã nguồn]

Các chỉ tiêu chính về phát triển đô thị của tỉnh[sửa | sửa mã nguồn]

Đạt các tiêu chí về chất lượng đô thị theo mục tiêu Chương trình phát triển đô thị quốc gia (theo Quyết định 1659/QĐ-TTg ngày 07/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ). Xây dựng phát triển hệ thống đô thị tỉnh Long An đến năm 2030, theo từng giai đoạn: 2018 - 2020; 2021 - 2025; 2026 - 2030 và đảm bảo các chỉ tiêu về phân loại đô thị, cụ thể như sau:

  • Đến năm 2020: Tổng số đô thị toàn tỉnh là 22 đô thị, gồm có 1 đô thị loại II (Tân An), 3 đô thị loại III (Kiến Tường, Bến Lức, Hậu Nghĩa), 10 đô thị loại IV (Đức Hoà, Cần Giuộc, Cần Đước, Thủ Thừa, Thạnh Hoá, Tân Thạnh, Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Tầm Vu, Tân Trụ) và 8 đô thị loại V (Hưng Điền B, Bình Phong Thạnh, Đông Thành, Hiệp Hoà, Gò Đen, Rạch Kiến, Đông Hoà, Long Đức Đông).
  • Đến năm 2025: Tổng số đô thị toàn tỉnh là 24 đô thị, gồm có 1 đô thị loại II (Tân An), 4 đô thị loại III (Kiến Tường, Bến Lức, Hậu Nghĩa, Cần Giuộc), 11 đô thị loại IV (Đức Hoà, Cần Đước, Thủ Thừa, Thạnh Hoá, Tân Thạnh, Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Tầm Vu, Tân Trụ, Đông Hoà, Đông Thành) và 9 đô thị loại V (Hưng Điền B, Bình Phong Thạnh, Hiệp Hoà, Gò Đen, Rạch Kiến, Long Đức Đông, Khánh Hưng, Thái Bình Trung, Mỹ Quý).
  • Đến năm 2030: Tổng số đô thị toàn tỉnh là 29 đô thị, gồm có 1 đô thị loại I (Tân An), 2 đô thị loại II (Bến Lức, Kiến Tường ), 2 đô thị loại III (Cần Giuộc, Hậu Nghĩa), 11 đô thị loại IV (Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Tân Thạnh, Thạnh Hoá, Đức Hoà, Thủ Thừa, Tân Trụ, Cần Đước, Đông Hoà, Tầm Vu, Đông Thành) và 13 loại V (Hưng Điền B, Khánh Hưng, Thái Bình Trung, Bình Phong Thạnh, Hậu Thạnh Đông, Mỹ Quý, Hiệp Hoà, Mỹ Hạnh, Gò Đen, Lương Hoà, Rạch Kiến, Long Đức Đông, Lạc Tấn).

Danh mục, lộ trình và kế hoạch nâng loại hệ thống đô thị trên địa bàn tỉnh[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn 2018-2020: Thành lập mới 6 đô thị và nâng loại 12 đô thị. Lộ trình, kế hoạch nâng loại và thành lập đô thị như sau:

  • Đô thị vùng kinh tế trọng điểm: Nâng loại đô thị đạt tiêu chí đô thị loại II (thành phố Tân An). Nâng loại đô thị đạt tiêu chí đô thị loại III (thị trấn Hậu Nghĩa, thị trấn Bến Lức). Nâng loại đô thị đạt tiêu chí đô thị loại IV (thị trấn Đức Hoà). Thành lập mới đô thị đạt tiêu chí đô thị loại V (thị trấn Gò Đen, thị trấn Rạch Kiến, thị trấn Đông Hoà, thị trấn Long Đức Đông).
  • Đô thị vùng Đồng Tháp Mười: Nâng loại đô thị đạt tiêu chí đô thị loại III (thị xã Kiến Tường). Nâng loại đô thị đạt tiêu chí đô thị loại IV (thị trấn Thạnh Hoá, thị trấn Tân Thạnh, thị trấn Tân Hưng, thị trấn Vĩnh Hưng). Thành lập mới đô thị đạt tiêu chí đô thị loại V (đô thị Hưng Điền B).
  • Đô thị khác: Nâng loại đô thị đạt tiêu chí đô thị loại IV (thị trấn Thủ Thừa, thị trấn Tầm Vu, thị trấn Tân Trụ).

Giai đoạn 2021-2025: Thành lập mới 3 đô thị và nâng loại 3 đô thị. Lộ trình, kế hoạch nâng loại và thành lập đô thị như sau:

  • Đô thị vùng kinh tế trọng điểm: Nâng loại đô thị đạt tiêu chí đô thị loại III (thị trấn Cần Giuộc). Nâng loại đô thị đạt tiêu chí đô thị loại IV (đô thị Đông Hoà, đô thị Đông Thành).
  • Đô thị vùng Đồng Tháp Mười: Thành lập mới đô thị đạt tiêu chí đô thị loại V (đô thị Khánh Hưng, đô thị Thái Bình Trung).
  • Đô thị khác: Thành lập mới đô thị đạt tiêu chí đô thị loại V (đô thị Mỹ Quý).

Giai đoạn 2026-2030: Thành lập mới 4 đô thị, nâng loại 3 đô thị. Lộ trình, kế hoạch và thành lập đô thị như sau:

  • Đô thị vùng kinh tế trọng điểm: Nâng loại đô thị đạt tiêu chí đô thị loại I (thành phố Tân An). Nâng loại đô thị đạt tiêu chí đô thị II (thị trấn Bến Lức). Thành lập mới đô thị đạt tiêu chí đô thị loại V (thị trấn Mỹ Hạnh, thị trấn Lương Hoà).
  • Đô thị vùng Đồng Tháp Mười: Nâng loại đô thị đạt tiêu chí đô thị II (thị xã Kiến Tường). Thành lập mới đô thị đạt tiêu chí đô thị loại V (đô thị Hậu Thạnh Đông).
  • Đô thị khác: Thành lập mới đô thị đạt tiêu chí đô thị loại V (đô thị Lạc Tấn).

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Nổi tiếng với nhiều sản phẩm nông nghiệp như gạo tài nguyên, gạo nàng thơm Chợ Đào, Rượu Đế Gò Đen, dưa hấu Long Trì, dứa Bến Lức, đậu phộng Đức Hòa, mía Thủ Thừa, Thanh long Châu Thành,... Đặc biệt, lúa gạo là sản phẩm nông nghiệp chủ lực chất lượng cao phục vụ xuất khẩu.

Công nghiệp đạt khoảng 40% giá trị trong nền kinh tế tỉnh, được biết đến với những sản phẩm như dệt may, thực phẩm chế biến, xây dựng... Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2017, tỉnh Long An xếp ở vị trí thứ 2 trong 13 tỉnh miền Tây và thứ 4 cả nước.

Bên cạnh công nghiệp, Long An cũng tập trung phát triển thương mại, dịch vụdu lịch, phấn đấu tốc độ tăng trưởng đạt 17%/năm trong giai đoạn đến 2020. Các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản cũng sẽ được phát triển toàn diện theo hướng sản xuất hàng hoá chất lượng cao, phấn đấu tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 7%/năm giai đoạn 2011-2020.

Năm 2017, GRDP đạt 70.319 triệu đồng tổng thu ngân sách nhà nước của tỉnh là 12.135 tỉ đồng - đứng đầu khu vực. Dự kiến đến năm 2018, tỉnh phấn đấu chỉ tiêu ngân sách là 15000/12855 tỷ đồng được giao, thu nhập bình quân đầu người đạt 68 triệu đồng/ người. Đến năm 2020 tỉnh phấn đấu thu ngân sách đạt 20000 tỷ đồng. Thu nhập bình quân đầu người đạt 85 triệu đồng/ người.

Tỉ lệ hộ nghèo của tỉnh thấp nhất khu vực và đang tiếp tục giảm độ chính sách hỗ trợ xoá đói giảm nghèo của nhà nước.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Long An là cửa ngõ nối liền Đông Nam Bộ với Đồng bằng Sông Cửu Long, có chung đường ranh giới với Thành phố Hồ Chí Minh. Hệ thống giao thông kết nối tỉnh với khu vực khá hoàn chỉnh, bao gồm đường bộ lẫn đường thuỷ.

Quốc lộ 50 đoạn đi qua Huyện Cần Đước, thuộc địa phận Tỉnh Long An
  • Các tuyến tỉnh lộ được đánh số từ 816 đến 839.

Ngoài hệ thống giao thông đường bộ Long An cũng là tỉnh có hệ thống giao thông đường thuỷ chằng chịt với các tuyến giao thông như Sông Vàm Cỏ Đông, sông Vàm Cỏ Tây, sông Rạch Cát (sông Cần Giuộc). Các tuyến đường thuỷ quan trọng như Thành phố Hồ Chí Minh - Kiên Lương, Thành phố Hồ Chí Minh - Cà Mau, Thành phố Hồ Chí Minh - Tây Ninh đều qua Long An theo kênh Nước Mặn, sông Rạch Cát, sông Vàm Cỏ Đông. Các loại phương tiện vận tải thuỷ trên 100 tấn có thể theo các kênh rạch như Phước Xuyên, Dương Văn Dương, Trà Cú, Kinh Xáng, sông Bến Lức, sông Rạch Cát, kinh Thủ Thừa... đi từ miền Tây đến Thành phố Hồ Chí Minh.

Dọc theo tuyến biên giới ở Long An, hiện nay có 5 cửa khẩu, bao gồm:

  1. Mỹ Quý Tây (Xòm-Rông) - Đức Huệ
  2. Hưng Điều A (Đức Huệ)
  3. Bình Hiệp (Prây-Vo) – Thị xã Kiến Tường
  4. Vàm Đồn – Vĩnh Hưng
  5. Kênh 28 – Vĩnh Hưng

Ngoài ra, còn có 5 điểm trao đổi hàng hoá khác như Voi Đình, Sóc Rinh thuộc huyện Đức Huệ, Tà Lọt thuộc huyện Mộc Hoá, Rạch Chanh, Tàu Nu, Cây Trâm Dồ thuộc huyện Vĩnh Hưng.

Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê năm 2008, khối lượng vận chuyển hành khách của tỉnh là 38,5 triệu lượt người, khối lượng luân chuyển hành khách đạt 1176,8 triệu lượt người/km, khối lượng vận chuyển hàng hoá đạt 12.972,0 nghìn tấn (đường bộ đạt 4.147 nghìn tấn, đường thuỷ đạt 8.798 nghìn tấn), khối lượng luân chuyển hàng hoá đạt 483,2 triệu tấn/km (đường bộ đạt 51,9 triệu tấn/km, đường thuỷ đạt 431,3 triệu tấn/km).

Môi trường[sửa | sửa mã nguồn]

Cụm công nghiệp (CCN) Hoàng Gia với 52 doanh nghiệp, có tổng diện tích hơn 128ha do Công ty TNHH Hoàng Gia Long An làm chủ đầu tư tại xã Mỹ Hạnh Nam, Đức Hòa, hoạt động suốt hơn 10 năm qua nhưng chỉ có 4 doanh nghiệp có hồ xử lý nước thải. Hai bên đường dẫn vào các doanh nghiệp của CCN, nhiều đoạn cống hở thoát nước với nước thải ô nhiễm từ các phân xưởng, nhà máy sản xuất đổ ra bốc mùi hôi thối, hăng hắc của hóa chất cực kỳ khó chịu. Những đường cống này xả nước ô nhiễm thẳng ra môi trường xung quanh.[13]

Văn hoá[sửa | sửa mã nguồn]

Long An có nhiều di tích lịch sử từ cổ tới kim, nổi bật là văn hoá Óc-eo tại Đức Hoà, đền thờ Nguyễn Huỳnh Đức tại Tân An, Chùa Tôn ThạnhCần GiuộcNhà trăm cột tại Cần Đước[14]. Hiện tỉnh có khoảng 186 di tích lịch sử, có 16 di tích được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia và 63 di tích được xếp hạng cấp tỉnh[6].

Di tích lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách các Di tích tại tỉnh Long An
Danh sách di tích lịch sử cấp Quốc gia
Danh sách di tích lịch sử cấp Tỉnh
Lịch sử phát triển
dân số
Năm Dân số
1995 1.250.800
1996 1.265.100
1997 1.279.900
1998 1.294.800
1999 1.311.100
2000 1.327.100
2001 1.343.100
2002 1.356.500
2003 1.369.000
2004 1.382.200
2005 1.393.400
2006 1.405.200
2007 1.417.900
2008 1.428.200
2009 1.436.300
2010 1.442.800
2011 1.449.600
2012 1.458.200
2013 1.469.900
2014 1.477.300
2015 -
2016 -
Nguồn:[15]

Phong tục tập quán[sửa | sửa mã nguồn]

Long An còn có các lễ hội như lễ Kỳ Yên, lễ cầu mưa, lễ tống phong với nhiều trò chơi dân gian như đua thuyền, kéo co, đánh vật, có khả năng thu hút được nhiều khách du lịch. Các nghề thủ công truyền thống của tỉnh như nghề chạm gỗ (Cần Đước, Bến Lức), nghề kim hoàn (Phước Vân), nghề đóng ghe (Cần Đước),nghề làm trống (Tân Trụ),...

Các lễ hội là một phần trong văn hóa và đời sống xã hội của Long An như: Kỳ Yên, lễ hội cầu mưa và Tòng Phóng. Du khách sẽ hết sức thú vị với mô hình du lịch sinh thái Đồng Tháp Mười, nghe đờn ca tài tử cải lương – một loại hình dân ca đặc sắc của Nam bộ mà Long An là chiếc nôi của dòng dân ca này[14].

Dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến năm 2016, dân số toàn tỉnh Long An đạt 1.490.600 người, mật độ dân số đạt 323 người/km²[16] Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 268.700 người, chiếm 18,03% dân số toàn tỉnh[17], dân số sống tại nông thôn đạt 1.221.900 người, chiếm 81,97% dân số[18]. Dân số nam đạt 740.300 người[19], trong khi đó nữ đạt 750.300 người[20]. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 0.45%[21]

Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh Long An có 28 dân tộc cùng 23 người nước ngoài sinh sống. Trong đó dân tộc kinh có 1.431.644 người, Người Hoa có 2.690 người, 1.195 người Khơ Me cùng nhiều dân tộc khác, ít nhất là các dân tộc Cờ Lao, Chu RuRaglay chỉ có một người[22]...

Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, Toàn tỉnh Long An có 11 Tôn giáo khác nhau chiếm 206.999 người. Trong đó, nhiều nhất là Phật giáo với 125.118 người, tiếp theo đó là đạo Cao Đài với 98.000 người[23], thứ 3 là Công giáo 31.160 người cùng các tôn giáo it người khác như Đạo Tin Lành có 3.480 người, Phật giáo Hòa Hảo có 2.2221 người, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam có 242 người, Hồi Giáo có 230 người, Bửu Sơn Kỳ Hương có 43 người Minh Sư ĐạoMinh Lý Đạo mỗi đạo có 38 người, ít nhất là Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa với chỉ 11 người[22].

Y tế - Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2011, trên địa bàn toàn tỉnh có hơn 500 trường học ở cấp phổ thông trong đó có Trung học phổ thông có 48 trường, Trung học cơ sở có 122 trường, Tiểu học có 246 trường, bên cạnh đó còn có 183 trường mẫu giáo[24]. Với hệ thống trường học như thế, nền giáo dục trong địa bàn Tỉnh Long An cũng tương đối hoàn chỉnh, góp phần giảm thiểu nạn mù chữ trong địa bàn tỉnh[24]. Hệ thống trường tiêu biểu như:

Trường Chính trị Long An (1005 QL1A, Khánh Hậu, tp. Tân An, Long An - Tel: 072 3511 574)

Hệ thống trường Đại học:

Hệ thống trường Cao đẳng:

Trung cấp:

Ngoài ra, Long An còn có xây dựng thêm rất nhiều trường trung học phổ thông, cơ sở, tiểu học và rất nhiều trường mầm non trong địa bàn toàn tỉnh nhằm đáp ứng nhu cầu về giáo dục cho người dân.

Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Đến ngày 05 tháng 11 năm 2008, hệ thống y tế của tỉnh bao gồm: Bệnh viện tuyến tỉnh, 11 Bệnh viện tuyến huyện, 8 phòng khám khu vực và có 183/188 xã, phường, thị trấn có trạm y tế. Năm 2009, tỉnh Long An có 211 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế. Trong đó có 16 bệnh viện, 5 phòng khám đa khoa khu vực, và 190 trạm y tế phường xã, tổng số giường bệnh là 2.807 giường, trong đó các bệnh viện có 1.980 giường, phòng khám đa khoa khu vực có 95 giường, trạm y tế có 732 giường[25].

Theo thống kê về y tế năm 2011, trên địa bàn toàn tỉnh có 211 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế. Trong đó có 16 Bệnh viện, 5 phòng khám đa khoa khu vực, 190 Trạm y tế phường xã, với 3332 giường bệnh và 751 bác sĩ, 1034 y sĩ, 907 y tá và khoảng 455 nữ hộ sinh[26].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2013 phân theo địa phương”. Tổng cục Thống kê Việt Nam. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2015. 
  2. ^ a ă â Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2011 phân theo địa phương, Theo tổng cục thống kê.
  3. ^ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, theo Phân công trách nhiệm chỉ đạo điều hành của các thành viên UBND tỉnh nhiệm kỳ 2011-2016, Cổng thông tin điện tử Long An.
  4. ^ a ă â Vị trí địa lý và Điều kiện tự nhiên tỉnh Long An, Theo Cổng Thông tin điện tử tỉnh Long An.
  5. ^ a ă Khí hậu tỉnh Long An, theo website Tỉnh Long An.
  6. ^ a ă Giới thiệu tỉnh Long An, Theo trang Đồng hương Long An.
  7. ^ a ă â Tình trạng thuỷ triều tại Long An, Theo Cổng thông tin điện tử Long An.
  8. ^ Tình trạng xâm nhập mặn Tại Long An, Theo Cổng thông tin điện tử Long An.
  9. ^ trạng chua phèn tại Tỉnh Long An, Theo Cổng thông tin điện tử Long An.
  10. ^ a ă Tình hình lũ lụt của Long An, Theo Cổng thông tin điện tử Long An.
  11. ^ Việt Nam Cộng hòa bản đồ hành chánh. Đà Lạt: Phân cục Địa dư Quốc gia, 1967.
  12. ^ Đơn vị hành chính, Đất đai và Khí hậu Niên giám thống kê 2011, Tổng cục Thống kê Việt Nam.
  13. ^ Xả thải trực tiếp ra môi trường hơn 10 năm , tuoitre, 10.8.2016
  14. ^ a ă Thông tin tổng quan về tỉnh Long An, Diễn đàn tổng hợp kinh tế Đồng bằng sông Cửu Long.
  15. ^ Dân số trung bình phân theo địa phương qua các năm, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  16. ^ Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2011 phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  17. ^ Dân số thành thị trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  18. ^ Dân số nông thôn trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  19. ^ Dân số nam trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  20. ^ Dân số nữ trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  21. ^ Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  22. ^ a ă Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, Tổng cục Thống kê Việt Nam.
  23. ^ “KHOA NHAN HOC”. Truy cập 18 tháng 2 năm 2015. 
  24. ^ a ă Thống kê về Giáo dục Việt Nam, Niên giám thống kê 2011, Theo tổng cục thống kê Việt Nam
  25. ^ Theo thông tin từ Tổng cục thống kê
  26. ^ Y tế, Văn hoá, Thể thao và Mức sống dân cư , Tổng cục thống kê

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]