Yên Bái

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Yên Bái

Picto infobox map.png
Tỉnh
Emblem of Yenbai Province.png
BỨC HỌA ĐỒNG QUÊ - panoramio.jpg
Hành chính
Quốc giaViệt Nam
VùngTây Bắc
Tỉnh lỵThành phố Yên Bái
Phân chia hành chính1 thành phố, 1 thị xã, 7 huyện
Chính quyền
Chủ tịch UBNDĐỗ Đức Duy
Chủ tịch HĐNDPhạm Thị Thanh Trà
Chánh án TANDPhan Văn Tiến
Viện trưởng VKSNDLương Văn Thức
Bí thư Tỉnh ủyPhạm Thị Thanh Trà
Địa lý
Tọa độ: 21°41′35″B 104°52′22″Đ / 21,693161°B 104,872742°Đ / 21.693161; 104.872742Tọa độ: 21°41′35″B 104°52′22″Đ / 21,693161°B 104,872742°Đ / 21.693161; 104.872742
Diện tích6.887,6 km²
Dân số (2018)
Tổng cộng808.000 người[1]
Mật độ117 người/km²
Dân tộcViệt, Tày, Dao, H'Mông và một số dân tộc khác
Khác
Mã hành chínhVN-06, 15 [2]
Mã bưu chính32xxxx
Mã điện thoại216
Biển số xe21
Websitehttp://www.yenbai.gov.vn/

Yên Bái [3] là một tỉnh thuộc vùng trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam [2][4].

Vị trí[sửa | sửa mã nguồn]

Yên Bái nằm ở vùng Tây Bắc tiếp giáp với Đông Bắc. Phía đông bắc giáp hai tỉnh Tuyên QuangHà Giang, phía đông nam giáp tỉnh Phú Thọ, phía tây nam giáp tỉnh Sơn La, phía tây bắc giáp hai tỉnh Lai ChâuLào Cai. Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Yên Bái, cách thủ đô Hà Nội 180 km.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Yên Bái bao gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 7 huyện, trong đó có với 180 đơn vị hành chính cấp , gồm có 10 thị trấn, 13 phường và 157 .

Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Yên Bái
Tên Dân số (người)2018 Hành chính
Thành phố (1)
1. Yên Bái 125.000 9 phường, 8 xã
Thị xã (1)
2. Nghĩa Lộ 40.310 4 phường, 3 xã
Huyện (7)
3. Lục Yên 101.650 1 thị trấn, 23 xã
Tên Dân số (người)2018 Hành chính
4. Mù Cang Chải 60.740 1 thị trấn, 13 xã
5. Trạm Tấu 27.030 1 thị trấn, 11 xã
6. Trấn Yên 90.260 1 thị trấn, 21 xã
7. Văn Chấn 143.200 3 thị trấn, 28 xã
8. Văn Yên 107.810 1 thị trấn, 26 xã
9. Yên Bình 115.000 2 thị trấn, 24 xã

Địa hình[sửa | sửa mã nguồn]

Yên Bái có diện tích tự nhiên 6.882,9 km², nằm trải dọc đôi bờ sông Hồng.

Địa hình Yên Bái có độ dốc lớn, cao dần từ đông sang tây, từ nam lên bắc, độ cao trung bình 600 mét so với mực nước biển và có thể chia làm hai vùng: vùng thấp ở tả ngạn sông Hồng và lưu vực sông Chảy mang nhiều đặc điểm của vùng trung du; vùng cao thuộc hữu ngạn sông Hồng và cao nguyên nằm giữa sông Hồng và sông Đà có nhiều dãy núi. Đèo Khau Phạđèo hiểm trở và dài nhất trên tuyến quốc lộ 32 với độ dài trên 30 km.

Sông ngòi[sửa | sửa mã nguồn]

Đèo Khau Phạ trên Quốc lộ 32

Ngoài hai con sông lớn là sông Hồngsông Chảy, còn có khoảng 200 ngòi, suối lớn nhỏ và hồ, đầm. Đầu thập niên 1960, Nga giúp thiết kế hồ Thác Bà là hồ nước nhân tạo có diện tích mặt nước trên 20.000 ha, với khoảng 1.300 đảo lớn nhỏ. Hồ có sức chứa 3–3,9 tỷ m³ nước với mục đích ban đầu là chạy nhà máy thuỷ điện Thác Bà: Công trình thuỷ điện lớn đầu tiên ở Việt Nam.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Yên Bái có khí hậu đặc trưng của khí hậu cận nhiệt đới ẩm của miền bắc Việt Nam, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều, mùa đông phi nhiệt đới lạnh và khô.

Rừng[sửa | sửa mã nguồn]

Yên Bái có rừng nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới trên núi cao. Ở đây có gỗ quý pơ-mu sẽ tốt cho sức khỏe và đuổi muỗi nếu làm giường. Diện tích rừng chiếm 54%.

Khoáng sản[sửa | sửa mã nguồn]

đá đỏ Lục yên

Tài nguyên khoáng sản trữ lượng khá lớn như đá đỏ, sắt, thạch anh, đá fenspat, đá trắng Đông Nam Á.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Nông nghiệp: Đất nông nghiệp chiếm gần 10% diện tích tự nhiên, trong đó có cánh đồng Mường Lò rộng 2.300 ha nổi tiếng vùng Tây Bắc với nhiều sản vật có giá trị như: chè, quế, gạo nếp Tú Lệ, cam Lục Yên, nhãn Văn Chấn. Dân số Yên Bái phần lớn là nông dân, chiếm 85% tổng số dân trong huyện. Các sản phẩm nông nghiệp chính gồm có: lúa, cam, quế, ngô, khoai...

Công nghiệp: Vì là tỉnh miền núi, nên công nghiệp Yên Bái kém phát triển hơn so với các tỉnh miền xuôi. Sản phẩm công nghiệp chính gồm: chè khô, xi măng, gỗ,...

Dịch vụ: Dịch vụ ở Yên Bái phát triển tầm trung bình. Các ngành ngân hàng, buôn bán lớn, bất động sản đều tập trung ở các nơi đông đông dân cư, đô thị lớn như: thành phố Yên Bái, thị xã Nghĩa Lộ, các thị trấn đông đúc,... còn những vùng cao, miền núi thì dịch vụ là những phiên chợ vùng cao để trao đổi hàng hoá.

Tổng quát kinh tế Yên Bái: Nhìn chung Yên Bái có nền kinh tế khá đa dạng, nhưng Yên Bái vẫn là tỉnh nghèo. Yên Bái có tỷ lệ hộ nghèo là 20,2%. Trong đó hai huyện Mù Căng Chải và Trạm Tấu rất khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo hai huyện này lần lượt là 58% và 53%, đây cũng là 2 huyện nằm trong danh sách những huyện nghèo nhất nước. Các khu vực miền núi nhiều nơi có tỉ lệ nghèo vượt ngưỡng 80% đặc biệt là các xã vùng cao. Riêng miền xuôi những nơi như tp. Yên Bái, tx.Nghĩa Lộ, các huyện Lục Yên, Văn Yên,... thì kinh tế khá hơn, tỉ lệ nghèo ở những nơi này khoảng 9-16%.

Dân tộc[sửa | sửa mã nguồn]

Thổ cẩm bán trong chợ Mường Lò, Nghĩa Lộ

Hiện nay, toàn tỉnh có 800.100 người (năm 2016), gồm 30 dân tộc chung sống. Các dân tộc ở Yên Bái sống xen kẽ, quần tụ ở khắp các địa phương trên địa bàn của tỉnh, với những bản sắc văn hoá đậm nét dân tộc.gồm có các dân tộc Kinh,dân tộc Tày,dân tộc Dao,dân tộc Mông... 25% dân số sống ở đô thị và 75% dân số sống ở nông thôn.

Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh có 7 tôn giáo khác nhau đạt 49.624 người, nhiều nhất là Công giáo có 47.281 người, tiếp theo là Phật giáo đạt 1.898 người, đạo Tin Lành có 439 người. Còn lại các tôn giáo khác như đạo Cao Đài có 3 người, Phật giáo Hòa Hảo, đạo Cao ĐàiTịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam mỗi tôn giáo chỉ có 1 người.[5] Yên Bái cũng là địa phương có số dân theo Công giáo đông nhất vùng Tây Bắc Bộ với gần 50.000 tín hữu.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Yên Bái là một điểm sinh tụ của người Việt cổ, có nền văn hoá nhân bản, thể hiện ở những di vật, di chỉ phát hiện ở hang Hùm (Lục Yên), công cụ bằng đá ở Thẩm Thoóng (Văn Chấn), thạp đồng Đào Thịnh, Hợp Minh (Trấn Yên), trống đồng Minh Xuân (Lục Yên). Nhiều di chỉ khảo cổ được phát hiện, như đền, tháp, khu di tích lịch sử.

Được thành lập ngày 11 tháng 4 năm 1900, tỉnh Yên Bái được biết đến qua cuộc Khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc Dân Đảng vào thượng tuần tháng 2 năm 1930. Lãnh tụ là Nguyễn Thái Học đã bị thực dân Pháp bắt và đem hành quyết bằng máy chém ở Yên Bái cùng 12 đồng đội vào ngày 17 tháng 6 năm 1930.

Sau năm 1945, tỉnh Yên Bái có 5 huyện: Lục Yên, Than Uyên, Trấn Yên, Văn Bàn, Văn Chấn.

Ngày 29 tháng 4 năm 1955, tách 2 huyện Than UyênVăn Chấn để thành lập Khu tự trị Thái - Mèo[6], và sau là tỉnh Nghĩa Lộ.

Ngày 7 tháng 4 năm 1956, thành lập lại thị xã Yên Bái.

Ngày 1 tháng 7 năm 1956, chuyện huyện Yên Bình của tỉnh Tuyên Quang về tỉnh Yên Bái quản lý.

Ngày 16 tháng 12 năm 1964, thành lập 2 huyện Bảo Yên (tách ra từ 2 huyện Lục Yên và Văn Bàn) và Văn Yên (tách ra từ 2 huyện Trấn Yên và Văn Bàn)[7].

Ngày 27 tháng 12 năm 1975, tỉnh Yên Bái được hợp nhất với 2 tỉnh Lào CaiNghĩa Lộ thành tỉnh Hoàng Liên Sơn[8].

Ngày 12 tháng 8 năm 1991, tỉnh Hoàng Liên Sơn chia lại thành 2 tỉnh Lào Cai và Yên Bái. Tỉnh Yên Bái được tái lập, gồm thị xã Yên Bái và 7 huyện: Lục Yên, Mù Cang Chải, Trạm Tấu, Trấn Yên, Văn Chấn, Văn Yên, Yên Bình[9] (riêng hai huyện Bảo YênVăn Bàn lúc này thuộc tỉnh Lào Cai).

Ngày 15 tháng 5 năm 1995, tái lập thị xã Nghĩa Lộ trên cơ sở điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và dân số của huyện Văn Chấn[10].

Ngày 11 tháng 1 năm 2002, chuyển thị xã Yên Bái thành thành phố Yên Bái[11].

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Đường vào huyện Trạm Tấu
Nhà thờ Nghĩa Lộ

Giao thông ở Yên Bái có hệ thống đường sắt, đường bộ, đường thuỷ, quốc lộ 32, 3770 chạy qua tỉnh. Thông thương từ Yên Bái đến các tỉnh lân cận của miền Tây Bắc và Việt Bắc ngày càng phát triển nhất là khi hệ thống đường bộ đang tiếp tục được hoàn thiện, tuyến đường sắt Hà Nội - Yên Bái - Lào Cai nối liền tới Côn Minh, Trung Quốc được nâng cấp.

Đặc sản, lâm thổ sản[sửa | sửa mã nguồn]

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Núi Tà Chì Nhù (Phu Song Sung)

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh có truyền thống từ lâu và chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả quan trọng trong những năm gần đây. Hệ thống giáo dục và đào tạo được củng cố, phát triển. Quy mô giáo dục tăng nhanh, các cấp học, ngành học từ giáo dục mầm non đến giáo dục đại học, từ giáo dục chính quy đến giáo dục thường xuyên dần hoàn thiện. Công tác đào tạo đã có một số chuyển biến tích cực, đáp ứng một phần nguồn nhân lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Hiện nay toàn ngành đang tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Nghị quyết về đẩy mạnh phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2009 - 2015.

Một số trường học có uy tín tại Yên Bái:

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Niên giám Thống kê 2016 - Dân số và Lao động”. Tổng cục Thống kê Việt Nam. tr. 27. 
  2. ^ a ă Quyết định số 124/2004/QĐ-TTg của Chính phủ ngày 08/07/2004 ban hành Danh mục và mã số các đơn vị hành chính Việt Nam có đến 30/6/2004. Thuky Luat Online, 2016. Truy cập 11/04/2019.
  3. ^ “Đại Nam thực lục”. Google Books. Truy cập 8 tháng 2 năm 2015. 
  4. ^ Tập bản đồ hành chính Việt Nam. Nhà xuất bản Tài nguyên – Môi trường và Bản đồ Việt Nam. Hà Nội, 2013.
  5. ^ Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, Tổng cục Thống kê Việt Nam.
  6. ^ Sắc lệnh số 230/SL về việc ban hành quy định thành lập Khu tự trị Thái Mèo do Chủ tịch nước ban hành
  7. ^ Quyết định 177-CP năm 1964 về việc điều chỉnh địa giới của một số huyện thuộc các tỉnh Lạng Sơn, Yên Bái và Thanh Hóa do Hội đồng Chính phủ ban hành
  8. ^ Nghị quyết của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về việc hợp nhất một số tỉnh
  9. ^ Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Quốc hội ban hành
  10. ^ Nghị định 31-CP năm 1995 về việc thành lập thị xã Nghĩa Lộ và điều chỉnh địa giới hành chính giữa thị xã Nghĩa Lộ và huyện Văn Chấn thuộc tỉnh Yên Bái
  11. ^ Nghị định 05/2002/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Yên Bái thuộc tỉnh Yên Bái

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]