Tuyên Quang

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tuyên Quang
Tỉnh
Logo Tuyen Quang.PNG
Cây Đa lịch sử Tân Trào.JPG
Cây đa lịch sử Tân Trào
Địa lý
Tọa độ: 21°46′38″B 105°13′42″Đ / 21,777355°B 105,228424°Đ / 21.777355; 105.228424Tọa độ: 21°46′38″B 105°13′42″Đ / 21,777355°B 105,228424°Đ / 21.777355; 105.228424
Diện tích 5.867,3 km²[1]
Dân số (2011)  
 Tổng cộng 730.800 người[1]
 Mật độ 125 người/km²
Dân tộc Việt, Tày, Dao, Sán Chay
Hành chính
Quốc gia Cờ Việt Nam Việt Nam
Vùng Đông Bắc
Tỉnh lỵ Thành phố Tuyên Quang
Thành lập 4/11/1831[2]
 Chủ tịch UBND Chẩu Văn Lâm
 Chủ tịch HĐND Nguyễn Sáng Vang
 Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Sáng Vang
Phân chia hành chính 1 thành phố, 6 huyện
Mã hành chính VN-07
Mã bưu chính 30xxxx
Mã điện thoại 27
Biển số xe 22
Website http://www.tuyenquang.gov.vn/

Tuyên Quang là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Có tỉnh lỵ là Thành phố Tuyên Quang.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh có phía Bắc giáp tỉnh Hà Giang, phía Đông Bắc giáp Cao Bằng, phía Đông giáp Bắc KạnThái Nguyên, phía Nam giáp Vĩnh Phúc, phía Tây-Nam giáp Phú Thọ, phía Tây giáp Yên Bái.

Tuyên Quang nằm ở trung tâm của lưu vực sông Lô. sông Gâm chảy qua tỉnh theo hướng Bắc-Nam và nhập vào sông Lô ở phía Tây Bắc huyện Yên Sơn chỗ giáp ranh giữa ba xã Phúc Ninh, Thắng Quân và Tân Long.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tuyên Quang nguyên cũng là một vùng đất thuộc xứ Thái, nhưng từ thế kỷ 13 đã chịu sự kiểm soát của triều đình Việt Nam dưới đời nhà Trần. Triều Trần gọi là lộ Quốc Oai, sau đổi là châu Tuyên Quang. Dưới đời vua Trần Hiến Tông (niên hiệu Khai Hữu, 1329-1341), châu Tuyên Quang đổi thành trấn, rồi thành phủ Tuyên Hóa dưới thời Minh thuộc.

Sau khi vua Lê Thái Tổ đuổi xong giặc Minh, ngài đặt phủ Tuyên Hóa thuộc Tây Đạo. Đời vua Lê Thánh Tông, Tuyên Quang gồm một phủ và năm huyện và trở thành tỉnh Minh Quang dưới triều vua Lê Uy Mục. Đời Lê Trang Tông, đổi Minh Quang thành doanh An Tại, cho dòng họ người Thái làm doanh trưởng.

Thời gian các chúa Bầu cát cứ[sửa | sửa mã nguồn]

Cánh đồng lúa xen với cây cọ tại Tuyên Quang

Họ Vũ trấn trị Tuyên Quang gần 200 năm, từ 1527 đến 1699.

Vũ Văn Uyên vốn là một thanh niên khỏe mạnh, gan dạ. Thời vua Lê Chiêu Tông, vì phạm tội giết người, trốn lên ngụ ở trấn Đại Đồng (phủ Tuyên Quang). Bấy giờ người tù trưởng Đại Đồng bị nhân dân oán ghét, tình hình Đại Đồng rất lộn xộn. Vũ Văn Uyên thấy vậy bèn tập hợp lực lượng riêng, thừa cơ giết chết người tù trưởng, ổn định tình hình địa phương rồi chiếm luôn đất đó, trở thành người trấn trị Đại Đồng (thuộc các tỉnh Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái của Việt Nam hiện nay). Vua Lê Chiêu Tông phong cho ông làm Đô thống sứ trấn Tuyên Quang, tước Khánh Bá Hầu. Vũ Văn Uyên đóng căn cứ tại thành Nghị Lang, giữ vững cả miền Tuyên Quang, Hưng Hóa, cát cứ một phương, không chịu theo nhà Mạc khi Mạc Đăng Dung lên nắm quyền.

Họ Vũ nhân thời loạn tự lập ở Tuyên Quang, chống chính quyền cai trị ở Thăng Long. Thời Nam Bắc triều, họ Vũ không theo nhà Mạc mà theo nhà Lê trung Hưng ở Thanh Hoá, nhưng khi nhà Lê Trung Hưng về Thăng Long, họ Vũ cũng không thần phục hoàn toàn. Các đời họ Vũ trấn giữ trên thành ở núi Bầu nên được gọi chung là Chúa Bầu, xây dựng nên một hệ thống thành nhà Bầu rộng khắp rất nhiều trong một vùng rộng lớn suốt từ ngã ba Đoan Hùng ngược lên hết địa phận huyện Lục Yên.

Năm 1699, Vũ Công Tuấn bị triều đình vua Lê chúa Trịnh bắt và giết. Triều đình đặt chức Lưu thủ ở Tuyên Quang để điều khiển các tộc trưởng Thái.

Tuyên Quang thời nhà Nguyễn[sửa | sửa mã nguồn]

Vào đầu thế kỷ 19, Tuyên Quang gồm 1 phủ là phủ Yên Bình. Phủ này quản lý 1 huyện và 5 châu[3]:

  • Huyện Phúc Yên (nay là phần đất thuộc thành phố Tuyên Quang, các huyện Yên Sơn, Chiêm Hóa tỉnh Tuyên Quang) gồm 10 tổng: Trung Môn, Yên Lũng, Yên Lĩnh, Hằng Túc, Hùng Dị, Kim Đô, Hoàng Sơn, Đồng Yên, Lăng Quán, Bình Ca;
  • Châu Lục Yên (nay là phần đất thuộc huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái);
  • Châu Thu Vật (năm 1823 đổi tên là châu Thu (Thu Châu), nay là phần đất thuộc huyện Yên Bình tỉnh Yên Bái) gồm 7 tổng: Vĩnh Kiên, Đại Đồng, Ẩm Phúc, Cẩm Nhân, Mông Sơn, Ngọc Chấn, Thì Ngạn;
  • Châu Vị Xuyên (nay là phần đất thuộc tỉnh Hà Giang);
  • Châu Bảo Lạc (nay là phần đất thuộc các huyện Mèo Vạc, Bắc Mê, Yên Minh tỉnh Hà Giang và các huyện Bảo Lâm, Bảo Lạc tỉnh Cao Bằng);
  • Châu Đại Man (nay là phần đất thuộc các huyện Na Hang,... tỉnh Tuyên Quang);

Vua Gia Long lại đổi thành trấn Tuyên Quang, rồi trở thành tỉnh dưới triều Minh Mạng. Khi Pháp mới xâm chiếm Việt Nam, phủ Yên Bình là căn cứ kháng chiến chống giặc Pháp. Người Thái, Mường, Mèo, Thổ, Nùng cùng với dân quân các tỉnh lân cận đánh quân Pháp nhiều trận khốn đốn vào những năm 1884, 1885; thêm vào đó, quân Cờ Đen quấy nhiễu vùng Tuyên Quang khá lâu. Mãi tới năm 1894, Pháp mới hoàn toàn chiếm được tỉnh này.

Sau năm 1954, Tuyên Quang có tỉnh lị là thị xã Tuyên Quang và 6 huyện: Yên Bình, Yên Sơn, Na Hang, Hàm Yên, Sơn DươngChiêm Hóa.\

Ngày 1 tháng 7 năm 1956, chuyển huyện Yên Bình về tỉnh Yên Bái quản lý.

Sau năm 1975, Tuyên Quang được hợp nhất với tỉnh Hà Giang thành tỉnh Hà Tuyên.

Ngày 12 tháng 8 năm 1991, tỉnh Tuyên Quang được tái lập, có 6 đơn vị hành chính gồm thị xã Tuyên Quang và 5 huyện: Chiêm Hóa, Hàm Yên, Na Hang, Sơn Dương, Yên Sơn.

Ngày 2 tháng 7 năm 2010, chuyển thị xã Tuyên Quang thành thành phố Tuyên Quang.[4]

Ngày 28 tháng 1 năm 2011, thành lập huyện Lâm Bình trên cơ sở tách 5 xã thuộc huyện Na Hang và 3 xã thuộc huyện Chiêm Hóa.[5]

Tuyên Quang có diện tích 5.868 km² (đứng thứ 25 trên cả nước) và dân số 727.751 người (Đứng thứ 53 trên cả nước), mật độ trung bình khoảng 124 người/1 km². Dân cư Tuyên quang phát triển rất nhanh...

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Tuyên Quang gồm có 1 Thành phố và 6 huyện với 141 đơn vị cấp xã gồm 7 phường, 5 thị trấn và 129 xã[6].

Tên Loại hành chính Dân số (2003) Diện tích (km²) thị trấn (đậm)
(xã)
Tuyên Quang (thành phố) 139,000[7] 119.17 [7] (phường): Hưng Thành, Nông Tiến, Ỷ La, Minh Xuân, Phan Thiết, Tân Quang, Tân Hà. : Tràng Đà, An Tường, Lưỡng Vượng, An Khang, Thái Long, Đội Cấn.
Chiêm Hoá (huyện) 124,337[8] 1280.379[8] Vĩnh Lộc Town, Minh Quang, Trung Hà, Hà Lang, Phúc Sơn, Tân Mỹ, Hùng Mỹ, Tân An, Hòa An, Trung Hòa, Nhân Lý, Bình Nhân, Vinh Quang, Kim Bình, Tri Phú, Linh Phú, Ngọc Hội, Phú Bình, Bình Phú, Kiên Đài, Yên Lập, Xuân Quang, Phúc Thịnh, Tân Thịnh, Yên Nguyên, Hòa Phú.
Hàm Yên (huyện) 104,648[7] 346.7[7] Tân Yên Town, Hùng Đức, Bằng Cốc, Thành Long, Thái Hòa, Đức Ninh, Thái Sơn, Bình Xa, Nhân Mục, Yên Phú, Tân Thành, Minh Hương, Phù Lưu, Minh Dân, Yên Lâm, Minh Khương, Bạch Xa, Yên Thuận.
Lâm Bình (huyện) 29,459[8] 781.522[8] Lăng Can, Thượng Lâm, Khuôn Hà, Phúc Yên, Xuân Lập, Bình An, Thổ Bình, Hồng Quang.
Na Hang (huyện) 41,868[8] 865.497[8] Na Hang Town, Năng Khả, Thanh Tương, Sơn Phú, Đà Vị, Yên Hoa, Côn Lôn, Sinh Long, Khâu Tinh, Thượng Giáp, Thượng Nông, Hồng Thái.
Sơn Dương (huyện) 174,118 [7] 789[7]
Yên Sơn (huyện) 175,917[7] 1210[7] Tân Bình Town, Đội Bình, Nhữ Khê, Nhữ Hán, Mỹ Bằng, Phú Lâm, Kim Phú, Hoàng Khai, Chân Sơn, Trung Môn, Lang Quán, Thắng Quân, Tứ Quận, Phúc Ninh, Chiêu Yên, Lực Hành, Quý Quân, Xuân Vân, Tân Long, Tân Tiến, Trung Trực, Kiến Thiết, Đạo Viện, Phú Thịnh, Thái Bình, Tiến Bộ, Công Đa, Kim Quan, Trung Sơn, Hùng Lợi, Trung Minh.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tuyên Quang là tỉnh miền núi, nền kinh tế nông-lâm nghiệp chiếm ưu thế, mô hình kinh tế trang trại kết hợp nông lâm. Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011, tỉnh Tuyên Quang xếp ở vị trí thứ 56/63 tỉnh thành.[9]

Nông nghiệp: lúa là cây lương thực chính, sau đó là các cây ngô, sắn, khoai lang. Cây công nghiệp gồm có: chè (nhà máy chè Tuyên Quang, Tháng Mười, Tân Trào), cây sả làm tinh dầu sả, lạc, đậu, tương. Cây ăn quả có: cam, quýt, nhãn, vải, chanh. Chăn nuôitrâu, , lợn, , gia cầm...

Công nghiệp: có quặng kẽm, quặng mangan, quặng thiếc, bột kẽm, khai thác ăntimoan... Sản xuất giấy, bột giấy, xi măng, vôi.

Có nhà máy thủy điện Tuyên Quang được đưa vào sử dụng chính thức ngày 30 tháng 1 năm 2008, công suất thiết kế đạt 342 MW.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Giao thông vận tải gồm có: Vận tải đường bộ và vận tải đường thủy.

Đường bộ[sửa | sửa mã nguồn]

1. Các tuyến Quốc lộ:

Tổng chiều dài: 340,6 km. Gồm có 4 quốc lộ:

Quốc lộ 2: Điểm đầu tại km 115 00 (thuộc xã Đội Bình huyện Yên Sơn), điểm cuối km 205 00 (thuộc xã xã Yên Lâm huyện Hàm Yên), chiều dài 90 km.

Quốc lộ 37: Điểm đầu km 172 800 (từ đỉnh Đèo KhếHợp Thành - Sơn Dương) điểm cuối km236 748 phà Hiên và km238 108 cầu Bỗng (thuộc xã Mỹ Lâm huyện Yên Sơn, chiều dài 63,4 km (không kể 4.0 km đi chung QL.2).

Quốc lộ 2C: Điểm đầu km 49 750 (thuộc xã Sơn Nam huyện Sơn Dương), điểm cuối km147 250 (thuộc xã Lăng Quán huyện Yên Sơn), chiều dài 91,2 km (không kể 6,3 km đi chung QL.37).

Quốc lộ 279: Từ xã Hồng Quang huyện Chiêm Hóa đến xã Đà Vị huyện Na Hang, chiều dài 96 km.

2. Các tuyến đường tỉnh: Gồm có 6 tuyến, tổng chiều dài 392,6 km trong đó:

Tuyến ĐT.185: Điểm đầu km 211 470 (thuộc xã Nông Tiến, thị xã Tuyên Quang), điểm cuối thị trấn Vĩnh Lộc, huyện Chiêm Hóa dài 74,1 km.

Tuyến ĐT.186: Điểm đầu km 55 Quốc lộ 2C (Ngã ba Sơn Nam, huyện Sơn Dương), điểm cuối km 234 400 Quốc lộ 37 (thuộc xã Mỹ Bằng huyện Yên Sơn), chiều dài 84 km.

Tuyến ĐT.187: Điểm đầu đường ĐT.176 cũ (Đài Thị), điểm cuối đỉnh đèo Keo Mác huyện Chiêm Hóa, chiều dài: 17 km.

Tuyến ĐT.188: Điểm đầu từ Thị trấn huyện Chiêm Hóa, điểm cuối xã Bình An huyện Chiêm Hóa, chiều dài: 40 km (không kể 5 km đi chung QL.279).

Tuyến ĐT.189: Điểm đầu km 5 700 (thuộc xã Bình Xa, huyện Hàm Yên), điểm cuối thôn Lục Khang xã Yên Thuận huyện Hàm Yên, chiều dài: 61,5Km.

Tuyến ĐT.190: Điểm đầu Km 166 QL.2 (thuộc xã Thái Sơn, huyện Hàm Yên), điểm cuối xã Thượng Giáp huyện Nà Hang, chiều dài: 116 km (không kể 35 km đi chung QL.279).

3. Các tuyến đường huyện: Là đường nối từ trung tâm hành chính của huyện với trung tâm hành chính của xã, cụm xã hoặc trung tâm hành chính của huyện lân cận; đường nối đường tỉnh với trung tâm hành chính của xã hoặc trung tâm cụm xã. Tổng chiều dài các tuyến đường huyện trong tỉnh là 579,8 km. Bao gồm:

Huyện Na Hang: gồm 11 tuyến =122,5 km.

Huyện Chiêm Hóa: gồm 11 tuyến=146,0 km.

Huyện Hàm Yên: gồm 6 tuyến= 57,2 km.

Huyện Yên Sơn: gồm 14 tuyến=129,5 km.

Huyện Sơn Dương: gồm 12 tuyến=124,6 km

4. Các tuyến đường đô thị:

Chiều dài 141,71 km, là các đường giao thông nằm trong phạm vi địa giới hành chính thị xã Tuyên Quang, các thị trấn huyện lỵ và khu Di tích lịch sử Tân Trào.

Đường thủy[sửa | sửa mã nguồn]

Sông khai thác vận tải được:

Sông Lô: dài 156 km, TW quản lý: 85 km (Phan lương – N3 Lô Gâm) - Sà lan < 200 T hoạt động mùa nước, Tuyên Quang quản lý: 71 km (N3 Lô Gâm – Bạch xa)- Đò ngang

Sông Gâm: dài 109 +70 km, TW quản lý: 33 km (N3 Lô Gâm – Chiêm Hóa) 33 km (tầu, thuyền < 40T), Tuyên Quang quản lý: 76 km (Chiêm Hóa - Thuý Loa) 37 km (Chiêm Hóa - Na Hang) Thuyền < 5 T

2- Bến đò: Tổng số bến 44, Trong đó có giấy phép mở bến: 28

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Di tích lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lán Nà Lừa - nơi ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Tuyên Quang
  • Di tích lịch sử Tân Trào Tân Trào là xã nằm trong thung lũng nhỏ ở Đông Bắc huyện Sơn Dương (Tuyên Quang) được bao bọc bởi núi Hồng ở phía Đông, núi Thoa, ngòi Thia ở phía Nam, núi Bòng ở phía Tây… Để đến được Tân Trào, trước đây chỉ có 2 đường mòn xuyên qua rừng rậm và đèo cao. Ngày nay, đến Tân Trào đã có đường ô tô rất thuận tiện. Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt.
  • Khu di tích Kim Bình, xã Kim Bình, huyện Chiêm Hóa
  • Khu di tích Kim Quan, xã Kim Quan, huyện Yên Sơn
  • Khu di tích Làng Ngòi - Đá Bàn, xã Mỹ Bằng, huyện Yên Sơn
  • Khu di tích Chiến thắng Khe Lau, xã Phúc Ninh và xã Thắng Quân, huyện Yên Sơn

Tân Trào là tên mới, được hợp nhất từ hai xã Tân LậpHồng Thái vào năm 1945 (trước đây còn gọi là Kim LongKim Châu). Gắn liền với chiến công oanh liệt của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, ngày nay Tân Trào có nhiều di tích lịch sử quan trọng như đình Tân Trào, đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào, lán Nà Lừa, hang Bòng

Cây đa lịch sử Tân Trào

Danh lam, thắng cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quần thể hang động xã Yên Phú, huyện Hàm Yên: danh thắng quốc gia
  • Động Song Long - xã Khuôn Hà, huyện Lâm Bình: danh thắng quốc gia
  • Hang Phia Vài - xã Khuôn Hà, huyện Lâm Bình: danh thắng quốc gia
  • Thác Mơ - Na Hang Cách thị xã Tuyên Quang 100 km, thác Mơ nằm giữa khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang. Lối vào thác là con đường rải nhựa ngoằn ngoèo chạy dưới tán rừng nguyên sinh. Từ hồ nước trong xanh vời vợi trên đỉnh núi Pắc Ban, từng ngọn thác mềm mại, trắng xoá đổ xuống chân núi.
  • Suối nước khoáng Mỹ Lâm Nằm ở địa phận huyện Yên Sơn, Tuyên Quang, suối là một trong những địa chỉ nghỉ dưỡng và chữa bệnh yên tĩnh, thoáng mát. Nguồn nước khoáng ở đây rất tốt cho việc điều trị các bệnh về cơ, xương, khớp...

Kết nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Hưởng ứng phong trào kết nghĩa Bắc - Nam, tỉnh Tuyên Quang kết nghĩa với tỉnh Bình Thuận[10][11]. Tại thành phố Phan Thiết có một con đường và một trường tiểu học mang tên "Tuyên Quang" và tại thị xã Tuyên Quang có một phường và một trường trung học cơ sở mang tên "Phan Thiết".

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]