Lê Uy Mục

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê Uy Mục Đế
黎威穆帝
Hoàng đế Việt Nam (chi tiết...)
hoàng đế nhà Hậu Lê
Trị vì 1505 - 1509
Tiền nhiệm Lê Túc Tông
Kế nhiệm Lê Tương Dực
Thông tin chung
Thê thiếp Uy Mục Trần hoàng hậu
Lê Quý phi
Tên húy Lê Tuấn (黎濬)
Lê Huyên (黎諠)
Lê Nghị (黎誼)
Niên hiệu Đoan Khánh (端慶)
Thụy hiệu Mẫn Lệ công (愍厲公)
Uy Mục hoàng đế (威穆皇帝)
Triều đại Nhà Hậu Lê
Thân phụ Lê Hiến Tông
Thân mẫu Chiêu Nhân Duệ hoàng hậu
Sinh 5 tháng 5, 1488
Đông Kinh
Mất 1 tháng 12, 1509 (21 tuổi)
cửa Lệ Cảnh, Đông Kinh
An táng An Lăng (安陵)

Lê Uy Mục (chữ Hán: 黎威穆; 5 tháng 5, 14881 tháng 12, 1509), đôi khi còn gọi là Mẫn Lệ công (愍厲公), là vị hoàng đế thứ 8 của nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam. Ông được xem là một vị Hoàng đế tàn bạo và tàn nhẫn, nổi tiếng là một bạo chúa, người đời gọi là Quỷ vương (鬼王).

Uy Mục Đế không chăm lo chính sự, hằng đêm đều cùng cung nhân uống rượu, khi say thì giết chết tất cả. Triều chính đều rơi vào tay ngoại thích và bọn hoạn quan, cung đình đều bị nhơ nhuốc. Ông một tay dần giết hại các đại thần như Đàm Văn Lễ, Nguyễn Quang Bật, chén ép Nguyễn Văn Lang khiến ông này phải chạy đi, vì tất cả đều không thuận lập uy Mục sau khi Hiến Tông qua đời. Đã vậy, ông còn nghi kị tông thất, giết cả anh em cha chú của mình, từ quần thần đến thân thuộc đều lo sợ, càng quyết tâm phản loạn.

Năm 1509, Giản Tu công Lê Oanh, con trai của chú uy Mục là Kiến vương Lê Tân, phất cờ nổi dậy ở Tây Đô (Thanh Hóa), dẫn binh tràn vào kinh thành, phế truất và bắt giam Uy Mục[1]. Cuối cùng, Uy Mục uống thuốc độc tự sát, xác ông bị đem đi nhét vào súng thần công đem bắn tan nát.

Thiếu thời[sửa | sửa mã nguồn]

Uy Mục hoàng đế có tên húyLê Tuấn (黎濬), còn có tên là Lê Huyên (黎諠) hay Lê Nghị (黎誼), con trai thứ hai của Hiến Tông Duệ hoàng đế, mẹ là Chiêu Nhân Duệ hoàng hậu Nguyễn Cận, người làng Phù Chẩn, huyện Đông Ngàn, Bắc Giang.

Hiến Tông hoàng đế có 6 người con trai: con cả là An vương Lê Tuân [安王黎洵] do Từ Trinh Liêm hoàng hậu sinh; con thứ 2 tức là Lê Tuấn; con thứ 3 là Túc Tông Khâm hoàng đế do Trang Thuận Duệ hoàng hậu sinh[1]; con thứ 4 là Thông vương Lê Dung [通王黎溶] do Bùi Quý phi sinh ra; con thứ 5 là Minh vương Lê Trị [明王黎治] và cuối cùng là Tư vương Lê Dưỡng [思王黎瀁].

Chiêu Nhân hoàng hậu sinh thời thân phận hèn kém, bị Huy Gia thái hậu xem thường. Ngày 5 tháng 5, năm Hồng Đức thứ 19 (1488), giờ Tỵ, bà sinh ra ông rồi qua đời do băng huyết, ông được giao cho Nguyễn Kính phi nuôi nấng. Kính phi không có con, xem ông như con đẻ và lo lắng hết mọi việc.

Đến khi Túc Tông Khâm hoàng đế băng hà, Huy Gia thái hậu không chịu lập ông lên ngôi. Kính phi cùng đại thần Nguyễn Nhữ Vy bày mưu lừa Thái hậu, cùng các đại thần đã về phe nhanh chóng sắp xếp mới có thể đưa được ông lên ngôi. Thái hậu quay về không vui, bà cho rằng mẹ ông là người thấp hèn, nên ông cũng sẽ chẳng ra gì, điều này khiến Lê Tuấn oán hận Thái hậu.

Ngày 18 tháng 12, năm 1505, Lê Tuấn lên ngôi, tự xưng làm Quỳnh Đô động chủ (瓊都洞主), đặt niên hiệu là Đoan Khánh (端慶), đại xá thiên hạ. Tôn tổ mẫu Huy Gia thái hậu làm Thái hoàng thái hậu.

Quỷ vương[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 22 tháng 3, năm Đoan Khánh thứ nhất (1505), Thái hoàng thái hậu đột ngột qua đời, hưởng thọ 65 tuổi. Uy Mục oán hận Thái hoàng thái hậu, cho rằng bà đã xúc phạm, nhục mạ mẹ ruột của mình, nên khi vừa lên ngôi, ngầm sai bọn thân tín giết chết Thái hoàng thái hậu. Sau, ông ban bố nghỉ chầu 7 ngày, dâng thụy hiệu cho bà tỏ lòng kính trọng.

Ngày 5 tháng 6, cũng năm ấy, ông giết quan Lễ bộ Thượng thư là Đàm Văn Lễ và quan Đô ngự sử là Nguyễn Quang Bật. Khi Hiến Tông mất, Văn lễ và Quang Bật không chịu lập ông lên ngôi mà quyết ý lập Túc Tông, ông căm giận lắm[1]. Đến đây, dùng mưu của Khương Chủng, Nguyễn Nhữ Vi mà biếm hai người làm Thừa tuyên sứ Quảng Nam. Khi họ đến sông lớn huyện Chân Phúc, ông sai người đuổi theo bắt phải tự tử. Hai người khi sắp gieo mình xuống nước, ngâm thơ quốc ngữ rồi mới mất. Sau đình thần trong bụng ai cũng biết là hai người chết không đáng tội, can ông, ông đổ tội cho Nhữ Vi rồi giết y.

Uy Mục còn ra lệnh cho giết hết những người Chiêm bị bắt làm gia nô trong các điền trang của các thế gia, công thần. Ông từ khi lên ngôi, đêm nào cũng cùng với cung nhân uống rượu, rồi đến khi say thì giết đi. Phó sứ thần Trung QuốcHứa Thiên Tích (許天錫) sang, trông thấy Uy Mục, làm thơ gọi Uy Mục là Quỷ vương (鬼王):

An nam tứ bách vận vưu trường
Thiên ý như hà giáng quỷ vương?
(Dịch:
Vận An Nam còn dài bốn trăm năm
Ý trời sao lại sinh ra vua quỷ?)

Sự tàn bạo của Uy Mục đã gây nên một làn sóng bất bình trong dân chúng và trong hàng ngũ quan lại, tông thất. Quyền hành trong triều rơi vào tay họ ngoại của hoàng đế[1]. Bấy giờ, uy quyền thuộc về họ ngoại, phía đông thì làng Hoa Lăng (quê của Kính phi), phía tây thì làng Nhân Mục (quê của Trần hoàng hậu), phía bắc thì làng Phù Chẩn (quê của Chiêu Nhân thái hậu) đều chuyên cậy quyền thế, vùi dập các quan, kẻ thì vì ý riêng mà giết hại sinh dân, kẻ thì dùng ngón kín mà yêu sách tiền của, mọi thứ súc vật, hoa màu của dân, chúng đều cướp đoạt cả, nhà nào có đồ lạ, vật quý, chúng đánh dấu chữ vào và đòi lấy. Muôn dân ta oán mà hoàng đế vẫn không chừa, lại mang lòng ngờ vực, đố kỵ.

Các quan người nào ngày trước không lập mình, thì thường giết đi. Lại ngầm sai nội nhân Nguyễn Đình Khoa dò xét cả 26 thân vương là các chú và anh em của ông. Trong đó, Kinh vương Lê Kiện là chú đã chạy trốn không biết đi đâu, chỉ có Giản Tu công là con của Kiến vương Lê Tân, chú ruột của hoàng đế, thì bị giam vào ngục nhưng trốn thoát được. Do vậy, mọi người đều cảm thấy nguy đến thân mình, càng nghĩ đến việc nổi loạn.

Bị lật đổ[sửa | sửa mã nguồn]

Trong số các con của Kiến vương Lê Tân bị bắt giam, Giản Tu Công Lê Oanh đút tiền cho người canh ngục mới được ra, trốn về Tây Đô (Thanh Hoá), được một công thần bị đuổi là Nguyễn Văn Lang[2] lập làm minh chủ nổi dậy chống lại Uy Mục đế. Lương Đắc Bằng được lệnh viết hịch kêu gọi bá quan, đại khái là:[1]

Ngoài ra, phe Giản Tu công Lê Oanh cũng có bài hịch như sau:[1]

Tháng 11 năm 1509, Giản Tu công giả xưng là Cẩm Giang Vương Lê Sùng (黎漴)[5] ở Tây Đô đưa quân về Đông Kinh (Hà Nội).Uy Mục bèn bắt giết Lê Sùng và mẹ của Lê Oanh là Trịnh Thị Tuyên. Giản Tu công vào chiếm kinh thành bắt được và bức Uy Mục tự tử ngày 1 tháng 12 năm 1509.

Giản Tu công Lê Oanh hận Uy Mục giết hại gia đình mình, chưa nguôi giận, sai người dùng súng lớn, để xác Uy Mục vào miệng súng, cho nổ tan hết hài cốt, chỉ lấy ít tro tàn về chôn tại An Lăng ở quê mẹ ông tại làng Phù Chẩn[1]. Lê Uy Mục ở ngôi được 4 năm, thọ 21 tuổi. Giản Tu công lên ngôi, tức Lê Tương Dực.

Ban đầu, Tương Dực đế giáng ông xuống làm Mẫn Lệ công (愍厲公). Sau Chiêu Tông Thần hoàng đế lên ngôi mới đặt tên thụy cho ông là Uy Mục hoàng đế (威穆皇帝).

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Theo sách Hồng Thuận Trị bình bảo phạm:[1]

"Đời Đoan Khánh, bọn hoạn quan thọc vào chính sự, kẻ ngoại thích mặc sức chuyên quyền, pháp lệnh phiền hà, kỷ cương rối loạn, nông tang tiêu tàn mất nghiệp, phong tục ngày một suy đồi, thực rất đáng thương tâm. Huống chi, lại tàn sát người cốt nhục, hãm hại kẻ bề tôi, những việc làm như vậy thì muốn không bị diệt vong có được không?"

Còn sách Hồng Thuận Trung hưng ký của Nguyễn Dục cũng ghi nhận:[1]

"Mẫn Lệ công thất đức, bọn Chủng, Thắng chuyên quyền. Thừa Nghiệp là thằng nhãi chăn trâu mà kiêm coi cả phủ Tông nhân; Tử Mô là đứa trẻ bán cá lại trông giữ hết quân Túc vệ. Tiến dùng bè lũ sai lang, đua mở rộng đường hối lộ. Xây phủ đệ thì rừng núi các xứ Thái Nguyên, Tuyên Quang không còn cây để lấp nguồn dục vọng, đòi mắm muối thì sông biển các vùng Nghệ An, Yên Bang không còn cá mà nhét miệng đói thèm. Gươm Thái A trở ngược[6], đồ thần khí lung lay[7], tai dị sinh luôn, hạ dân ta oán, bị diệt vong là đáng lắm rồi."

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú giải[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e ê Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 14
  2. ^ Văn Lang cùng họ với Nguyễn Đức Trung, Đức Trung là cha của Huy Gia thái hoàng thái hậu, do đó giữa Uy Mục và Văn Lang có hiềm khích
  3. ^ Tức Tông nhân lệnh phủ Tông nhân Nguyễn Thừa Nghiệp và con là Nguyễn Mô giữ chức chỉ huy quân túc vệ.
  4. ^ Thắng tức là Nguyễn Bá Thắng, Chủng tức là Khương Chủng, những ngoại thích lộng quyền trong Triều đình.
  5. ^ Cẩm Giang vương Lê Sùng là con cả của Kiến vương Lê Tân và là anh của Lê Oanh. Xem thêm về các con vua Lê Thánh Tông
  6. ^ Theo chú thích trong Đại Việt Sử ký Toàn thư: "Thái A: là tên một thanh gươm quý. Trở ngược gươm Thái A nghĩa là trao cán gươm quý cho người khác, chỉ việc Uy Mục Đế để bọn ngoại thích nắm giữ mọi quyền."
  7. ^ Theo chú thích trong Đại Việt Sử ký Toàn thư: "Đồ thần khí: chỉ ngai vàng nhà vua."

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]