Lê Thái Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê Thái Tông
黎太宗
Vua Việt Nam (chi tiết...)
Hoàng đế Đại Việt
Trị vì 14331442
Tiền nhiệm Lê Thái Tổ
Phụ chính Phạm Vấn
Lê Sát
Lê Ngân[1]
Kế nhiệm Lê Nhân Tông
Thông tin chung
Thê thiếp Nguyễn Thị Anh
Ngô Thị Ngọc Dao
Xem danh sách
Hậu duệ
Tên húy Lê Nguyên Long.
Tước hiệu Quế Lâm động chủ (桂林洞主)
Niên hiệu
Thụy hiệu Kế Thiên Thể Đạo Hiển Đức Thánh Công Khâm Minh Văn Tư Anh Duệ Triết Chiêu Hiến Kiến Trung Văn Hoàng đế
(繼天體道顯德功欽明文思英睿仁哲昭憲建中文皇帝)
Miếu hiệu Thái Tông (太宗)
Triều đại Nhà Lê sơ
Thân phụ Lê Thái Tổ
Thân mẫu Phạm Thị Ngọc Trần
Sinh 22 tháng 12, 1423(1423-12-22)
Lam Sơn, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa
Mất 7 tháng 9, 1442 (18 tuổi)
Lệ Chi viên, huyện Gia Định [2]
An táng Hựu Lăng (祐陵)

Lê Thái Tông (chữ Hán: 黎太宗; 22 tháng 12, 1423 - 7 tháng 9, 1442), là vị Hoàng đế thứ hai của triều đại Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam. Ông trị vì Đại Việt từ năm 1433 tới năm 1442, tổng cộng 9 năm.[3]

Triều đại của Lê Thái Tông đánh dấu một thời kì thịnh trị, tiếp nối thành tựu của thời đại của Lê Thái Tổ. Ông lên ngôi khi còn nhỏ, nhưng là vị vua thông minh, lại được sự giúp đỡ của các đại thần võ tướng như Lê Sát, Lê Ngân, Trịnh Khả, Đinh Liệt... cùng các văn thần như Phan Thiên Tước, Bùi Cầm Hổ, Nguyễn Thiên Tích,... nên Đại Việt phát triển thịnh đạt, như lời sử quan biên soạn Đại Việt Sử ký Toàn thư mô tả: "...mới có mấy năm mà điển chương văn vật rực rỡ đầy đủ, đất nước đã đổi thay tốt đẹp. Các nước Trảo Oa, Xiêm La, Tam Phật Tề, Chiêm Thành, Mãn Lạt Gia vượt biển sang cống". Trong thời này có một số thổ quan được Ai Lao chống lưng nổi dậy ở phía Tây, khiến Thái Tông phải ba lần thân chinh và đều chiến thắng. Tuy nhiên, ông lại có tính cứng rắn, ép chết Lê Sát cùng Lê Ngân, hà khắc anh ruột là Quận Ai vương Lê Tư Tề. Năm 1442, Thái Tông mất ở tuổi 20 khi đi tuần miền Đông, làm dấy lên nhiều nghi vấn trong lịch sử, và Hành khiển Nguyễn Trãi vì thế bị kết án tru di, tạo thành vụ án Lệ chi viên nổi tiếng.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Thái Tông tên thật là Lê Nguyên Long , con thứ hai của vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi), mẹ là Phạm Thị Ngọc Trần, người xã Quần Lai, huyện Lôi Dương (tức Thọ Xuân ngày nay), thuộc Thanh Hóa, sau được truy tôn là Cung Từ Cao hoàng hậu[4].

Ông sinh ngày 20 tháng 11 âm lịch (22 tháng 12 dương lịch) năm 1423, tại Lam Sơn, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa, Việt Nam. Lúc này, Lê Thái Tổ đang chống nhau với quân Minh, phải di chuyển luôn luôn, không yên một chỗ nào, bà Phạm Thị Ngọc Trần lặn lội theo hầu, trải nhiều gian khổ. Bà Phạm Thị Ngọc Trần mất năm 1425, lúc Lê Nguyên Long được hơn 2 tuổi.[5]

Lê Thái Tổ không lập chính thất (vợ cả), ông chỉ có ba người vợ, hai người vợ chính là bà Trịnh Thần Phi sinh ra Lê Tư Tề và bà Phạm Thị Ngọc Trần sinh Lê Nguyên Long; bà vợ lẽ là Phạm Thị Nghiêu không có con.[6].

Tháng Giêng, năm 1428, đất nước thái bình, tháng 3 cùng năm, vua Lê Thái Tổ phong con thứ Lê Nguyên Long làm Lương quận công.[7] Tháng 1, năm 1429[8], vua Lê Thái Tổ sai 7 vị đại thần mang kim sách lập Lê Tư Tề làm Quốc vương và hoàng tử Nguyên Long làm Hoàng thái tử. Nhập nội kiểm hiệu bình chương sự Lê Vấn (Phạm Vấn), Nhập nội đại tư mã Lê Ngân, Nhập nội thiếu phó Lê Văn Linh lập Hữu tướng quốc Khai quân công Lê Tư Tề làm Quốc vương, giúp coi việc nước; sai Nhập nội tư khấu Lê Sát, Tư không Lê Nhân Chú (Lưu Nhân Chú), Nhập nội tư mã Lê Lý (Nguyễn Lý), Nhập nội thiếu úy Lê Quốc Hưng (Bùi Quốc Hưng) lập Lương quận công Nguyên Long làm Hoàng thái tử.

Hoàng đế Đại Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1432, Lê Thái Tổ nhiều bệnh, chính sự nhà nước đều giao cho Quốc vương Lê Tư Tề nhưng quốc vương mắc chứng điên cuồng, giết bừa các tì thiếp, dần dần không hợp ý Lê Thái Tổ.[9] Năm 1433, vua Lê Thái Tổ vời người cháu ruột là Nhập nội tư mã, Kì Lân Hổ Vệ tướng quân Lê Khôi lúc ấy đang trấn thủ Hóa châu về triều để bàn lập thái tử. Lê Khôi bàn với vua nên lập Hoàng tử Nguyên Long, vua Thái Tổ nghe lời và quyết định lập Lê Nguyên Long làm thái tử nối ngôi.[10]

Tháng 8 âm lịch năm 1433, Lê Thái Tổ giáng con trưởng Lê Tư Tề làm Quận vương, lấy con thứ kế thừa ngôi vua.[11] Vua Lê Thái Tổ lại phong cho Nhập nội kiểm hiệu tư khấu bình chương quân quốc trọng sự Lê Sát là Dương vũ Tĩnh nạn công thần, thăng Đại tư đồ, cùng với Đô đốc Phạm Vấn và Tư khấu Lê Ngân nhận di chiếu, chịu cố mệnh giúp vua Lê Thái Tông.[12][13] Ngày 22 tháng 8 âm lịch năm 1433, vua Lê Thái Tổ qua đời. Ngày 8 tháng 9 âm lịch năm 1433, thái tử Lê Nguyên Long lên ngôi vua. Ông cho đại xá thiên hạ và quyết định đổi niên hiệu thành Thiệu Bình từ năm sau. Ông còn chọn ngày sinh làm Kế Thiên thánh tiết, sau đổi làm Vạn thọ thánh tiết, và xưng hiệu là Quế Lâm động chủ (桂林洞主).[14]

Lê Thái Tông cũng truy phong mẹ ruột đã mất của mình, bà Phạm Thị Ngọc Trần làm Cung Từ quốc thái mẫu, sai người đem thần chủ mới vào thờ ở Thái miếu. Ông tôn người vợ lẽ của Lê Thái Tổ là bà Phạm Thị Nghiêu làm Huệ phi.[15] Lê Thái Tông mới 11 tuổi, không phải nhờ mẫu hậu nhiếp chính, mà tự mình quyết định công việc triều đình.[16]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Lê Thái Tổ hấp hối, ông đã gia phong cho Lê Sát làm "Dương Vũ tĩnh nạn công thần", thăng Đại tư đồ, cùng với Đô đốc Phạm Vấn làm cố mệnh đại thần phò giúp Lê Thái Tông mới lên ngôi khi ấy mới 11 tuổi. Lê Sát làm thủ tướng, ông hăng hái giúp vua sửa chính sự, năng can gián nhưng là võ tướng nên làm việc theo ý riêng, tính thẳng thắn, không nghĩ hậu quả về sau.

Năm 1428, Lưu Nhân Chú được phong làm Suy trung Tán trị Hiệp mưu Dương vũ công thần, nhập nội kiểm hiệu, Bình chương quân quốc trọng sự quyền Tể tướng, năm 1431 làm Nhập nội Tư khấu. Lê Sát ghét Lê Nhân Chú, nên vu cáo để giết đi, dời người em Lê Nhân Chú là Lê Khắc Phục ra làm quan ngoài kinh thành. Năm 1435, vị cố mệnh đại thần Đô đốc Phạm Vấn chết, như vậy hai người quyền cao chức trọng nhất trong triều đình đã chết, Lê Sát làm thủ tướng, quyết đoán mọi việc [17]

Quan đồng tri Bắc đạo Bùi Ư Đài đề nghị vua chọn bậc kỳ lão vào làm cố vấn cho vua, bên ngoài đặt chức sư phó chỉ huy trăm quan. Lê Sát giận, tâu xin trị tội Ư Đài, nhà vua bất đắc dĩ phải lưu đày Ư Đài, từ đó vua Thái Tông bẳt đầu ghét Lê Sát.[18] Năm 1435, khi vua 13 tuổi, Lê Sát xin cử Nguyễn Trãi, Trình Thuấn Du cùng vài đại thần khác vào dạy vua, Thái Tông trả tờ tâu không nhận.

Vua Thái Tông ngày càng lớn, có óc hiểu biết phán đoán, Lê Sát vẫn cứng xẵng, không biết nhún nhường, Thái Tông bên ngoài tỏ vẻ bao dung nhưng bên trong ngầm ghét Lê Sát. Năm 1437, Lê Thái Tông cho những người cùng vây cánh với Lê Sát, là Điện tiền đô kiểm điểm Lê Ê, Hữu quân tổng quản Lê Hiêu ra ngoài; triệu người có hiềm khích với Lê Sát là Trịnh Khả về triều làm Hành quân tổng quản, nắm quân Cấm binh (tức quân Thiết đột) [19] Tháng 7 âm lịch năm 1437, Thái Tông bãi chức Lê Sát, cho con gái Lê Sát là Lê Thị Ngọc Dao lúc ấy là Nguyên phi xuống làm thường dân, sau bắt Lê Sát phải tự tử tại nhà riêng, sai Lê Ngân chấp chính việc nước.

Thái Tông phong cho con gái Lê Ngân từ Chiêu nghi lên làm Huệ phi. Tháng 12 âm lịch năm 1437, Lê Ngân sai người phù thủy làm lễ ở nhà, đúc tượng vàng Quan Thế Âm để mong con gái được yêu thương. Thái Tông nghe đến, sai người vào nhà ông tra khảo, bắt được bọn phù thủy yếm và tượng vàng. Lê Ngân hoảng hốt vào triều, tâu sớ giải bầy, nhưng Thái Tông quyết xử tử, ban cho ông tự vẫn tại nhà như Lê Sát.[20]

Nghi thức, lễ nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 1 âm lịch năm 1437, vua Lê Thái Tông sai Hành khiển Nguyễn Trãi và Lỗ bộ ty giám Lương Đăng soạn thảo lễ nhạc và quy chế lễ nghi cho triều đại.[21] Nguyễn Trãi dâng lên bản vẽ khánh đá và biểu tâu. Thái Tông chấp thuận, sai thợ đá huyện Giáp Sơn lấy đá trong núi Kính Chủ để tạo khánh đá theo bản vẽ của Nguyễn Trãi.[22]

Tháng 5 âm lịch năm 1437, Lương Đăng dâng sớ cho Lê Thái Tông, có phác thảo quy chế mũ áo, nhạc khí, xa giá và số người theo hầu. Lương Đăng có nhiều ý tưởng khác với Nguyễn Trãi về số lượng, trọng lượng các nhạc khí. Lê Thái Tông đồng ý với Lương Đăng, sai Đăng đặt ra các quy chế. Nguyễn Trãi bèn xin vua cho trả lại công việc được giao.[23] Tháng 11 âm lịch năm 1437, vua Thái Tông chính thức ban bố các quy chế do Lương Đăng soạn ra. Hành khiển Nguyễn Trãi cùng Tham tri bạ tịch Nguyễn Truyền, Đào Công Soạn, Nguyễn Văn Huyến, Tham nghị Nguyễn Liễu dâng sớ ngăn lại nhưng vua Thái Tông không nghe theo.[24]

Về chi tiết của quy chế mới về trang phục, nghi thức, lễ nhạc triều đình mà Lê Thái Tông áp dụng từ năm 1437, sách Đại Việt Sử ký Toàn thư cũng có một số đoạn mô tả đại lược rằng:[23]

"Về lễ thì có lễ đại triều và lễ thường triều. Tế trời, cáo miếu, ngày thánh tiết, ngày chính đám, thì làm lễ đại triều, hoàng đế mặc áo cổn, đội mũ miện, lên ngồi ngai báu, trăm quan đều mặc triều phục đội mũ chầu. Còn những ngày mồng một, ngày rằm hằng tháng thì Hoàng đế mặc áo bào vàng, đội mũ xung thiên, ngồi ngai báu, trăm quan đều mặc công phục, đội mũ.
"Lễ thường triều thì hoàng đế mặc áo bào vàng, đội mũ xung thiên, ngồi sập vàng, trăm quan mặc thường phục cổ tròn, đội ô sa đen. Về nhạc thì có nhạc tế Giao, nhạc tế Miếu, nhạc tế Ngũ tự, nhạc cứu khi có nhật thực, nguyệt thực, nhạc đại triều, nhạc thường triều, nhạc cửu tấu khi đại yến, nhạc dùng trong cung, không thể dùng nhất loạt được. Về lỗ bộ đại giá, như xe kiệu thì có đại lộ, tượng lộ, mã lộ, có cửu long dư, thất long dư, có bộ liễn, có phi liễn; về nghi trượng thì có kim qua, phủ, việt, chàng, phướn, tinh kỳ, mao tiết, chương phiến, long ngũ phượng. Số ngựa đóng vào xe và số đội ngũ theo hầu cũng đều có quy định cả..."
"Lỗ bộ ty đồng giám kiêm tri điển nhạc sự Lương Đăng dâng nhạc mới phỏng theo quy chế của nhà Minh mà làm."
"Trước Đăng và Nguyễn Trãi đã vâng mệnh soạn định nhã nhạc. Trong đó, nhạc ở trên có 8 loại thanh âm như: trống keo lớn, khánh chùm, chuông chùm, đặt các loại đàn cầm, đàn sắt, sênh, quản, thược, chúc ngữ, huân trì. Nhạc ở dưới điện thì có phương hưởng treo, khống hầu."[24]

Tớ sớ của Nguyễn Trãi và các văn thần cộng sự phản đối Lương Đăng (tháng 11 âm lịch năm 1437) cũng hé lộ một số chi tiết về quy chế này:[24]

"...quy chế lễ nhạc của y [Lương Đăng] là dối vua lừa dưới, không dựa vào đâu cả, như đánh trống là bao giờ ra chầu triều sớm, nay vua ra chầu triều sớm, nay vua ra chầu rồi mới đánh.Theo quy chế xưa, khi vua ra, thì bên tả đánh chuông hoàng chung, rồi năm chuông bên hữu ứng theo, lúc vua vào đánh chuông chưng tân rồi năm chuông cũng ứng theo. Nay vua ra chầu, đánh 108 tiếng chuông, đó là số lần đếm tràng hạt của nhà sư. Nếu theo quy chế của nhà Minh, thì khi vua ngồi ở cửa Phụng Thiên phải có ngai báu, nay chỉ có một điện Hội Anh, lại chỉ có sập vàng, nếu di chuyển thì sợ không yên, đặt cả hai thứ cũng không được, thế là lễ nghi gì?. Làm xe thì đằng trước có diềm, đằng sau mở cửa. Nay lại mở cửa đằng trước, quy chế xưa làm như thế hay sao?. Khi vua ra thì có hô thét, khi vào thì có thu dẹp, đó là quy định của nghi lễ. Nay quan coi cửa xướng tâu mọi việc xong, các quan lui ra, vua con ngồi mà người thu dẹp đã la thét dọn dẹp là làm sao?."

Quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Văn bia Quế Lâm Ngự Chế, Lê Thái Tông, 1439.

Năm 1434, Thái Tông ra lệnh cho quân ngự tiền và các vệ quân năm đạo chuẩn bị lương ăn trong 2 tháng, hạn đến ngày 20 tháng này phải tới địa phận Đông Kinh để điểm danh và luyện tập võ nghệ. Còn quân trấn giữ ở các trấn Thanh Hóa, Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa thì tới địa phận phủ, trấn mình để kiểm duyệt. Ai vi phạm sẽ bị trị tội.[25] Cùng năm, 4 quan phụ đạo trấn Lạng Sơn là Hoàng Nguyên Ý, Hoàng Văn Ngạc, Nguyễn Thế Ninh và Nguyễn Công Đình nổi dậy, Thái Tông sai Lê Văn An mang quân Ngự tiền, Thiết đột và quân ở Bắc đạo đi đánh. Khi đến nơi thì Hoàng Văn Ngạc đã bị trấn binh giết chết, Hoàng Nguyên Ý đều bỏ cả vợ con chạy trốn sang đất Minh. Lê Văn An liền chia quân lùng bắt thân thích, nô tì, tài sản, gia súc của trấn quân được tới hơn nghìn người đem về dâng nộp. Nhà vua thả hết dân thường, đem gia thuộc của bốn người cầm đầu nổi dậy ban cấp cho các quan.[26]

Tháng 4 âm lịch năm 1434, khi vua Lê Thái Tổ vừa chết, vua nước Chiêm là Bố Đề ngờ Đại Việt có biến loạn, tự mình cầm quân áp sát biên giới, chưa rõ thực hư, mới đem quân vào Cửa Việt bắt 6 người. Dân Thuận Hoá đánh trả, bắt 2 người đem dâng. Ngày 12 tháng 5 âm lịch năm 1434, Lê Thái Tông sai quân dẫn 2 tù binh Chiên tới xem, sau đó tha về. Cùng ngày, nhà vua sai Nhập nội tư mã Lê Liệt, tổng đốc các quân Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa, đi tuần tra các nơi thuộc Tân Bình, Thuận Hóa, nếu gặp quân Chiêm Thành vào cướp biên giới, mà có ai vi phạm quân lệnh hay sợ hãi rút lui thì cho phép chém trước tâu sau. Lại sai Nhập nội thiếu úy Lê Khôi và Hành khiển tổng quản Lê Truất cùng đốc suất các quân ở Tân Bình và Thuận Hóa đi theo. Bố Đề thấy Đại Viêt không có sự biến gì đã rút quân từ trước. Lê Liệt đưa quân đến châu Hóa, định trở về, gặp lúc người Man ở châu Hóa là Đạo Thành bị Đạo Luận đánh, đến xin cứu viện. Lê Liệt bèn đem quân đánh giúp, bắt được hơn nghìn người và vài chục con voi mang về.[27]

Năm 1435, nhà vua cho thao diễn quân đội 5 đạo đánh bộ, lại diễn tập thủy chiến ở sông Hồng.[28] Sai tư mã Tây đạo Lê Bôi làm Tổng quản; hữu bật Lê Văn Linh làm Tham đốc, đốc suất các vệ quân năm đạo và hai vạn trấn quân Nghệ An đi đánh Cầm Quý, một tù trưởng địa phương có 1 vạn quân, bắt được Cầm Quỹ giải về triều.

Tháng 2 âm lịch năm 1437, Thái Tông khảo xét võ nghệ của các tướng hiệu. Phép khảo xét: bắn cung là một môn, ném tên là một môn, đánh mộc là một môn. Cả ba môn đều được thì cấp lương toàn phần, ai không được môn nào thì bị giảm lương, sau coi đó làm lệ thường.[29]

Tháng 8 âm lịch năm 1437, quân Ai Lao kéo sang quấy nhiễu châu Mã Giang và châu Mộc. Quân Đại Việt chống đánh, chém được tù trưởng Man Nữu cùng 20 người, bắt hơn 20 người khác dâng vua. Ai Lao phải cử sứ sang xin chuộc lại tù binh. Lê Thái Tông cho phép tù binh về nước.[30]

Năm 1439, Thái Tông tăng cường quân đội và tổ chức duyệt quân binh lớn cả nước. Cùng năm họ Cầm ở châu Phục Lễ nổi dậy, tướng Ai Lao là Nữu Hoa đem 3 vạn người sang giúp họ Cầm chống lại Đại Việt, nhà vua tự mang 6 quân đi đánh. Mùa xuân năm 1440, ông lại đi đánh quân Hà Tông Lai ở huyện Thu Vật, thuộc huyện Tuyên Quang. Ngày 19 tháng 1 âm lịch, đại quân bắt được con Tông Lai là Tông Mậu, sang hôm sau chém được Tông Lai. Trên đường về nhà vua cùng quân sĩ nghỉ chân tại Động La (Thẳm báo ké), Lê Thái Tông thấy nơi đây cảnh đẹp, địa lý thuận lợi, nhà vua đã để lại bài thơ và lời tựa gồm 14 dòng, mỗi dòng 10 chữ với 140 chữ Hán khắc trên vách núi, sử gọi là Văn bía Quế lâm ngự chế.

Đến tháng 3 âm lịch năm 1440, Thái Tông thân chinh đánh thổ quan Nghiễm nổi dậy ở châu Thuận Mỗi (trấn Gia Hưng). Nghiễm dâng trâu và voi tạ tội; lại gặp lúc trời đang nắng gắt nên nhà vua thu quân về. Tháng 3 âm lịch năm 1441, Thái Tông đi đánh Nghiễm lần hai. Ông đã bắt được viên tướng Ai Lao là Đạo Mông cùng vợ con ở động La, rồi bắt luôn hai con của Nghiễm là Sinh Tượng và Chàng Đồng. Nghiễm thất thế, phải chịu quy phục triều đình. Nhà vua về kinh sư làm lễ cáo thắng trận ở Thái Miếu.[31]

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời kỳ thuộc Minh, nước Đại Việt bị thu toàn bộ sách vở, nền văn hiến bị hủy hoại. Sau khi đánh bại quân Minh, vua Lê Thái Tổ trị vì trong 6 năm, đã cho xây dựng Quốc tử giám, mở khoa thi Tiến sĩ; nay vua Lê Thái Tông tiếp nối cha mình, phục hồi và hoàn bị việc giáo dục ở Đại Việt. Năm 1434, ông tổ chức thi học trò trong nước. Khoa thi này có 1000 người đỗ đạt, được chia làm 3 bậc: bậc 1, bậc 2 được học ở Quốc tử giám, bậc 3 được đưa về học ở trường các lộ. Nhà vua cũng bổ dụng các Ngự tiền học sinh làm quan.[32]

Cùng năm nhà vua định khoa thi chọn học trò, xuống chiếu rằng: "Muốn có được nhân tài, trước hết phải chọn lựa kẻ sĩ, mà phép chọn lựa kẻ sĩ phải lấy thi cử làm đầu. Nhà nước ta từ thuở xưa loạn lạc, người anh tài như lá mùa thu, bậc tuấn kiện như sao buổi sớm. Thái Tổ ta buổi đầu dựng nước, mở mang nhà học, dùng cỗ Thái lao để tế Khổng Tử, rất mực sùng Nho, trọng đạo. Nhưng vì nước mới dựng nên chưa kịp đặt khoa thi. Trẫm nối theo chí hướng người xưa, lo được nhân tài để thỏa lòng mong đợi".

Cũng trong chiếu này, Lê Thái tông đã đặt ra thể lệ thi cử như sau: bắt đầu từ năm Thiệu Bình thứ 5 1438, thi hương ở các đạo, năm thứ 6, thi hội ở sảnh đường tại kinh đô. Từ đấy về sau, cứ 3 năm một lần thi lớn, coi đó làm quy định lâu dài, người nào thi đổ, đều được ban danh hiệu tiến sĩ xuất thân. Tất cả khoa mục của các kỳ thi quy định như sau: Kỳ thứ nhất: 1 bài kinh nghĩa, Tứ thư mỗi sách một bài, mỗi bài đều 300 chữ trở lên. Kỳ thứ hai: Chế, biếu, biểu. Kỳ thứ 3: thi, phú. Kỳ thứ 4: 1 bài văn sách từ 1000 chữ trở lên. Nhà vua còn tổ chức thi lại viên, hỏi về ám tả. Những người đỗ hạng nhất được bổ vào Quốc tử giám, hạng nhì bổ làm sinh đồ và thuộc lại bên văn.[27]

Tháng 3 âm lịch năm 1442, Lê Thái Tông mở khoa thi Hội đầu tiên của Đại Việt thời Lê. Khoa này có 450 sĩ tử tham dự, trong đó 33 người thi đỗ. Số người này sang tháng sau được dự thi Đình. Trong khoa thi Đình, nhà vua ngồi trên điện ra đề văn sách vấn.[33][34] Cuối cùng nhà vua lấy 3 người Nguyễn Trực, Nguyễn Như ĐổLương Như Hộc đỗ tiến sĩ cập đệ; Trần Văn Huy và 6 người khác đỗ tiến sĩ xuất thân; Ngô Sĩ Liên và 22 người khác đỗ đồng tiến sĩ xuất thân.[35] Bắt đầu từ khoa thi này có lệ đặt bia Tiến sĩ, nhưng phải đến năm 1484, Lê Thánh Tông mới sai Thượng thư Bộ Lễ Quách Đình Bảo dựng những văn bia Tiến sĩ đầu tiên.[36]

Ngoại giao[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ Lê Thái Tông tại vị, Đại Việt đã thiết lập mối bang giao tốt đẹp với Đại Minh. Vua Thái Tông vừa lên ngôi năm 1434, triều đình Đại Việt đã cho sứ mang tờ biểu và lễ vật địa phương sang Đại Minh cầu phong và kết giao. Nước Minh nghe tin Lê Thái Tổ mất, sai sứ mang cỗ tế của phương Bắc sang, tổng cộng 80 bàn.[37] Tháng 2 âm lịch năm 1435, Minh Anh Tông sai Lễ bộ hữu thị lang Chương Xưởng, Hành nhân ty hành nhân Hầu Tấn đi theo Nguyễn Tông Trụ sang trao sắc mệnh cho vua Lê Thái Tông quyền coi việc nước. Năm 1437, Minh Anh Tông sai chánh sứ là Binh bộ thượng thư Lý Úc, phó sứ là Thông chính ty hữu thông chính Lý Hanh mang chiếu sắc ấn vàng sang phong vua Lê Thái Tông làm An Nam Quốc Vương (ấn nặng 100 lạng, núm hình con lạc đà, làm bằng vàng).

Tuy nhiên, thời Lê Thái Tông cũng xảy ra tranh chấp biên giới Đại Việt-Đại Minh. Theo Minh thực lục, năm 1438 thổ quan châu Tư Lang Hạ (Đại Việt) là Nông Nguyên Hồng xâm lấn châu An Bình và châu Tư Lăng (phủ Thái Bình - Quảng Tây), chiếm 2 động và 21 thôn, bắt 220 người nam nữ và nhiều gia súc. Minh Anh Tông sai Thang Đỉnh và Cao Dần sang trách hỏi Lê Thái Tông. Vua Thái Tông bèn sai sứ sang xin lỗi, nhưng tố cáo trở lại rằng chính thổ quan hai châu An Bình, Tư Lăng nước Minh đánh lấn châu Tư Lang Hạ trước.[38][39] Sĩ phu đời Nguyễn Phan Huy Chú trong sách Lịch triều hiến chương loại chí, mục Bang giao chí ghi lại nội dung thư của Lê Thái Tông gửi Tu Bố chính Quảng Tây tố cáo trở lại như sau:[40]

"...Gần đây cứ bọn Nông Kính, Nông Phúc là đầu mục châu Tư Lang Hạ trấn Thái Nguyên báo cáo, xét nước tôi đã nhiều vâng sắc dụ của triều đình, giữ đất yên dân… Phiền quý Ty xét sức xuống cho bọn thổ quan Tri châu Triệu Nhân Chính ở An Bình thuộc quyền quý Ty, khiến đem những đất các thôn, động đã chiếm, số dân đã bắt trả lại cho nước tôi, rồi số thôn động và số người ấy báo lại và nghiêm cấm ước thúc châu ấy, không được xâm chiếm cướp bóc….

Theo Minh thực lục, tranh chấp còn xảy ra thêm nhiều năm nữa, đến năm 1447 (đời vua Lê Nhân Tông) hai bên mới hội khám và thống nhất 11 thôn thuộc về Long châu của Trung Quốc, 6 thôn thuộc về Hạ Tư Lang của Đại Việt.[41]

Thời vua Lê Thái Tông, triều đình cũng nhiều lần nhận được cống phẩm từ các nước Trảo Oa, Ai Lao[42], Chiêm Thành, Xiêm La[30],... ở Đông Nam Á và La La Tư Điện, một vương quốc của người Lô Lô tại tỉnh Quý Châu (Trung Quốc) ngày nay. Mặt khác, Chiêm Thành và Ai Lao thỉnh thoảng đem quân quấy nhiễu biên giới, nhưng không thành công.

Cuộc sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1433, vua Lê Thái Tổ vời người cháu ruột là Lê Khôi vào triều, Lê Khôi khuyên nên lập người con thứ 2, tức vua Lê Thái Tông mà phế bỏ người anh là Lê Tư Tề. Đến năm 1438, vua Thái Tông phế truất anh mình làm dân thường.[43]

Theo lệ vua Lê Thái Tổ, trong cung không lập hoàng hậu, khi con của bà phi nào lên làm vua, vị vua đó mới dâng tôn hiệu cho mẹ. Việc kén chọn vợ cho vua, thường lấy con em các dòng họ công thần lớn và con nhà tử tế.[44]

Người vợ thứ nhất của vua Lê Thái Tông là con gái Đại tư đồ Lê Sát, Lê Thị Ngọc Dao. Ngọc Dao được phong làm Nguyên phi vào năm 1434. Năm 1437,Lê Sát bị xử tội, bà bị phế làm dân thường.[45] Người vợ thứ hai là con gái Lê Ngân, tên Lê Lệ, lúc đầu được phong làm Chiêu nghi. Khi Lê Sát bị bãi chức, Lê Ngân lên thay, Lê Lệ được phong làm Huệ phi, đến năm 1437, Lê Ngân bị xử tội, bà bị phế làm tu dung.[46] Người vợ thứ là bà Nguyễn Thị Anh, tính hiền dịu sáng suốt, được phong làm Thần phi, sinh ra vua Lê Nhân Tông, vua Nhân Tông lên ngôi mới 3 tuổi, bà nhiếp chính trong 10 năm, thiên hạ thịnh trị.[47] Bà vợ thứ 4 là Chiêu nghi Dương Thị Bí, ban đầu phong làm Phi (妃), sau tính kiêu ngạo bị giáng làm Chiêu nghi. Về sau Dương thị tiếp tục bị giáng làm thứ nhân, giam vào lãnh cung.

Cái chết[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 27 tháng 7 âm lịch năm 1442, Lê Thái Tông đi tuần về miền Đông, duyệt quân ở thành Chí Linh. Nguyễn Trãi mời nhà vua ngự chùa Côn Sơn, ở hương của Nguyễn Trãi. Đến ngày 4 tháng 8 âm lịch (7 tháng 9 dương lịch), Lê Thái Tông đi chơi ở vườn Vải, xã Đại Lại, ven sông Thiên Đức, ông thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ rồi qua đời. Các quan bí mật đưa thi hài nhà vua về kinh sư.[48]

Ngày 12 tháng 8 âm lịch năm 1442, các đại thần là Trịnh Khả, Nguyễn Xí, Lê Thụ, Đinh Liệt, Lê Bôi nhận di mệnh tôn Hoàng thái tử Bang Cơ (2 tuổi) lên ngôi, tức vua Lê Nhân Tông. Ngày 16 tháng 8, triều đình giết Hành khiển Nguyễn Trãi và vợ là Nguyễn Thị Lộ, bắt tội đến ba họ.[48]

Ngày 16 tháng 9 âm lịch năm 1442, triều đình an táng Lê Thái Tông ở Hựu Lăng (祐陵), bên tả Vĩnh Lăng (永陵) của Lê Thái Tổ. Hàn Lâm viện thị độc học sĩ kiêm tri ngự tiền học sinh cục cận thị chi hậu Nguyễn Thiên Tích phụng mệnh soạn văn bia Hựu Lăng ca ngợi công đức của tiên đế. Các quan dâng miếu hiệu Thái Tông (太 宗), thụy hiệu Kế Thiên Thể Đạo Hiển Đức Thánh Công Khâm Minh Văn Tư Anh Duệ Triết Chiêu Hiến Kiến Trung Văn Hoàng Đế (繼天體道顯德功欽明文思英睿仁哲昭憲建中文皇帝).[48]

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Đại Việt sử ký toàn thư có chép một số lời bàn của sử quan triều Lê về Lê Thái Tông:[49]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Tuyên Từ Văn hoàng hậu (宣慈文皇后) Nguyễn Thị Anh (1422 - 1459), người làng Bố Vệ, Thanh Hóa. Nhập cung phong làm Thần phi, sau sinh ra Nhân Tông. Bà nhiếp chính hơn 10 năm thời Nhân Tông.
  2. Quang Thục Văn hoàng hậu (光淑文皇后) Ngô Thị Ngọc Dao (1421 - 1469), người làng Động Bàng, huyện Yên Định, phủ Thanh Hóa. Nhập cung phong làm Tiệp dư, sau sinh ra Thánh Tông. Cha bà là Thái bảo Chương Khánh công Ngô Từ, gia thần hầu gần của Lê Thái Tổ. Mẹ bà là Đinh phu nhân, có họ hàng với Đinh Liệt – Nhập nội tư mã (1432), Nhập nội đô đốc (1441) thời Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông và là thủ tướng thời Lê Thánh Tông
  3. Nguyên phi Lê Ngọc Dao, con gái Đại tư đồ Lê Sát. Ban đầu được phong Nguyên phi, đứng đầu trong cung, rất được sủng ái. Sau khi Tư đồ Lê Sát chết, bà bị phế làm thứ nhân.
  4. Tu dung Lê Nhật Lệ, con gái Tư khấu Lê Ngân. Ban đầu phong làm Huệ phi, sau Lê Ngân bị phát giác làm bùa phép cho con gái được sủng ái, bị ép tự sát vào năm 1437, Huệ phi bị giáng xuống làm Tu dung.
  5. Chiêu nghi Dương Thị Bí, ban đầu phong làm Phi (妃), sau tính kiêu ngạo bị giáng làm Chiêu nghi. Về sau Dương thị tiếp tục bị giáng làm thứ nhân, giam vào lãnh cung.
  6. Quý nhân Bùi thị, con gái của Ngự sử trung thừa Bùi Cầm Hổ.
  7. Cung tần Ngọc Xuân, chị gái của Quang Thục Văn hoàng hậu Ngô Thị Ngọc Dao.
  • Hậu duệ:
  1. Lê Nghi Dân, mẹ là Dương Chiêu nghi. Ban đầu là Thái tử, sau phế làm Lạng Sơn Vương (諒山王). Năm 1459, lẻn vào cung sau giết Lê Nhân Tông, tự lập làm vua, về sau bị các đại thần giết, đặt thụy là Lệ Đức hầu.
  2. Lê Khắc Xương, mẹ là Bùi Quý nhân. Ban đầu phong Tân Bình Vương, sau cải làm Cung vương, tự sát năm 1476.
  3. Lê Bang Cơ, tức vua Lê Nhân Tông, mẹ là Tuyên Từ hoàng hậu.
  4. Lê Tư Thành, tức vua Lê Thánh Tông, mẹ là Quang Thục hoàng hậu.
  5. Vệ Quốc công chúa, công chúa cả, sinh năm 1439, theo dã sử thì chúa tên là Ngọc Đường. Công chúa bị câm từ nhỏ, lên 10 tuổi thì gả cho Lê Quát, con trai Thái úy Lê Thụ.
  6. An Quốc công chúa, gả cho Trịnh Bá Nhai, con trai Nhập nội thiếu phó Trịnh Khắc Phục.
  7. Đà Quốc công chúa, gả cho Lê Bộc, con trai của Nhập nội thiếu úy Lê Lăng.
  8. Thao Quốc công chúa, huý là Ngọc Phương, con gái thứ 5 của Thái Tông, mẹ là Quang Thục hoàng hậu. Công chúa là chị ruột của Lê Thánh Tông.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đại Việt thông sử, sách đã dẫn, trang 266, Phạm Vấn
  2. ^ nay là một phần của huyện Gia Lương, tỉnh Hà Bắc
  3. ^ Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Nhà xuất bản giáo dục, 2006, 238
  4. ^ Đại việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 146
  5. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 331
  6. ^ Đại việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 148
  7. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 362
  8. ^ âm lịch
  9. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 2007, trang 179
  10. ^ Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, nhà xuất bản giáo dục,2006,trang 394
  11. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 371
  12. ^ Đại Việt thông sử, sách đã dẫn, trang 266, Phạm Vấn, trang 240, 247
  13. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 240
  14. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, 1993, trang 373
  15. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, trang 148, 2007
  16. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 372
  17. ^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 2007, trang 240
  18. ^ Đại Việt thông sử, sách đã dẫn, trang 242
  19. ^ Đại Việt thông sử, sách đã dẫn, trang 244
  20. ^ Đại Việt thông sử, sách đã dẫn, trang 249
  21. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội, 1993, quyển XI, bản điện tử, tr 392
  22. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội, 1993, quyển XI, bản điện tử, tr 393
  23. ^ a ă Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội, 1993, quyển XI, bản điện tử, các trang 394-395.
  24. ^ a ă â Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội, 1993, quyển XI, bản điện tử, các trang 399-400.
  25. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội, 1993, quyển XI, bản điện tử, tr 374
  26. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội, 1993, quyển XI, bản điện tử, tr 376
  27. ^ a ă Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội, 1993, quyển XI, bản điện tử, tr 380
  28. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội, 1993, quyển XI, bản điện tử, tr 385
  29. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội, 1993, quyển XI, bản điện tử, tr 394
  30. ^ a ă Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội, 1993, quyển XI, bản điện tử, tr 397
  31. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội, 1993, quyển XI, bản điện tử, tr 403
  32. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội, 1993, quyển XI, bản điện tử, tr 374, 375
  33. ^ Lịch triều hiến chương loại chí; tập 2; soạn giả Phan Huy Chú; Dịch giả Viện sử học Việt Nam; Nhà xuất bản Giáo dục; 2006; trang 14
  34. ^ Kiến văn tiểu lục, soạn giả Lê Quý Đôn, phiên dịch và chú thích Phạm Trọng Điềm; Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 2007, trang 93
  35. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 404
  36. ^ Lịch triều hiến chương loại chí, tập 2, Nhà xuất bản giáo dục, 2006, trang 17
  37. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội, 1993, quyển XI, bản điện tử, tr 382
  38. ^ “Entry”. Truy cập 8 tháng 2 năm 2018. 
  39. ^ “Entry”. Truy cập 8 tháng 2 năm 2018. 
  40. ^ Lịch triều hiến chương loại chí; tập 2; soạn giả Phan Huy Chú; Dịch giả Viện sử học Việt Nam; Nhà xuất bản Giáo dục; 2006; các trang 649-650.
  41. ^ “Entry”. Truy cập 8 tháng 2 năm 2018. 
  42. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội, 1993, quyển XI, bản điện tử, các trang 382-383.
  43. ^ Đại Việt thông sử, Tác giả Lê Quý Đôn, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 2007, trang 180
  44. ^ Đại Việt thông sử, Tác giả Lê Quý Đôn, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 2007, trang 143
  45. ^ Đại Việt thông sử, Tác giả Lê Quý Đôn, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 2007, trang 155
  46. ^ bậc thứ 5 trong 9 bậc cung tần, dưới phi
  47. ^ Đại Việt thông sử, Tác giả Lê Quý Đôn, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 2007, trang 149
  48. ^ a ă â Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 405
  49. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ thực lục, Quyển XI: Kỷ nhà Lê: Thái Tông, Nhân Tông
  50. ^ tên Trung Quốc chỉ một vương quốc trung đại Palem bang ở Sumatra, người ta cũng thường đồng nhất Tam phật Tề với vương quốc Srivijaya (Thất Lợi Phật Thệ) được biết đến từ cuối thế kỷ VII ở vùng này.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]