Tân Bình

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Tân Bình
Quận Tân Bình
Quận
Lang Cha Ca- Tan Binh - panoramio.jpg
Vòng xoay Lăng Cha Cả
Hành chính
VùngĐông Nam Bộ
Thành phốThành phố Hồ Chí Minh
Trụ sở UBND387A Trường Chinh, Phường 14
Phân chia hành chính15 phường
Đại biểu quốc hộiNguyễn Minh Đức
Trần Thị Diệu Thúy
Trần Anh Tuấn
Tổ chức lãnh đạo
Chủ tịch UBNDNguyễn Bá Thành
Chủ tịch HĐNDkhuyết
Bí thư Quận ủyLê Hoàng Hà
Địa lý
Tọa độ: 10°48′13″B 106°39′3″Đ / 10,80361°B 106,65083°Đ / 10.80361; 106.65083Tọa độ: 10°48′13″B 106°39′3″Đ / 10,80361°B 106,65083°Đ / 10.80361; 106.65083
Diện tích22,43 km²[1]
Bản đồ quận Tân Bình
Dân số (1/4/2019)
Tổng cộng474.792 người[2]
Mật độ21.168 người/km²
Khác
Mã hành chính766[3]
Biển số xe59-P1-P2-P3
Websitewww.tanbinh.hochiminhcity.gov.vn

Tân Bình là một quận nội thành thuộc Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.

Quận Tân Bình có địa hình bằng phẳng, cao trung bình là 4–5 m, cao nhất là khu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất khoảng 8 – 9 m, trên địa bàn còn có kênh rạch và còn có đất nông nghiệp.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Quận Tân Bình thuộc nội thành của Thành phố Hồ Chí Minh, có vị trí địa lý:

  • Phía đông giáp quận Phú NhuậnQuận 3
  • Phía tây giáp quận Tân Phú với ranh giới là các tuyến đường Trường Chinh và Âu Cơ
  • Phía nam giáp Quận 10 (với ranh giới là đường Bắc Hải) và Quận 11 (với ranh giới là các tuyến đường Thiên Phước, Nguyễn Thị Nhỏ và Âu Cơ)
  • Phía bắc giáp Quận 12 (với ranh giới là kênh Tham Lương) và quận Gò Vấp.

Quận có diện tích 22,43 km², dân số năm 2019 là 474.792 người[2], mật độ dân số đạt 21.168 người/km².

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Quận Tân Bình được chia thành 15 phường: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ tỉnh Gia Định thời Việt Nam Cộng hòa

Quận Tân Bình được chính quyền Việt Nam Cộng hòa thành lập vào năm 1957, là một quận thuộc tỉnh Gia Định lúc bấy giờ. Tuy nhiên, địa danh Tân Bình đã xuất hiện tại Nam Bộ cách đây hơn 300 năm, dưới thời chúa Nguyễn.[4]

Thời Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 29 tháng 4 năm 1957, chính phủ Việt Nam Cộng hòa ban hành Nghị định 138-BNV/HC/NĐ ấn định địa giới tỉnh Gia Định gồm 6 quận (10 tổng, 61 xã), trong đó tăng thêm 2 quận là Bình Chánh và Tân Bình. Quận Tân Bình được thành lập trên cơ sở cắt tổng Dương Hòa Thượng (gồm bảy xã: Bình Hưng Hòa, Phú Nhuận, Phú Thọ Hòa, Tân Hòa, Tân Sơn Hòa, Tân Sơn Nhì và Vĩnh Lộc) ra khỏi quận Gò Vấp. Quận lỵ đặt tại xã Phú Nhuận.

Ngày 29 tháng 2 năm 1960, sáp nhập xã Tân Hòa thuộc tổng Dương Hòa Thượng, quận Tân Bình, vào xã Vĩnh Lộc cùng tổng.

Đến cuối năm 1962, quận Tân Bình chỉ có một tổng duy nhất là Dương Hòa Thượng. Từ năm 1962 chính quyền bỏ dần, đến năm 1965 bỏ hẳn cấp hành chính tổng, các xã trực tiếp thuộc quận.

Ngày 11 tháng 12 năm 1965, lập xã Tân Phú thuộc quận Tân Bình, từ phần đất cắt ra của hai xã: Tân Sơn Nhì và Phú Thọ Hòa cùng quận. Cho đến ngày 29 tháng 4 năm 1975, quận Tân Bình có 07 xã trực thuộc: Bình Hưng Hòa, Phú Nhuận, Phú Thọ Hòa, Tân Phú, Tân Sơn Hòa, Tân Sơn Nhì, Vĩnh Lộc.

Sau năm 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tiếp quản Đô thành Sài Gòn và các vùng lân cận vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày 3 tháng 5 năm 1975 thành phố Sài Gòn - Gia Định được thành lập. Theo nghị quyết ngày 9 tháng 5 năm 1975 của Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Lao động Việt Nam thành phố Sài Gòn - Gia Định, quận Tân Bình cũ bị giải thể. Các xã Vĩnh Lộc và Bình Hưng Hòa được giao cho huyện Bình Chánh quản lý (nay là các xã Vĩnh Lộc A, Vĩnh Lộc B, một phần xã Phạm Văn Hai của huyện Bình Chánh và các phường Bình Hưng Hòa, Bình Hưng Hòa A, Bình Hưng Hòa B của quận Bình Tân). Địa bàn 05 xã còn lại được chia thành 03 quận mới trực thuộc thành phố Sài Gòn - Gia Định trên cơ sở nâng cấp các xã cũ: quận Phú Nhuận (xã Phú Nhuận cũ), quận Tân Sơn Hòa (xã Tân Sơn Hòa cũ), quận Tân Sơn Nhì (bao gồm 3 xã: Tân Sơn Nhì, Tân Phú và Phú Thọ Hòa cũ).

Ngày 20 tháng 5 năm 1976, tổ chức hành chánh thành phố Sài Gòn - Gia Định được sắp xếp lần hai (theo quyết định số 301/UB ngày 20 tháng 5 năm 1976 của Ủy ban Nhân dân Cách mạng thành phố Sài Gòn - Gia Định). Theo đó, vẫn giữ nguyên quận Phú Nhuận, đồng thời giải thể các quận Tân Sơn Hòa và Tân Sơn Nhì để tái lập quận Tân Bình. Như vậy, quận Tân Bình được tái lập trên cơ sở sáp nhập quận Tân Sơn Hòa và Tân Sơn Nhì cũ, là quận có diện tích lớn nhất thành phố khi đó.

Ngoài ra, các phường cũ đều giải thể, lập các phường mới có diện tích, dân số nhỏ hơn và mang tên số. Quận Tân Bình có 28 phường, đánh số từ 1 đến 28.

Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VI, kỳ họp thứ 1 chính thức đổi tên thành phố Sài Gòn - Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh. Quận Tân Bình trở thành quận trực thuộc Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngáy 22 tháng 6 năm 1977, quận Tân Bình giải thể hai phường: 27 và 28, địa bàn hai phường giải thể nhập vào các phường kế cận; số lượng phường trực thuộc quận còn 26.

Ngày 27 tháng 8 năm 1988, theo Quyết định số 136-HĐBT[5] của Hội đồng Bộ trưởng, quận Tân Bình giải thể 26 phường hiện hữu, thay thế bằng 20 phường mới, đánh số từ 1 đến 20:

1. Tách 20 tổ dân phố với 4.787 nhân khẩu của phường 5 để sáp nhập vào phường 4, tách khu phố 5 và khu phố 6 (trong khu quân sự Tân Sơn Nhất) với 2.058 nhân khẩu để sáp nhập vào phường 2.

2. Sáp nhập 30 tổ dân phố với 7.192 nhân khẩu của phường 5 (phần còn lại) và phường 8 thành một phường lấy tên là phường 5.

3. Tách 19 tổ dân phố với 3.447 nhân khẩu của phường 19 để sáp nhập vào phường 18.

4. Tách 22 tổ dân phố với 5.918 nhân khẩu của phường 19 để sáp nhập vào phường 20.

5. Sáp nhập 9 tổ dân phố với 2.632 nhân khẩu của phường 19 (phần còn lại) và phường 21 thành một phường lấy tên là phường 19.

6. Giải thể phường 22 để sáp nhập vào phường khác.

a) Tách 36 tổ dân phố với 7.135 nhân khẩu của phường 22 để sáp nhập vào phường 11 thành một phường lấy tên là phường 11.
b) Tách 1 tổ dân phố với 209 nhân khẩu của phường 22 để sáp nhập vào phường 13.
c) Sáp nhập 19 tổ dân phố với 6.813 nhân khẩu của phường 22 (phần còn lại) và phường 23 thành một phường lấy tên là phường 10.

7. Giải thể phường 26 để sáp nhập vào phường khác:

a) Tách 28 tổ dân phố với 7.324 nhân khẩu của phường 26 để sáp nhập vào phường 24 thành một phường lấy tên là phường 9.
b) Sáp nhập 10 tổ dân phố với 2.229 nhân khẩu của phường 26 (phần còn lại) và phường 25 thành một phường lấy tên là phường 8.

8. Sáp nhập phường 6 và 7 thành một phường lấy tên là phường 6.

9. Tách một phần của phường 2 gồm 1,6 hécta diện tích tự nhiên với 71 nhân khẩu để sáp nhập vào phường 9 (cũ) và 10 (cũ) thành một phường lấy tên là phường 3.

10. Phường 2 sau khi phân vạch lại địa giới hành chính với phường 3 (mới) và phường 4, có 53 tổ dân phố, từ tổ 1 đến tổ 53 với 13.946 nhân khẩu.

Ngày 05 tháng 11 năm 2003, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 130/2003/NĐ-CP [6] về việc điều chỉnh địa giới hành chính quận Tân Bình để thành lập quận Tân Phú và các phường trực thuộc, điều chỉnh địa giới hành chính một số phường thuộc quận Tân Bình. Nội dung như sau:

  • Thành lập quận Tân Phú trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của các phường 16, 17, 18, 19, 20; 110,23 ha diện tích tự nhiên và 23.590 nhân khẩu của phường 14; 356,73 ha diện tích tự nhiên và 26.414 nhân khẩu của phường 15 thuộc quận Tân Bình. Quận Tân Phú có 1.606,98 ha diện tích tự nhiên và 310.876 nhân khẩu.
  • Điều chỉnh địa giới hành chính phường thuộc quận Tân Bình:
    • Điều chỉnh 3,22 ha diện tích tự nhiên và 758 nhân khẩu của phường 13 về phường 11 quản lý.
    • Điều chỉnh 1,49 ha diện tích tự nhiên và 1.425 nhân khẩu của phường 13 về phường 12 quản lý.
    • Điều chỉnh 79,75 ha diện tích tự nhiên và 26.019 nhân khẩu của phường 13 về phường 14 quản lý.
    • Điều chỉnh 9,26 ha diện tích tự nhiên và 3.201 nhân khẩu của phường 14 về phường 13 quản lý.

Như vậy, sau khi chia tách và điều chỉnh hành chính vào cuối năm 2003, quận Tân Bình còn lại 2.238,22 ha diện tích tự nhiên và 417.897 nhân khẩu, có 15 đơn vị hành chính trực thuộc là các phường có số thứ tự từ phường 1 đến phường 15, giữ ổn định cho đến nay.

Thông tin thêm về các phường[sửa | sửa mã nguồn]

  • Xã Tân Sơn Hòa cũ: các phường 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 hiện nay
  • Xã Phú Thọ Hòa cũ: các phường 8, 9, 10, 11 hiện nay và một phần quận Tân Phú
  • Xã Tân Sơn Nhì cũ: các phường 12, 13, 14, 15 hiện nay và một phần quận Tân Phú

Riêng xã Tân Phú cũ ngày nay thuộc địa bàn quận Tân Phú.

Đường phố[sửa | sửa mã nguồn]

Tên đường trước năm 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Tên đường trước năm 1975 Tên đường hiện nay
Liên Minh Ba Gia
Thánh Mẫu & Nhà Thờ Bành Văn Trân
Đồng Tâm Bến Cát
Phan Chu Trinh Ca Văn Thỉnh
Phạm Hồng Thái Cách Mạng Tháng 8
Nguyễn Trường Tộ Châu Vĩnh Tế
Mai Khôi Chử Đồng Tử
Lê Phát Đạt Đặng Lộ
Nguyễn Huỳnh Đức Đông Sơn
Vinh Sơn Liêm Hà Bá Tường
Võ Tánh Hoàng Văn Thụ
Dân Tiến Hoàng Việt
Hồ Ngọc Cẩn Lê Ngân
Trương Minh Ký Lê Văn Sĩ
Vinh Sơn Long Hưng
Dân Chủ Lưu Nhân Chú
Nguyễn Văn Thoại Lý Thường Kiệt
Trương Vĩnh Ký Năm Châu
Lê Lợi Nguyễn Phúc Chu
Mai Ngọc Khuê Nguyễn Thanh Tuyền
Dương Công Trừng Nguyễn Thị Nhỏ
Trần Lục Nguyễn Tử Nha
Nguyễn Minh Chiếu Nguyễn Trọng Tuyển
Cách Mạng 1 Tháng 11 Nguyễn Văn Trỗi
Đỗ Hưng Viễn Nguyễn Văn Vỹ
Thoại Ngọc Hầu Phạm Văn Hai
Huỳnh Hữu Bạc Phan Thúc Duyện
Hàn Mặc Tử Sơn Cang
Nguyễn Bá Tòng Trần Mai Ninh
An Tôn Trần Triệu Luật
Hồ Tấn Đức Võ Thành Trang

Đặc điểm chung[sửa | sửa mã nguồn]

Lầu 3 nhà ga quốc tế sân bay Tân Sơn Nhất
  • Quận Tân Bình có diện tích 22,38 km², bao gồm 15 phường (từ 1–15), nằm bên phía tây của sông Sài Gòn, xung quanh giáp liền với các quận 3, quận 10, quận 11, quận 12, quận Tân Phú, quận Gò Vấpquận Phú Nhuận.
  • Phía Bắc của quận là sân bay quốc tế lớn nhất của Việt Nam, sân bay Tân Sơn Nhất. Nó cũng là sân bay có nhiều chuyến bay mỗi năm nhất.[7]
  • Tân Bình có các trường tiểu học như Bình Giã, Bành Văn Trân, Nguyễn Viết Xuân, Đống Đa, Trần Văn Ơn, Trần Quốc Toản,Tân Sơn Nhất,Lê Văn Sỹ, Nguyễn Văn Trỗi...;
  • Các trường THPT là Nguyễn Thượng Hiền và Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Thái Bình, Lý Tự Trọng,
  • Các trường Trung học cơ sở là Nguyễn Gia Thiều, Quang Trung, Ngô Sĩ Liên, Phạm Ngọc Thạch, Hoàng Hoa Thám, Tân Bình, Ngô Quyền, Trường Chinh, Võ Văn Tần...
  • Và một số trường dân lập, tư thục như Nguyễn Khuyến, trường Quốc tế Tesla....
  • Quận có một chợ mang cùng tên là chợ Tân Bình nằm giữa đường Tân Tiến với Lý Thường Kiệt. Chợ Tân Bình có 9 cửa gồm 4 cửa lớn và 5 cửa nhỏ. Ngoài ra quận Tân Bình còn có nhiều chợ lớn nhỏ khác như chợ Phạm Văn Hai, chợ Hoàng Hoa Thám

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Quầy đăng ký đi máy bay (check-in)

Quận Tân Bình là một trong những quận có nền kinh tế mạnh và tích cực có nhiều xu hướng phát triển cao và luôn đáp ứng đúng nhu cầu phát triển của các thành phần kinh tế cần thiết.[8] Mỗi năm dịch vụ và giá trị sản xuất công nghiệp của quận đạt mức tăng trưởng 29,68%, vượt chỉ tiêu so với Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quận đề xuất từ 20-25%. Tổng số tiền đầu tư của các doanh nghiệp lớn, nhỏ và tư nhân đặt tới 5.587 tỷ đồng.Từ nhiều năm qua,quận Tân Bình đã và đang tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư lớn tham gia xây dựng các trung tâm thương mại và khu vui chơi lớn như Parkson Plaza, Trung tâm Thương mại - Văn hóa Lạc Hồng...[8] Quận còn quan tâm đến một số hoạt động trang hoàng, chỉnh trang lại quận như nâng cấp các vỉa hè và trồng cây xanh. Quận còn thúc đẩy mạnh các dịch vụ du lịch để thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước.[8] Đồng thời quận kiên quyết đấu tranh bài trừ các tệ nạn xã hội.[8]

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Quận còn có nhiều di tích lịch sử tôn giáo như: công viên Hoàng Văn Thụ, chùa Viên Giác, chùa Phổ Quang, chùa Hải Ấn, chùa Hải Quảng, chùa Phước Thạnh, chùa Giác Lâm, chùa Ân Tông, chùa Bửu Lâm Tịnh Uyển,...

Về dân tộcdân tộc Kinh chiếm 93,33%; Hoa 6,38%; Khmer 0,11%; các dân tộc khác là Tày 0,05%, Thái 0,01%, Nùng 0,03%, Mường 0,02%, Chăm 0,02% và người nước ngoài...

Về tôn giáo Phật giáo chiếm 19,62%, Công giáo 22,9%, Tin lành 0,37%, Cao đài 0,4%, Hòa Hảo 0,01; Hồi giáo 0,02%, không có đạo chiếm 56,68%[9]. Toàn quận có 140 cơ sở tôn giáo trong đó, Phật giáo 74, Công giáo 60, Tin lành 4, Cao đài 2.

Tổng lãnh sự quán các nước tại Tân Bình[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Địa chỉ
 Mexico 86/56/20 Phổ Quang, phường 2
 Mông Cổ 84 Thích Minh Nguyệt, phường 2
 Myanmar 50 đường Sầm Sơn, Phường 4

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2017 phân theo quận/huyện, Theo Cục Thống kê thành phố Hồ Chí Minh.
  2. ^ a b Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. “Dân số Việt Nam đến ngày 01 tháng 4 năm 2019”. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2020.
  3. ^ Tổng cục Thống kê
  4. ^ “Địa danh Tân Bình – Tân Phú”. Cổng thông tin điện tử quận Tân Phú. 4 tháng 10 năm 2008.
  5. ^ “Quyết định 136”. Truy cập 30 tháng 9 năm 2015.
  6. ^ Nghị định số 130/2003/NĐ-CP ngày 05 tháng 11 năm 2003
  7. ^ Tạp chí Hàng không, số tháng 10 năm 2007 của Cục hàng không dân dụng Việt Nam, trong bài Có nên xây sân bay quốc tế mới ở tỉnh Hải Dương?
  8. ^ a b c d “KINH TẾ”. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2012.
  9. ^ Theo số liệu tổng điều tra dân số 1999.