Nguyễn Phúc Chu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Minh Vương
明王
Chúa Đàng Trong (chi tiết...)
Chúa Nguyễn
Trị vì 1691 - 1725
Tiền nhiệm Nguyễn Phúc Thái
Kế nhiệm Nguyễn Phúc Chú
Thông tin chung
Hậu duệ
Tên húy Nguyễn Phúc Chu
Tước vị
Thụy hiệu Anh Mô Hùng Lược thánh Văn Tuyên Đạt Khoan Từ Nhân Thứ Hiếu Minh Hoàng Đế
Ngắn: Hiếu Minh hoàng đế
Miếu hiệu Hiển Tông (顯宗)
Gia tộc Họ Nguyễn
Thân phụ Nguyễn Phúc Thái
Thân mẫu Tống Thị Lĩnh
Sinh 11 tháng 6, 1675(1675-06-11) [1]
Mất 1 tháng 6, 1725 (49 tuổi) [1]
Đàng Trong, Đại Việt
Tôn giáo Phật giáo

Nguyễn Phúc Chu (chữ Hán: 阮福淍, 16751725) là vị chúa Nguyễn thứ sáu của chính quyền Đàng Trong trong lịch sử Việt Nam (ở ngôi từ 1691 đến 1725), nối ngôi Nguyễn Phúc Thái. Dưới thời Nguyễn Phúc Chu, lãnh thổ Đại Việt được mở rộng đáng kể về phía Nam sau các cuộc chiến với Chiêm ThànhChân Lạp.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Phúc Chu sinh vào tháng 5 âm lịch năm Ất mão (1675),[2] là con cả của Nghĩa vương Nguyễn Phúc Thái. Mẹ ông là Tống Thị Lĩnh ở Tống Sơn, Thanh Hoá (con của Thiếu phó Quận công Tống Phúc Vinh). Đại Nam Thực lục chép: "Trước kia, năm Giáp dần, mùa thu, ở phương Tây Nam trên trời mở ra một lỗ, có mây sắc vận quanh, ở giữa một luồng ánh sáng rực trời tỏa ngay vào chỗ nhà mẫu hậu ở, người thức giả cho là điềm thánh. Năm sau chúa đúng kỳ giáng sinh, mùi thơm nức nhà".[3]

Thuở thiếu thời, ông rất chăm học chữ tốt, văn hay, võ giỏi. Ông được phong là Tả binh đinh Phó Tướng Tộ Trường Hầu, làm phủ đệ ở cơ Tả binh.[3]

Năm 1691, Chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Thái qua đời. Quân thần vâng di mệnh, tôn ông là Tiết Chế Thủy Bộ chư Dinh Kiêm Tổng Nội Ngoại Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự Thái Bảo Tộ Quốc Công.[3]

Bấy giờ, khi nối ngôi chúa Phúc Chu mới có 17 tuổi. Ông lấy hiệu là Thiên túng đạo nhân, cho giảm một nửa thuế ruộng trong năm đó.[3] Thời bấy giờ gọi ông là Quốc Chúa

Điều hành Đàng Trong[sửa | sửa mã nguồn]

Khi mới lên ngôi, ông quan tâm chiêu hiền đãi sĩ, cầu lời nói thẳng, nạp lời can gián, bỏ xa hoa, bớt chi phí, nhẹ thuế má lao dịch, bớt hình ngục.[4] Ông còn cho xây dựng một loạt chùa miếu, mở hội lớn ở chùa Thiên Mụ, chùa Mỹ Am. Bản thân chúa cũng ăn chay ở vường Côn Gia một tháng trời, phát tiền gạo cho người nghèo. Bờ cõi yên ổn do chiến tranh Trịnh - Nguyễn đã tạm ngừng 30 năm.

Mùa thu 1699, triều đình tra xét bắt đạo Thiên Chúa, phàm nhân dân ta ai có đạo thì phải bỏ để trở lại làm dân bình thường, lấy nhà tu làm nhà ở, lại còn đốt sách vở của đạo Thiên Chúa, người phương Tây thì buộc họ phải về nước.

Về mặt Bắc, tuy đã thôi đánh nhau với quân Trịnh, nhưng chúa vẫn lo phòng ngự cẩn thận. Năm 1701, Chúa sai Chưởng dinh Nguyễn Phúc Diệu, cùng Tống Phúc Tài, Nguyễn Khoa Chiêm sửa sang các chính lũy từ núi Đầu Mâu đến cửa biển Nhật Lệ. Chúa sai vẽ bản đồ những nơi hiểm yếu và cho quân lính thao dượt thường xuyên.

Bấy giờ, phía Nam đất đai được khẩn hoang đến tận biên giới Chân Lạp. Trong nước việc nội trị, võ bị, giáo dục được phát triển có quy mô. Bắc Hà tuy có vua Lê nhưng quyền bính ở trong tay Chúa Trịnh. Chúa muốn tách riêng miền Nam thành một nước độc lập. Chúa sai Hoàng Thần và Hưng Triệt đem quốc thư và cống phẩm sang Trung Hoa cầu phong nhà Thanh. Vua Thanh cũng có ý muốn phong nhưng triều thần can rằng:

Nước Quảng Nam hùng trị một phương, Chiêm Thành, Chân Lạp đều bị thôn tính, sau tất sẽ lớn. Tuy nhiên nước An Nam còn có nhà Lê ở đó, chưa có thể phong riêng được

Nên việc cầu phong không có kết quả.

Năm 1702, ở biển phía Nam có giặc biển người Anh đến cướp phá, chiếm cứ đảo Côn Lôn. Đồ đảng hơn 200 người và 8 chiến thuyền, xây dựng sào huyệt kiên cố. Chúa sai Chương dinh Trấn Biên Trương Phúc Phan tìm cách trừ khử bọn cướp. Sau nhờ mộ được 15 người Chà Và (người Mã Lai) làm kế nội ứng, đốt tan được sào huyệt của giặc, tịch thu của cải đem về.

Tháng 8 năm 1708, Mạc Cửu người Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông, trước đó đến khai thác vùng đất Hà Tiên, dâng thư lên triều đình xin đem đất Hà Tiên quy thuộc miền Nam. Chúa nhận lời và phong cho Mạc Cửu làm làm Thống binh trấn giữ đất Hà Tiên.

Tháng 1 năm 1709, phò mã Tống Phúc Thiệu cùng cai đội Nguyễn Cửu Khâm mưu phản, ngầm liên kết vây cánh, mưu đồ chiếm Bình Khang, Phú Yên xong quay về lấy Quảng Nam rồi thẳng đến Chính dinh phóng lửa nổi loạn. Âm mưu bại lộ, các kẻ chủ mưu đều bị xử tử. Tống Phúc Thiệu bị bãi làm thứ dân và bị tù ở vườn Bát Khải.

Tháng 12 năm 1709, Chúa cho đúc Quốc bảo. Ấn khắc chữ: " Đại Việt Quốc Nguyễn Chúa Vĩnh Trấn Chi Bảo", để dùng và truyền đời này sang đời khác. Thấy nước giàu binh mạnh, Chúa định có ý muốn Bắc phạt. Chúa cho thám tử ra thăm dò tình hình miền Bắc, sau được tin báo về là Bắc Hà "trong triều cường thịnh, tướng văn, tướng vũ đều là người giỏi, binh lương đầy đủ, quân bộ, quân thủy đã nhiều lại tinh nhuệ v.v..", Chúa mới không nhắc đến chuyện này nữa.[5]

Trong thời gian trị vì, Chúa đóng góp nhiều công lao trong việc xây dựng kỷ cương Phật giáo, trùng tu chùa chiền và quảng bá đạo Phật khắp nước.

Năm 1694, Chúa sai người sang Quảng Đông mời hòa thượng Thích Đại Sán (Thiền sư Thạch Liêm) sang thuyết pháp về đạo Phật cho quan lại và dân chúng nghe. Hòa thượng đã tổ chức giới đàn để truyền giới Bồ tát cho Chúa và quyến thuộc, quân lại và 1400 tăng ni ở Phú Xuân. Chúa được ban pháp danh là Hưng Long. Thiền sư Thạch Liêm còn trao cho chúa một bản điều trần về việc cai trị quốc gia bằng chánh pháp.[6]

Năm 1710, nhân ngày Phật đản, Chúa cho đúc chuông chùa Thiên Mụ nặng 2,021 kg, cao 2,5 m, đường kính 1,2 m. Tiếng vang của Đại hồng chung bao trùm cả kinh thành.

Năm 1714, Chúa giao cho Chưởng cơ Tống Đức Đạt sửa sang chùa Thiên Mụ. Tất cả thợ khéo các nơi đều được huy động, chùa trở nên nguy nga hơn trước. Lễ khánh thành là ngày hội của dân chúng, những kho lúa của nhà nước được mở rộng để chẩn cấp cho dân nghèo.

Chúa còn cho sửa sang, mở rộng Văn Miếu ở làng Triều Sơn vào mùa xuân năm 1692. Văn học thi cử được chú trọng, Chúa đã cho tổ chức các khoa thi trong phủ Chúa. Trong các vị chúa, Chúa Phúc Chu là người chuộng thơ văn hơn cả.

Năm 1712, chúa cho lập phủ mới ở làng Bát Vọng huyện Quảng Điền.

Nguyễn Phúc Chu làm rất nhiều thơ, ông có nhiều bài thơ khóc vợ với tình ý tha thiết. Ông là người rất đông con: 146 người con gồm 38 người con trai.

Đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Chăm Pa[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 8 năm Nhâm Thân (1692) vua Chiêm Thành là Bà Tranh (Po Thot), hợp quân, đắp lũy, cướp giết cư dân ở phủ Diên Ninh[7]. Sự việc được báo lên Chúa, Chúa Phúc Chu đã sai Cai cơ Nguyễn Hữu Cảnh làm Thống binh, cùng Tham mưu Nguyễn Đình Quang đem quân Chính Dinh cùng quân Quảng Nam và Bình Khang đi đánh[8].

Đầu năm 1693, Nguyễn Hữu Cảnh bắt được Bà Tranh, Kế Bà Tử (em trai Bà Tranh) cùng thân thuộc là nàng Mi Bà Ân đem về Phú Xuân. Chúa sai kể tội giam cầm họ ở núi Ngọc Trản. Đổi đất Chiêm Thành thành trấn Thuận Thành (đất Panduranga) và lập ra phủ Bình Thuận.

Sau khi Bà Tranh chết tại Huế, Kế Bà Tử đã nổi dậy. Quý tộc Chăm tên Ốc Nha Đạt và người Mãn Thanh tên A Ban chỉ huy quân Chăm. Lúc đó Nguyễn Hữu Cảnh đang đi Tây Chính, và quân Nguyễn ở lại đã bị quân Chăm tiêu diệt hoàn toàn.

Khi Nguyễn Hữu Cảnh trở lại, Kế Bà Tử đã ký hòa ước với chúa Nguyễn Phúc Chu. Chúa Phúc Chu đã đồng ý khôi phục vương quốc Chăm Pa với hình thức là một khu tự trị với tên là Thuận Thành Trấn, và chúa Chăm được gọi là Trấn Vương (khâm lý), con của Bà Ân làm đề đốc để xếp đặt mọi việc trong phủ hạt, là thần hạ của chúa Nguyễn, buộc người dân ăn mặc theo phong tục nước Việt[9][10].

Theo bộ văn bản hoàng gia Chăm (bản chữ Hán), mối quan hệ phiên thuộc giữa vùng đất cai quản bởi các chúa Chăm và chính quyền trung ương của chúa Nguyễn diễn ra tốt đẹp.

Chúa Phúc Chu còn mở rộng bờ cõi đất đai xuống phía Nam, đạt được nhiều thành tựu như:

Chân Lạp[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 3 năm 1690, Hào Lương hầu Nguyễn Hữu Hào đánh thắng Cao Miên, bắt vua Cao Miên là Nặc Thu đem về Sài Côn rồi nghỉ quân, Cao Miên từ đó mới bình định. Sau đó Nặc Thu bị bệnh mất, Nặc Non cũng mất, các tướng tâu lên rằng dòng đích của vua Cao Miên không còn ai, do đó triều đình phong cho con Nặc Non là Nặc Yêm làm vua và lệnh cho đóng ở thành Gò Vách. (Sử Cao Miên ghi niên hiệu Thiên Vận (1622) là năm Thìn, Nặc Yêm con của Nặc Non là Tham - đích - sá - chiêu - trùy lên làm vua, so ra thời đại và tên gọi khá phù hợp nhưng tháng năm thì sai khác, điều đó còn cần khảo cứu thêm)[11].

Mùa xuân năm 1698, vua Nặc Yêm nước Chân Lạp cho quân lính cướp bóc dân buôn, triều đình sai Thống suất Chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh sang kinh lược đất Cao Miên, Nặc Yêm xin đầu hàng và nộp cống như cũ. Nguyễn Hữu Cảnh lấy đất Nông Nại đặt làm phủ Gia Định, lập đất Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng nên dinh Trấn Biên (lỵ sở nay là thôn Phước Lư), lập xứ Sài Côn làm huyện Tân Bình, lập dinh Phiên Trấn (quận sở nay gần Tân Đồn). Mỗi dinh lập ra chức Lưu thủ, Cai bạ và Ký lục để cai trị. Về vệ thuộc thì có hai ty Xá, Lại để làm việc, quân binh thì có tinh binh cơ đội thuyền thủy bộ và thuộc binh để hộ vệ[11].

Ngàn dặm đất đai, dân hơn 4 vạn hộ, chiêu mộ lưu dân từ châu Bố Chính đến lập nghiệp, lập ra thôn xã phường ấp, phân định địa giới, ruộng đất, lập ra tô thuế, xây dựng đinh điền bạ tịch. Con cháu người Hoa nếu ở Trấn Biên được quy lập thành xã Thanh Hà, còn ở Phiên Trấn thì lập thành xã Minh Hương rồi cho phép vào hộ tịch[11].

Năm 1705, Nặc Thâm (con Nặc Yêm) nối ngôi cha bất hòa với Nặc Yêm (vua thứ hai của Chân Lạp), nhờ Xiêm La giúp, đem binh đánh Nặc Yêm. Nặc Yêm chạy sang Gia Định cầu cứu, Nguyễn Hữu Cảnh sai Chánh thống cai cơ Nguyễn Cửu Vân đem binh sang đánh quân Xiêm, thắng trận ở Sầm Khê. Đây là trận đánh đầu tiên giữa nước Việt thời chúa Nguyễn/triều Nguyễn với Xiêm La được ghi nhận trong sử Việt.

Tuy vậy nước Chân Lạp vẫn chưa yên. Năm 1711, 1714 Nặc Thâm lại vây đánh Nặc Yêm. Nguyễn Hữu Cảnh phải cho các tướng Trần Thượng Xuyên, Nguyễn Cửu Phú đem quân đánh dẹp rồi phong cho Nặc Yêm làm vua Chân Lạp và giúp cho Nặc Yêm khi giới để phòng ngự.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Lăng mộ táng tại Kim Ngọc, Hương Trà, Thừa Thiên. Tên lăng là Trường Thanh[1]

Về sau, nhà Nguyễn truy tôn ông là Hiển Tông, thụy là Anh Mô Hùng Lược Thánh Minh Tuyên Đạt Khoan Từ Nhân Thứ Hiếu Minh hoàng đế.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Liệt truyện, Nguyễn Phúc Chu có cả thảy 146 người con. Nhưng theo Hoàng tử Phổ và Hoàng nữ Phổ, Chúa có 38 công tử và 4 công nữ.

Vợ[sửa | sửa mã nguồn]

Con trai[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Nguyễn Phúc Chú, tức Túc Tông Hiếu Ninh hoàng đế, mẹ là Từ Huệ Tống Hoàng hậu.
  2. Chưởng dinh Nguyễn Phúc Thể (1689 - 1762), mẹ là Trần Tu dung. Đương thời giữ chức Chưởng cơ, sau khi chết truy tặng hàm Chưởng dinh. Có 7 con trai: Mẫn, Thưởng, Tạo, Hội, Chiêm, Bạc, Thi.
  3. Khuyết danh.
  4. Chưởng vệ sự Nguyễn Phúc Long (1693 - 1743), mẹ là Cung tần Lê Thị Tuyên. Giữ chức Chưởng vệ sự. Có 4 con trai: Huy, Bính, Kính, Hân.
  5. Nguyễn Phúc Hải, không rõ tiểu sử, có 2 con trai: Y và Cự.
  6. Khuyết danh.
  7. Nguyễn Phúc Liêm, không rõ tiểu sử, có 2 con trai: Mặc và Xí.
  8. Luân Quốc công Nguyễn Phúc Tứ (1699 - 1753), mẹ là Từ Huệ Tống hoàng hậu. Đương thời giữ chức Nội hữu Cai đội. Là người khí phách lại thông thạo kinh sử, giỏi văn thơ nên bị ganh ghét, sau ông xin về hưu. Khi mất truy tặng Thiếu sư Luân Quốc công. Có 5 con trai: Dực, Tĩnh, Thăng, Túc, Hộ. Dực học rộng, nhiều tài, làm Chưởng cơ; Tĩnh và Thăng làm Chưởng dinh Quận công.
  9. Huấn Vũ hầu Nguyễn Phúc Thử (1699 - 1763), còn tên khác là Đường, mẹ là Hoàng Thị Duyên. Giữ chức Chưởng cơ Tả thủy, khi mất được truy tặng chức Tả quân Đô đốc Chưởng phủ sự, Chưởng dinh Huấn Vũ hầu. Có 7 con trai: Giảng, Hội, Ngũ, Tín, Hoan, Cấu, Trí.
  10. Nguyễn Phúc Lân, không rõ truyện. Có 1 con trai tên Duẩn.
  11. Nguyễn Phúc Chấn (? - 1738), không rõ truyện. Có 6 con trai: Thạc, Đàm, Tuyết, Vân, Bá, Lượng.
  12. Dận Quốc công Nguyễn Phúc Điền (1700 - 1739), mẹ là Nguyễn Kính phi. Làm quan chức Hữu thủy Cai đội, khi mất truy tặng là Thái bảo Dận Quốc công. Có 4 con trai: Viện, Khâm, Tuyền, Nghiễm và 1 con gái là Nguyễn Phúc Ngọc Cầu. Bà là em chú bác, đồng thời cũng là sủng thiếp của Vũ vương Nguyễn Phúc Khoát.
  13. Chưởng doanh Nguyễn Phúc Đăng (1702 - 1763), mẹ là Lê Thị Hoa. Ban đầu làm Chưởng cơ, sau khi chết tặng hàm Chưởng doanh. Có 2 con trai là Cẩn và Uẩn.
  14. Cai cơ Nguyễn Phúc Thiện (1702 - 1749), mẹ là Nguyễn Thị Tha. Ban đầu làm Cai đội, sau tặng làm Cai cơ. Có 2 con trai là Đức và Gia.
  15. Cai cơ Nguyễn Phúc Khánh (1704 - 1748), mẹ là Trương Thị Khuê. Ban đầu làm Cai đội, sau tặng làm Cai cơ. Có 3 con trai là Đao, Hạc và Điền.
  16. Cai cơ Nguyễn Phúc Cảo (1706 - 1762), mẹ là Tống Thị Sáng. Ban đầu làm Cai đội, sau tặng làm Cai cơ. Có 6 con trai: Mỹ, Tường, Nguyên, Kế, Gia, Nghị.
  17. Chưởng cơ Nguyễn Phúc Bình, không rõ truyện, giữ chức Chưởng cơ, có con trai tên là Kính.
  18. Chưởng cơ Quận công Nguyễn Phúc Tú, mẹ là Nguyễn Thị Gia. Được tặng Chưởng cơ Quận công. Có ba con trai: Thắng, Uyên, Dật.
  19. Chưởng vệ sự Quận công Nguyễn Phúc Truyền, em cùng mẹ với Huấn Vũ hầu Thử. Được tặng Chưởng vệ sự Quận công. Có 2 con trai: Thùy và Nghi.
  20. Nguyễn Phúc San (1707 - 1765), không rõ truyện. Có hai con trai là Kiên và Thuận.
  21. Cai đội Nguyễn Phúc Quận, không rõ truyện, làm quan chức Cai đội. Có hai con trai là Dực.
  22. Cai cơ Nguyễn Phúc Luân (1708 - 1748), tên khác là Yểm. Ban đầu làm Cai đội, sau tặng làm Cai cơ. Có ba con trai: Bửu, Ý, Nho.
  23. Cai cơ Nguyễn Phúc Bính (1708 - 1765), mẹ là Lê Thị Viên. Ban đầu làm Cai đội, sau tặng làm Cai cơ. Có 4 con trai: Khuông, Tuyên, Lương, Di.
  24. Nguyễn Phúc Tông, không rõ truyện. Có 1 con trai là Bán.
  25. Chưởng dinh Nguyễn Phúc Nghiễm, mẹ là Lê Thị Chính. Làm đến Chưởng cơ, khi mất truy tặng Chưởng dinh. Nghiễm có vườn trại ở xã Vân Dương, người đời sau gọi là Viên Công (Vườn ông), gọi chợ ở đó là chợ Viên Công. Có 2 con trai: Kỳ và Xuân.
  26. Chưởng cơ Nguyễn Phúc Xuân, làm đến Chưởng cơ. Có con trai là Thái.
  27. Thạnh Quận công Nguyễn Phúc Phong (1709 - 1754), mẹ là Nguyễn Chiêu nghi. Ông ban đầu làm Hữu dực cơ Chưởng cơ, được truy tặng Thiếu bảo Thạnh Quận công. Có 2 con trai: Tiến và Đạo.
  28. Nguyễn Phúc Hạo, không rõ truyện, không con cái.
  29. Chưởng cơ Nguyễn Phúc Kỷ (? - 1743), em cùng mẹ với Huấn Vũ hầu Nguyễn Phúc Thử và Quận công Nguyễn Phúc Truyền. Làm đến Chưởng cơ. Có 2 con trai: Chiêu và Tuy.
  30. Nguyễn Phúc Tuyền, làm đến Chưởng cơ, không rõ truyện. Có 1 con trai là Huyên
  31. Nguyễn Phúc Hanh, không rõ truyện. Con trai là Khánh.
  32. Cai cơ Nguyễn Phúc Lộc (1712 - 1774), em cùng mẹ với Cai cơ Nguyễn Phúc Bính. Ban đầu làm Cai đội, sau tặng làm Cai cơ. Có 2 con trai: Hợp và Tuấn.
  33. Chưởng cơ Nguyễn Phúc Triêm (1725 - 1788), khi mất truy tặng Chưởng cơ. Có 3 con trai: Tụy, Lập và Nông.
  34. Nguyễn Phúc Khiêm, không rõ truyện. Con trai là Lượng.
  35. Khuyết danh.
  36. Khuyết danh.
  37. Chưởng cơ Nguyễn Phúc Độ (1725 - 1752), khi mất truy tặng Chưởng cơ. Con trai là Kiêm.
  38. Nguyễn Phúc Tài, không rõ truyện. Có 2 con trai: Tráng và Thạnh.

Con gái[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Nguyễn Phúc Ngọc Sáng (? - 1721), mẹ là Cung tần Tống Thị Lượng, lấy Chưởng vệ Tống Văn Xuân. Khi chết truy phong là Tống Sơn Quận quân Trinh phu nhân, thụy Từ Ý.
  2. Nguyễn Phúc Ngọc Phượng (? - 1722), lấy Chưởng doanh Nguyễn Cửu Thế, cháu nội Nguyễn Cửu Kiều. Khi chết truy tặng Tống Sơn Quận chúa, thụy Trinh Nhã.
  3. Nguyễn Phúc Ngọc Nhật, lấy Cai cơ Nguyễn Cửu Duyệt, là chắt Nguyễn Cửu Kiều.
  4. Khuyết danh, lấy Chưởng cơ tên Chân (không rõ).

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Trăn
Minh Vương
1691-1725
Kế nhiệm:
Chúa Ninh Nguyễn Phúc Chú

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Gia tộc Nguyễn Phước 2006
  2. ^ Đại Nam thực lục, tập 1, trang 78
  3. ^ a ă â b Đại Nam thực lục, tập 1, trang 91
  4. ^ Đại Nam thực lục, tập 1, trang 92
  5. ^ Lê Quý Đôn (tác giả), Ngô Lập Chí (phiên dịch), Phủ biên tạp lục, 1959, trang 20
  6. ^ Nguyễn Lang (1979), Việt Nam Phật giáo sử luận, quyển 3, chương 23: Thiền phái Tào Động tới Việt Nam
  7. ^ Phủ Diên Ninh lúc này cho lệ vào dinh Bình Khang, dinh Bình Khang trước là dinh Thái Khang được đổi năm 1690.
  8. ^ Đại Nam thực lục tiền biên, Sđd, tr.147.
  9. ^ Theo Đại Nam Thực Lục Tiền Biên
  10. ^ Hoa Di Biến Thái (Ka-i-hen-tai, sử liệu Nhật Bản cuối thế kỷ thứ 17-đầu thế kỷ thứ 18)
  11. ^ a ă â Gia Định Thành Thông Chí. Quyển 3: Cương vực chí- Trịnh Hoài Đức.