Nguyễn Phúc Khoát

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nguyễn Phúc Khoát
Vũ Vương (chi tiết...)
Chúa Nguyễn
Tại vị 1738 - 1765
Tiền nhiệm Nguyễn Phúc Chú
Kế nhiệm Nguyễn Phúc Thuần
Thông tin chung
Tên húy Nguyễn Phúc Khoát
Tước hiệu Vũ Vương
Tước vị
Thụy hiệu Kiền Cương Uy Đoán thần Nghị Thánh Du Nhân Từ Duệ Trí Hiếu Vũ Hoàng Đế Ngắn: Hiếu Vũ Hoàng Đế
Miếu hiệu Thế Tông
Hoàng tộc Họ Nguyễn
Thân phụ Nguyễn Phúc Chú
Thân mẫu Trương Thị Thư
Sinh 1714
Mất 1765

Nguyễn Phúc Khoát (chữ Hán: 阮福闊), húy là Hiếu, còn gọi là Chúa Võ (hay Võ Vương) (17141765) là vị chúa Nguyễn thứ 8 (ở ngôi chúa: 1738-1765) trong lịch sử Việt Nam.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Phúc Khoát sinh năm Giáp Ngọ (1714) đời vua Lê Dụ Tông. Ông là người gốc Gia Miêu (huyện Tống Sơn, Thanh Hóa), và là con trai trưởng của chúa Nguyễn Phúc Chú và mẹ là Thục phi Trương Thị Thư [1].

Lúc đầu, Nguyễn Phúc Khoát được phong là Chưởng dinh Tiền Thủy, tước Hiểu Chính hầu, làm phủ đệ ở Cơ Tiền Dực tại làng Dương Xuân (Thừa Thiên).

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Về đối nội[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Mậu Ngọ (1738), Nguyễn Phúc Khoát nối ngôi khi 24 tuổi, được quan triều tôn là Thái bảo Hiểu Quận công, lấy hiệu là Từ Tế đạo nhân (vì ông chuộng đạo Phật).

Sau đó, Chúa Võ cho khởi công xây phủ mới, ở bên tả phủ cũ, và cho kiến thiết Đô thành Phú Xuân. Năm Kỷ Mùi (1739), công cuộc hoàn tất, triều thần tôn chúa là Thái phó Quốc công.

Cũng trong năm này, vua Chân Lạp là Nặc Bồn mang quân sang xâm phạm Hà Tiên. Mạc Thiên Tứ cùng vợ là Nguyễn Thị Hiếu Túc đánh đuổi được. Nghe tâu, Chúa Võ đặc cách phong Mạc Thiên Tứ làm đô đốc và vợ ông làm phu nhân.

Năm Canh Thân (1740), Chúa Võ quy định lại phép thi. Ngày 12 tháng 4 năm Giáp Tý (1744), quần thần dân biểu tôn Chúa Võ lên ngôi vương.

Kể từ đó, có nhiều cải cách được ban hành, như: phủ đổi thành điện, những gì trình lên vua gọi là tấu, Thân quân gọi là Vũ lâm quân, Văn chức đổi là Hàn lâm viện. Về hành chính thì chia làm 6 bộ: Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình và Công. Phàm văn thư vẫn dùng niên hiệu vua Lê nhưng đối với các thuộc quốc thì xưng là Thiên vương. Y phục từ quan đến dân cũng thay đổi [2]...

Về đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Chinh phạt Chân Lạp lần 1 (1753-1756)[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Đại Nam Thực Lực[3], vì việc triều Chân Lạp thường xuyên hiếp đáp và quấy nhiễu người Côn Man định cư tại Chân Lạp, nên triều Việt bàn bạc và quyết định chinh phạt nước Chân Lạp. Năm 1753, triều Việt sai sứ đưa thư sang Xiêm, một nước lớn thời bấy giờ đang tranh giành ảnh hưởng với triều Việt tại Chân Lạp, về việc chinh phạt Chân Lạp với lý do Chân Lạp là một nước phiên thần mà lại gây hấn nơi biên giới với xứ Đàng Trong và yêu cầu triều Xiêm tương trợ triều Việt bắt giữ và giao lại quốc vương Nặc Nguyên nếu Nặc Nguyên thua trận và trốn sang Xiêm.

Mùa đông năm Quý Dậu (1753), chúa Võ sai Cai đội Thiện Chính (khuyết họ) làm thống suất, Ký lục Nguyễn Cư Trinh làm tham mưu, điều khiển tướng sĩ năm dinh Bình Khang, Bình Thuận, Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ đi đánh Nặc Nguyên. Quân tiến đến Ngưu Chử (Bến Nghé), lập dinh trại, kén sĩ tốt, trừ bị thêm nhiều, để làm kế khai thác.

Mùa hạ năm Giáp Tuất (1754), quan quân Việt chia hai đường từ Gia Định theo hướng Tây đánh Châp Lạp. Đại binh của Thiện Chính tiến theo đường Mỹ Tho. Kỵ binh của Nguyễn Cư Trinh tiến theo đường Bát Đông[4], gấp rút đến biên giới, theo đường Tần Lê Bắc[5] ra Sông Cái[6] cùng hội với đại quân với của Thiện Chính ở đồn Lô Yêm[7]. Bốn phủ Chân Lạp là Lôi Lạt[8], Tầm Bôn[9], Cầu Nam[10] và Nam Vang[11] đều hàng. Nặc Nguyên bỏ chạy đến Tầm Phong Thu[12]. Nguyễn Cư Trinh bèn sai quân chiêu dụ những người Côn Man để làm thanh thế tiến quân, nhưng gặp mưa lụt phải đóng quân lại.

Mùa xuân năm Ất Hợi (1755), thống suất Thiện Chính rút về đồn Mỹ Tho trước, lệnh cho người Côn Man rời bỏ Ca Khâm[13], dời về đồn Đông Xa[14] tại Bình Thanh[15]. Nhưng khi đến Vô Tà Ân[16][17], đoàn người Côn Man liền bị hơn một vạn binh của Chân Lạp tập kích, quân Côn Man sức yếu thế cô, liền đem hết xe chất thành lũy và một lòng chống giữ, mặt khác cho quân đi cấp báo.

Thiện Chính vì sông sâu đầm lầy ngăn trở nên không thể ứng cứu, Nguyễn Cư Trinh tức thì dẫn 5 đội tùy quân đến ứng cứu, quân Chân Lạp phải rút lui.

Nguyễn Cư Trinh đón hơn 5000 trai gái dân Côn Man về trú dưới chân núi Bà Đinh (Bà Đen) rồi hạch tấu Thiện Chính về tội làm hỏng quân cơ, rút quân thiếu kỷ luật, bỏ rơi người mới quy phụ, không cứu viện,để quân giặc bắt đi.

Tấu được dâng lên, triều đình cho tra xét rồi giáng Thiện Chính xuống làm Cai đội, thu quyền Thống suất, ra lệnh cho Cai đội Trương Phúc Du làm Thống suất, dùng người Côn Man dẫn đường để tiến đánh Cầu Nam[10]Nam Vang và giết được một số Ốc nha. Nặc Nguyên chạy đến Hà Tiên nương tựa đô đốc Hà TiênMạc Thiên Tứ.

Năm 1756, Nặc Nguyên nhờ Mạc Thiên Tứ làm trung gian, đổ lỗi việc sát hại người Côn Man do tướng Chiêu Chùy Ếch[18] gây ra, xin hiến đất hai phủ là Tầm Bôn[9] và Lôi Lạt[8] để tạ tội, đồng thời xin cống nạp lễ vật còn thiếu ba năm trước đó để chuộc tội.

Chúa Võ lúc ấy không nhận lời xin[19], nhưng Nguyễn Cư Trinh đã dâng sớ tâu kế "tằm ăn dâu", khuyên Chúa nhận hai phủ mới và cho người Côn Man được định cư tại khu vực biên giới Việt - Chân Lạp để ngăn chặn việc Chân Lạp tái diễn gây hấn nơi biên giới. Trích lời sớ:

"Từ xưa, sở dĩ dùng đến binh, chẳng qua là muốn giết đứa cừ khôi, mở mang bờ cõi mà thôi. Nay Nặc Nguyên đã hối quá, biết nộp đất hiến của. Nếu không cho y hàng, thì y chạy trốn; mà từ Gia Định đến La Bích, đường sá xa xôi, không tiện đuổi đánh. Vậy muốn mở mang bờ cõi, chi bằng hãy lấy hai phủ ấy, giữ chặt phía sau cho hai dinh (Phiên Trấn và Trấn Biên). Năm xưa, đi mở phủ Gia Định, trước phải mở phủ Hưng Phúc (Biên Hoà), rồi mới mở đến phủ Lộc Dã (Đồng Nai) để quân dân đoàn tụ, rồi mới mở đất Sài Côn. Đó là cái kế "tằm ăn dâu" đó.

Nay từ Hưng Phúc đến Sài Côn đường đi chỉ hai ngày, mà dân cư còn chưa yên tập, quân giữ cũng có đứa chưa khỏe; phương chi từ Sài Côn đến Tầm Bôn, đường đi trong sáu ngày, thú binh trụ phòng, thực sợ chưa đủ.

Thần thấy rợ Côn Man đánh đường bộ rất tài, quân Chân Lạp cũng đã chột dạ. Nếu cho rợ Côn Man ở đấy, sai nó ngăn chống, lấy mọi đánh rợ, cũng là kế hay. Vậy nên xin cho nước Chân Lạp chuộc tội, lấy hai phủ ấy, cho thần xem xét tình thế, đặt luỹ đóng quân, cấp điền sản cho quân dân, chia địa giới, lấy châu Định Viễn để thâu cả toàn bức"

Chúa Võ thuận với lời tâu này, thâu nhận hai phủ mới, cho Nặc Nguyên lại làm quốc vương Chân Lạp, và cho nhóm người Côn Man được định cư tại khu vực Tây Ninh, dưới chân núi Bà Đen. Một nhóm người Côn Man đã được triều Việt di dời đến An Giang để bố trí phòng thủ biên giới Việt - Chân Lạp nơi thượng nguồn sông Hậu. Dần dần, nhóm này trở thành nhóm xóm Chà Châu Giang thuộc Châu Đốc tỉnh An Giang ngày nay.

Chinh phạt Chân Lạp lần 2 (1757)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đinh Sửu 1757, Nặc Nguyên mất. Một người chú họ của quốc vương là Nặc Nhuận tạm nắm quyền điều hành việc nước. Biên thần triều tấu với Chúa Võ phong Nặc Nhuận làm quốc vương Chân Lạp để ổn định biên cương, Chúa Võ bắt phải hiến đất hai phủ Trà Vang[20], Ba Thắc[21] mới chuẩn cho lập ngôi.

Song sang năm Mậu Dần 1758, Nặc Nhuận bị rể là Nặc Hinh nổi loạn giết chết cướp ngôi. Con của Nặc Nhuận là Nặc Tôn lánh nạn tại Hà Tiên và nhờ Mạc Thiên Tứ cầu cứu với chúa Nguyễn đánh đuổi Nặc Hinh giành lại ngôi vua Chân Lạp.

Nhận lời, Chúa Võ sai thống suất Trương Phúc Du tiến đánh, Nặc Hinh chạy đến Tầm Phong Xoài rồi bị phiên liêu là Ốc nha Uông giết chết.

Lúc ấy Mạc Thiên Tứ vì Nặc Ong Ton mà dâng tấu, vua sắc phong cho Nặc Ong Ton làm Quốc vương Cao Miên rồi sai Mạc Thiên Tứ cùng binh tướng 5 dinh đưa Nặc Ong Ton về nước nhưng buộc phải hiến thêm đất Tầm Phong Long (vùng đất nằm giữa sông Tiềnsông Hậu tương ứng với Châu Đốc, Sa Đéc bây giờ).

Quan quân khải hoàn về Gia Định, sau đó Du ChínhNghi Biểu dâng tấu xin dời dinh Long Hồ qua xứ Tầm Bao[22] (tức địa phận thôn Long Hồ ngày nay). Lại lấy xứ Sa Đéc đặt thành đạo Đông Khẩu, xứ Cù Lao Giêng ở Tiền Giang đặt làm đạo Tân Châu, xứ Châu ĐốcHậu Giang làm đạo Châu Đốc, rồi lấy binh dinh Long Hồ đến gìn giữ nơi địa đầu trọng yếu ấy.

Ngoài ra, Nặc Tôn còn tặng riêng cho Mạc Thiên Tứ năm phủ là: Kompong Som (Vũng Thơm), Kampot (Cần Bột), Chal Chun (Chưn Rùm hay Chân Sâm), Bantey M éas (Sài Mạt) và Raung Veng (Linh Quỳnh) để tạ ơn [23]. Tuy nhiên, Mạc Thiên Tứ lại đem những đất ấy dâng chúa Nguyễn[24]. Chúa Nguyễn tiếp tục cho Thiên Tứ cai quản vùng đất đó, và đặt xứ Rạch Giá làm đạo Kiên Giang, Cà Mau làm đạo Long Xuyên, lại đặt quan trông coi, chiêu mộ cư dân lập nên thôn ấp, do đó mà đất đai xứ Hà Tiên mới rộng lớn ra.

Hoàn thành công cuộc Nam tiến[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đinh Sửu (1757), theo đề nghị của ký lục dinh Long HồNguyễn Cư Trinh và thống suất Trương Phước Du, Chúa Võ thuận cho dời trị sở dinh Long Hồ và châu Định Viễn từ Cái Bè (Tiền Giang) về xứ Tầm Bào thuộc địa phận Long Hồ thôn (tức vùng chợ Vĩnh Long ngày nay). Cử Tống Phước Hiệp làm lưu thủ, đồng thời còn cho lập ba đạo để hỗ trợ việc coi giữ đó là: Đông Khẩu (ở phía Nam Sa Đéc), Tân Châu (ở đầu Cù lao Giêng, không phải tại thị trấn Tân Châu ngày nay) và Châu Đốc.

Đến đây (1757), kể như vùng đất Nam Bộ ngày nay đã thuộc về Chúa Võ.

Những năm cuối đời[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi hoàn thành công cuộc Nam tiến của mình, trong những năm cuối đời, Chúa Võ đâm ra say mê tửu sắc, không còn thiết tha việc nước nữa. Theo thông tin trên trang Nguyễn Phước tộc, thì:

Để dễ dàng trong việc tiếm quyền, chính Trương Phúc Loan đã khuyến dụ Chúa Võ đi vào con đường nữ sắc. Một cung phi rất được ngài sủng ái là Công nữ Nguyễn Phúc Ngọc Cầu, con của Dận quốc công Nguyễn Phúc Điền. Đây chính là mầm mống gây cảnh suy tàn của triều đại sau này[25].

Ngày 7 tháng 7, năm 1765, Chúa Võ Nguyễn Phúc Khoát qua đời, thọ 51 tuổi. Ông được táng tại Trường Thái lăng ở làng La Khê (Hương Trà, Thừa Thiên). Đến đời Gia Long, Chúa Võ được thờ tại Thái Tổ Miếu (tức Thái Miếu trong Hoàng thành Huế), án thứ tư bên tả.

Chúa Võ được táng tại lăng Trường Thái ở làng La Khê (Hương Trà, Thừa Thiên). Đến đời vua Gia Long, Chúa Võ được thờ tại Thái Tổ Miếu (tức Thái Miếu trong Hoàng thành Huế), án thứ tư bên tả.

Nguyễn Phúc Thuần, con trai thứ 16 của Chúa Võ lên ngôi, dâng thụy hiệu cho cha là: Trí Hiếu Vũ Vương. Năm Bính Dần (1806), Vua Gia Long truy tôn là: Trí Hiếu Võ Hoàng Đế, miếu hiệu là Thế Tông.[26]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Vợ[sửa | sửa mã nguồn]

Con trai[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Nguyễn Phúc Chương (1731 - 1763), truy phong Thành Công, thụy là Chương Chính.
  2. Nguyễn Phúc Luân, cha của Gia Long
  3. Nguyễn Phúc Mão (1731 - 1774), mẹ là Nguyễn thị. Làm đến chức Nội tả Bộ doanh Chưởng cơ, sau bị Trương Phúc Loan làm mưu giết hại.
  4. Nguyễn Phúc Cường (1734 - 1775), mẹ không rõ. Làm đến chức Tiết chế thủy bộ, tước Thành quận công
  5. Nguyễn Phúc Dục
  6. Nguyễn Phúc Dục,
  7. Nguyễn Phúc Kính (1737 - 1775), mẹ là Chiêu nghi phu nhân Trần thị. Ban đầu làm Hữu dực Cai đội, sau thăng Chưởng doanh Quận công. Khi vào Gia Định, bị đắm thuyền chết đuối.
  8. Nguyễn Phúc Bản, mẹ là Chiêu nghi phu nhân Trần thị, không rõ truyện.
  9. Nguyễn Phúc Hạo (1739 - 1760), mẹ là Tả cung tần Trương thị. Ban đầu được chúa Võ sủng ái, phong làm Thế tử. Ông mất khi còn rất trẻ, chỉ mới 22 tuổi. Chúa Võ rất thương, tặng làm Thái bảo Quận công, sau thay thành Hiếu Tuyên vương (孝宣王). Đời Gia Long, truy tặng ông thụy hiệu Tuấn Triết Ôn Lương Anh Duệ Minh Đạt Tuyên Vương (濬哲溫良英睿明達宣王). Con trai ông chính là Tân Chính vương Nguyễn Phúc Dương.
  10. Nguyễn Phúc An (1739 - 1772), mẹ là Đặng thị. Làm Thủy cơ Cai đội, sau thăng Cai cơ.
  11. Nguyễn Phúc Tuấn (1741 - 1764), mẹ là Chiêu nghi phu nhân Trần thị.
  12. Nguyễn Phúc Yến (1742 - 1776), mẹ là Chiêu nghi phu nhân Trần thị. Làm đến Tiết chế Chưởng doanh Quận công.
  13. Nguyễn Phúc Đạn (1743 - 1786), mẹ là Trần thị. Làm đến Tiết chế Chưởng doanh Quận công.
  14. Nguyễn Phúc Quyền, không rõ mẹ. Năm Ất Mùi (1775) mất tích trong giao tranh với Tây Sơn.
  15. Nguyễn Phúc Điệu, mẹ là Tuệ Tĩnh Thánh Mẫu nguyên sư Nguyễn Phúc thị. Công tử mất sớm, không có truyện.
  16. Nguyễn Duệ Tông Nguyễn Phúc Thuần, mẹ là Tuệ Tĩnh Thánh Mẫu nguyên sư Nguyễn Phúc thị.
  17. Nguyễn Phúc Xuân (1753 - 1777), mẹ là Vũ thị. Bị vua Xiêm giết, chết.
  18. Nguyễn Phúc Thăng (1761 - 1819), mẹ là Hữu cung tần Tống thị.

Con gái[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Nguyễn Phúc Ngọc Nguyện (1725 - 1773), lấy con trai Trương Phúc Loan tên là Thắng.
  2. Nguyễn Phúc Ngọc Tuyên (1737 - 1809), mẹ là Hữu cung tần Tống thị.
  3. Nguyễn Phúc Ngọc Thành (1739 - 1783), lấy Nguyễn Cửu Quán, cháu Nguyễn Cửu Kiều.
  4. Nguyễn Phúc Ngọc Ái (1742 - 1773), lấy Nguyễn Cửu Sách, con của Nguyễn Cửu Pháp.
  5. Nguyễn Phúc Ngọc Nguyệt (1748 - 1825), lấy Trương Phúc Đạo.
  6. Nguyễn Phúc Ngọc Quận, lấy Chưởng doanh Thái bảo Quận công Tống Phúc Khuông. Vì cầm sắt bất hòa, bà về nhà, rồi đi Quảng Ngãi, đến bến Ván, bị quân Tây Sơn bắt được, đem dìm chết ở sông Hội An thuộc Quảng Nam. Năm mất bà mới 25 tuổi. Người đầy tớ vớt thi hài và mai táng cho.
  7. Nguyễn Phúc Ngọc Đạo (1738 - 1773), mẹ là Tả cung tần Trương thị. Bà lấy Cai cơ Trương Phúc Nhạc, con thứ ba của Trương Phước Loan. Năm Ất Mùi (1775) mùa xuân, bà và Nhạc cùng vào Gia Định. Nhạc chết, bà theo Gia Long ra đảo Phú Quốc, rồi đi Hà Tiên, liệu lý việc quân nhu, bị quân Tây Sơn bắt giết.
  8. Nguyễn Phúc Ngọc Xuyến, lấy Cai cơ Nguyễn Cửu Tú, con Nguyễn Cửu Thông.
  9. Nguyễn Phúc Ngọc Dao, mẹ là Ôn Thành Trương hoàng hậu. Không rõ truyện. Gia Long năm thứ 5 (1806), tặng phong là Đệ nhất Cung hoàng nữ, thụy là Trinh Thục, thờ vào đền sau đền Triển Thân.
  10. Khuyết danh.
  11. Khuyết danh.
  12. Khuyết danh.

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam có đoạn:

Nguyễn Phúc Khoát thông minh, cương nghị, cả quyết, việc gì định làm thì nhất quyết làm cho bằng được, nên đôi khi tàn nhẫn...
Ông được nhiều nhân tài phù tá, nổi bật nhất là tướng Nguyễn Cư Trinh, nhờ đó mà việc nội trị và ngoại giao đều tốt đẹp.[27]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trương Thị Thư (1699-1720), là người ở huyện Tống Sơn, Thanh Hoá. Bà là con của chưởng dinh Trương Phúc Phan, được phong Nhã cơ khi chúa Nguyễn Phúc Chú chưa lên ngôi. Khi con trai trưởng lên làm chúa, bà được tấn phong là Từ Ý Quang Thuận Thục Phi. Bà sinh được 2 con trai (con trai thứ là Nguyễn Phúc Du), mất sớm khi mới 22 tuổi, táng trong lăng Vĩnh Phong, ở làng Long Hồ (Hương Trà, Thừa Thiên). Thời Gia Long, bà được truy phong là Hiếu Ninh Hoàng Hậu.
  2. ^ Về trang phục, ông sai người phỏng theo áo của người Chăm và áo sườn xám của Trung Hoa để chế ra áo dài (xem chi tiết ở truyện Sự tích chiếc áo dài của phụ nữ Việt Nam của Nguyễn Đắc Xuân in trong sách Truyện cũ cố đô, do nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành năm 1987).
  3. ^ “Đại Nam Thực lục Tiền biên, bản chữ Hán, quyển 10, phần 16”. 
  4. ^ theo bài viết này, " ... theo Trịnh Hoài Đức, sông Bát Đông đổ ra sông Hưng Hóa. Đối chiếu với thực tế, nay ta còn thấy con rạch Bát Đông (Bắc Đông) ở gần thị xã Tân An, tỉnh Long An trên đường đi Mộc Hoá, khá đông đúc..."
  5. ^ theo bài viết này, Tần Lê Bắc là tên con sông nằm vào vùng Đồng Tháp Mười hiện giờ phía giáp giới Campuchia. Theo Đại Nam Thực lục Tiền biên, bản chữ Hán quyển 10 phần 23, tên Hán là Tần Lê Bắc 秦犁北.
  6. ^ Sông Cái, hay sông Lớn, là tên gọi sông Mekong tại miền Tây Việt Nam. Theo hướng hành quân của quân Nguyễn Cư Trinh trong trận đánh này, là hướng đi từ sông Tần Lê Bắc hội ra sông Cái thì nhánh sông Cái này là thượng nguồn sông Tiền, giáp giới Campuchia. Theo Đại Nam Thực lục Tiền biên, bản chữ Hán quyển 10 phần 23, tên Hán là Đại Giang 大江.
  7. ^ Theo Đại Nam Thực lục Tiền biên, bản chữ Hán quyển 10 phần 23, tên Hán là Lô Yêm đồn 爐淹屯
  8. ^ a ă nay là Gò Công. Theo Đại Nam Thực lục Tiền biên, bản chữ Hán quyển 10 phần 23, tên Hán là Lôi Lạt 雷巤 không phải là Lôi Lạp 雷臘.
  9. ^ a ă nay là Tân An. Theo Đại Nam Thực lục Tiền biên, bản chữ Hán quyển 10 phần 23, tên Hán là Tầm Bôn 尋奔.
  10. ^ a ă chưa rõ là nơi nào. Theo Đại Nam Thực lục Tiền biên, bản chữ Hán quyển 10 phần 23, tên Hán là Cầu Nam 求南.
  11. ^ nay là Nam Vang. Theo Đại Nam Thực lục Tiền biên, bản chữ Hán quyển 10 phần 23, tên Hán là Nam Vang 南榮.
  12. ^ Tầm Phong Thu tức phủ La Vách. Theo Đại Nam Thực lục Tiền biên, bản chữ Hán quyển 10 phần 23, tên chữ Hán là Tầm Phong Thu 尋楓啾. Theo bản dịch Phủ Biên Tạp Lục, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, viện Sử học, năm 2007, trang 85, tên đất này còn gọi là Tầm Trầm Tho, nay là tỉnh Kampong Thom.
  13. ^ Theo Đại Nam Thực lục Tiền biên, bản chữ Hán quyển 10 phần 24, tên chữ Hán là Ca Khâm 哥衾.
  14. ^ Theo Đại Nam Thực lục Tiền biên, bản chữ Hán quyển 10 phần 24, tên chữ Hán là đồn XaThừa 車乘屯.
  15. ^ Theo Đại Nam Thực lục Tiền biên, bản chữ Hán quyển 10 phần 24, tên chữ Hán là Bình Thanh 平清.
  16. ^ Theo Đại Nam Thực lục Tiền biên, bản chữ Hán quyển 10 phần 24, tên chữ Hán là Vô Tà Ân 無斜恩.
  17. ^ Theo bài viết này, địa điểm này nằm trên đất Tây Ninh hiện nay.
  18. ^ Theo Đại Nam Thực lục Tiền biên, bản chữ Hán quyển 10 phần 27, tên chữ Hán là Chiêu Chùy Ếch 昭錘螠.
  19. ^ Lý do chúa Nguyễn không nhận lời xin vì triều Việt đòi Chân Lạp bắt giao tướng Chiêu Chùy Ếch cho mình, nhưng vua Chân Lạp Nặc Nguyên báo rằng triều Chân Lạp đã xử tử tướng Chiêu Chùy Ếch. Khi triều Việt đòi bắt gia đình tướng Chiêu Chùy Ếch giao cho mình, Nặc Nguyên lại xin tha cho họ. Chúa Nguyễn cho rằng đây là một hành động lừa dối, nên không thuận lời xin của Nặc Nguyên.
  20. ^ Trà Vang - nay là Trà Vinh, Bến Tre. Theo Đại Nam Thực lục Tiền biên, bản chữ Hán quyển 10 phần 29, tên Hán là Trà Vang 茶榮
  21. ^ Ba Thắc - nay là Sóc Trăng, Bạc Liêu. Theo Đại Nam Thực lục Tiền biên, bản chữ Hán quyển 10 phần 29, tên Hán là Ba Thắc 波忒
  22. ^ Tầm Bao (尋u): Là vùng đất chạy dài từ Long Hồ qua Sa Đéc lên tận Châu Đốc. Có lẽ Tầm Bôn cũng là đất nầy.
  23. ^ Tên 5 phủ ghi theo nhóm Nhân Văn Trẻ, tr. 203. Có sách phiên âm hơi khác.
  24. ^ Đến năm 1841, vua Thiệu Trị trả năm phủ này lại cho Chân Lạp (ghi chú của nhóm Nhân Văn Trẻ, tr. 203).
  25. ^ Xem [1].
  26. ^ Xem thụy hiệu đầy đủ ở website Nguyễn Phước tộc.
  27. ^ Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, tr. 598.

Nguồn tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quốc sử quán triều Nguyễn, Quốc triều sử toát yếu. Nhà xuất bản Văn Học, 2002.
  • Nguyễn Q. Thắng- Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1992.
  • Nhóm Nhân Văn Trẻ, Hỏi đáp lịch sử Việt Nam (tập 3). Nhà xuất bản Trẻ, 2007.
  • Trang Gia phả Nguyễn Phước tộc [2]


Tiền nhiệm:
Chúa Ninh Nguyễn Phúc Chú
Chúa Võ
1738-1765
Kế nhiệm:
Chúa Định Nguyễn Phúc Thuần

Bản mẫu:Tổ tiên các triều vua chúa Việt Nam