Nguyễn Phúc Khoát

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Vũ Vương
武王
Chúa Nguyễn (chi tiết...)
Nguyễn Vương
Tại vị 1738 - 1765
Tiền nhiệm Nguyễn Phúc Chú
Kế nhiệm Nguyễn Phúc Thuần
Thông tin chung
Tên húy Nguyễn Phúc Khoát
Tước hiệu Võ Vương (武王)
Tước vị
Thụy hiệu Kiền Cương Uy Đoán thần Nghị Thánh Du Nhân Từ Duệ Trí Hiếu Vũ Hoàng Đế
Ngắn: Hiếu Vũ Hoàng Đế
Miếu hiệu Thế Tông (世宗)
Thân phụ Nguyễn Phúc Chú
Thân mẫu Trương Thị Thư
Sinh 1714
Mất 1765
Đàng Trong, Đại Việt

Nguyễn Phúc Khoát (chữ Hán: 阮福濶), húy là Hiểu (chữ Hán: 曉), còn gọi là Chúa Võ, hiệu Vũ Vương hoặc Võ Vương[1] (17141765) là vị chúa Nguyễn thứ 8 của chính quyền Đàng Trong trong lịch sử Việt Nam, ở ngôi từ năm 1738 đến năm 1765.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Phúc Khoát sinh năm Giáp Ngọ (1714) đời vua Lê Dụ Tông. Ông là người gốc Gia Miêu (huyện Tống Sơn, Thanh Hóa), và là con trai trưởng của chúa Nguyễn Phúc Chú và mẹ là Thục phi Trương Thị Thư [2].

Lúc đầu, Nguyễn Phúc Khoát được phong là Chưởng dinh Tiền Thủy, tước Hiểu Chính hầu, làm phủ đệ ở Cơ Tiền Dực tại làng Dương Xuân (Thừa Thiên).

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Về đối nội[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Mậu Ngọ (1738), Nguyễn Phúc Khoát nối ngôi khi 24 tuổi, được quan triều tôn là Thái bảo Hiểu Quận công, lấy hiệu là Từ Tế đạo nhân (vì ông chuộng đạo Phật).

Sau đó, Chúa Võ cho khởi công xây phủ mới, ở bên tả phủ cũ, và cho kiến thiết Đô thành Phú Xuân. Năm Kỷ Mùi (1739), công cuộc hoàn tất, triều thần tôn chúa là Thái phó Quốc công.

Cũng trong năm này, vua Chân Lạp là Nặc Bồn mang quân sang xâm phạm Hà Tiên. Mạc Thiên Tứ cùng vợ là Nguyễn Thị Hiếu Túc đánh đuổi được. Nghe tâu, Chúa Võ đặc cách phong Mạc Thiên Tứ làm đô đốc và vợ ông làm phu nhân.

Năm Canh Thân (1740), Chúa Võ quy định lại phép thi. Ngày 12 tháng 4 năm Giáp Tý (1744), quần thần dân biểu tôn Chúa Võ lên ngôi vương.

Kể từ đó, có nhiều cải cách được ban hành, như: phủ đổi thành điện, những gì trình lên vua gọi là tấu, Thân quân gọi là Vũ lâm quân, Văn chức đổi là Hàn lâm viện. Về hành chính thì chia làm 6 bộ: Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình và Công. Phàm văn thư vẫn dùng niên hiệu vua Lê nhưng đối với các thuộc quốc thì xưng là Thiên vương. Y phục từ quan đến dân cũng thay đổi [3]...

Về đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Chinh phạt Chân Lạp lần 1 (1753-1756)[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Đại Nam Thực Lực[4], vì việc triều Chân Lạp thường xuyên hiếp đáp và quấy nhiễu người Côn Man định cư tại Chân Lạp, nên triều Việt bàn bạc và quyết định chinh phạt nước Chân Lạp. Năm 1753, triều Việt sai sứ đưa thư sang Xiêm, một nước lớn thời bấy giờ đang tranh giành ảnh hưởng với triều Việt tại Chân Lạp, về việc chinh phạt Chân Lạp với lý do Chân Lạp là một nước phiên thần mà lại gây hấn nơi biên giới với xứ Đàng Trong và yêu cầu triều Xiêm tương trợ triều Việt bắt giữ và giao lại quốc vương Nặc Nguyên nếu Nặc Nguyên thua trận và trốn sang Xiêm.

Mùa đông năm Quý Dậu (1753), chúa Võ sai Cai đội Thiện Chính (khuyết họ) làm thống suất, Ký lục Nguyễn Cư Trinh làm tham mưu, điều khiển tướng sĩ năm dinh Bình Khang, Bình Thuận, Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ đi đánh Nặc Nguyên. Quân tiến đến Ngưu Chử (Bến Nghé), lập dinh trại, kén sĩ tốt, trừ bị thêm nhiều, để làm kế khai thác.

Mùa hạ năm Giáp Tuất (1754), quan quân Việt chia hai đường từ Gia Định theo hướng Tây đánh Chân Lạp. Đại binh của Thiện Chính tiến theo đường Mỹ Tho. Kỵ binh của Nguyễn Cư Trinh tiến theo đường Bát Đông[5], gấp rút đến biên giới, theo đường Tần Lê Bắc ra Sông Cái[6] cùng hội với đại quân với của Thiện Chính ở đồn Lô Yêm[7]. Bốn phủ Chân Lạp là Lôi Lạt[8], Tầm Bôn[9], Cầu Nam[10] và Nam Vang[11] đều hàng. Nặc Nguyên bỏ chạy đến Tầm Phong Thu[12]. Nguyễn Cư Trinh bèn sai quân chiêu dụ những người Côn Man để làm thanh thế tiến quân, nhưng gặp mưa lụt phải đóng quân lại.

Mùa xuân năm Ất Hợi (1755), thống suất Thiện Chính rút về đồn Mỹ Tho trước, lệnh cho người Côn Man rời bỏ Ca Khâm[13], dời về đồn Đông Xa[14] tại Bình Thanh[15]. Nhưng khi đến Vô Tà Ân[16], đoàn người Côn Man liền bị hơn một vạn binh của Chân Lạp tập kích, quân Côn Man sức yếu thế cô, liền đem hết xe chất thành lũy và một lòng chống giữ, mặt khác cho quân đi cấp báo.

Thiện Chính vì sông sâu đầm lầy ngăn trở nên không thể ứng cứu, Nguyễn Cư Trinh tức thì dẫn 5 đội tùy quân đến ứng cứu, quân Chân Lạp phải rút lui.

Nguyễn Cư Trinh đón hơn 5000 trai gái dân Côn Man về trú dưới chân núi Bà Đinh (Bà Đen) rồi hạch tấu Thiện Chính về tội làm hỏng quân cơ, rút quân thiếu kỷ luật, bỏ rơi người mới quy phụ, không cứu viện,để quân giặc bắt đi.

Tấu được dâng lên, triều đình cho tra xét rồi giáng Thiện Chính xuống làm Cai đội, thu quyền Thống suất, ra lệnh cho Cai đội Trương Phúc Du làm Thống suất, dùng người Côn Man dẫn đường để tiến đánh Cầu Nam[10]Nam Vang và giết được một số Ốc nha. Nặc Nguyên chạy đến Hà Tiên nương tựa đô đốc Hà TiênMạc Thiên Tứ.

Năm 1756, Nặc Nguyên nhờ Mạc Thiên Tứ làm trung gian, đổ lỗi việc sát hại người Côn Man do tướng Chiêu Chùy Ếch[17] gây ra, xin hiến đất hai phủ là Tầm Bôn[9] và Lôi Lạt[8] để tạ tội, đồng thời xin cống nạp lễ vật còn thiếu ba năm trước đó để chuộc tội.

Chúa Võ lúc ấy không nhận lời xin[18], nhưng Nguyễn Cư Trinh đã dâng sớ tâu kế "tằm ăn dâu", khuyên Chúa nhận hai phủ mới và cho người Côn Man được định cư tại khu vực biên giới Việt - Chân Lạp để ngăn chặn việc Chân Lạp tái diễn gây hấn nơi biên giới. Trích lời sớ:[19]

Chúa Võ thuận với lời tâu này, thâu nhận hai phủ mới, cho Nặc Nguyên lại làm quốc vương Chân Lạp, và cho nhóm người Côn Man được định cư tại khu vực Tây Ninh, dưới chân núi Bà Đen. Một nhóm người Côn Man đã được triều Việt di dời đến An Giang để bố trí phòng thủ biên giới Việt - Chân Lạp nơi thượng nguồn sông Hậu. Dần dần, nhóm này trở thành nhóm xóm Chà Châu Giang thuộc Châu Đốc tỉnh An Giang ngày nay.

Chinh phạt Chân Lạp lần 2 (1757)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đinh Sửu 1757, Nặc Nguyên mất. Một người chú họ của quốc vương là Nặc Nhuận tạm nắm quyền điều hành việc nước. Biên thần triều tấu với Chúa Võ phong Nặc Nhuận làm quốc vương Chân Lạp để ổn định biên cương, Chúa Võ bắt phải hiến đất hai phủ Trà Vang[21], Ba Thắc[22] mới chuẩn cho lập ngôi.

Song sang năm Mậu Dần 1758, Nặc Nhuận bị rể là Nặc Hinh nổi loạn giết chết cướp ngôi. Con của Nặc Nhuận là Nặc Tôn lánh nạn tại Hà Tiên và nhờ Mạc Thiên Tứ cầu cứu với chúa Nguyễn đánh đuổi Nặc Hinh giành lại ngôi vua Chân Lạp.

Nhận lời, Chúa Võ sai thống suất Trương Phúc Du tiến đánh, Nặc Hinh chạy đến Tầm Phong Xoài rồi bị phiên liêu là Ốc nha Uông giết chết.

Lúc ấy Mạc Thiên Tứ vì Nặc Ong Ton mà dâng tấu, vua sắc phong cho Nặc Ong Ton làm Quốc vương Cao Miên rồi sai Mạc Thiên Tứ cùng binh tướng 5 dinh đưa Nặc Ong Ton về nước nhưng buộc phải hiến thêm đất Tầm Phong Long (vùng đất nằm giữa sông Tiềnsông Hậu tương ứng với Châu Đốc, Sa Đéc bây giờ).

Quan quân khải hoàn về Gia Định, sau đó Du ChínhNghi Biểu dâng tấu xin dời dinh Long Hồ qua xứ Tầm Bao[23] (tức địa phận thôn Long Hồ ngày nay). Lại lấy xứ Sa Đéc đặt thành đạo Đông Khẩu, xứ Cù Lao Giêng ở Tiền Giang đặt làm đạo Tân Châu, xứ Châu ĐốcHậu Giang làm đạo Châu Đốc, rồi lấy binh dinh Long Hồ đến gìn giữ nơi địa đầu trọng yếu ấy.

Ngoài ra, Nặc Tôn còn tặng riêng cho Mạc Thiên Tứ năm phủ là: Kompong Som (Vũng Thơm), Kampot (Cần Bột), Chal Chun (Chưn Rùm hay Chân Sâm), Bantey M éas (Sài Mạt) và Raung Veng (Linh Quỳnh) để tạ ơn [24]. Tuy nhiên, Mạc Thiên Tứ lại đem những đất ấy dâng chúa Nguyễn[25]. Chúa Nguyễn tiếp tục cho Thiên Tứ cai quản vùng đất đó, và đặt xứ Rạch Giá làm đạo Kiên Giang, Cà Mau làm đạo Long Xuyên, lại đặt quan trông coi, chiêu mộ cư dân lập nên thôn ấp, do đó mà đất đai xứ Hà Tiên mới rộng lớn ra.

Hoàn thành công cuộc Nam tiến[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đinh Sửu (1757), theo đề nghị của ký lục dinh Long HồNguyễn Cư Trinh và thống suất Trương Phước Du, Chúa Võ thuận cho dời trị sở dinh Long Hồ và châu Định Viễn từ Cái Bè (Tiền Giang) về xứ Tầm Bào thuộc địa phận Long Hồ thôn (tức vùng chợ Vĩnh Long ngày nay). Cử Tống Phước Hiệp làm lưu thủ, đồng thời còn cho lập ba đạo để hỗ trợ việc coi giữ đó là: Đông Khẩu (ở phía Nam Sa Đéc), Tân Châu (ở đầu Cù lao Giêng, không phải tại thị trấn Tân Châu ngày nay) và Châu Đốc.

Đến đây (1757), kể như vùng đất Nam Bộ ngày nay đã thuộc về Chúa Võ. Lãnh thổ Việt Nam hiện nay về cơ bản đã được định hình xong vào thời Chúa Võ.

Những năm cuối đời[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi hoàn thành công cuộc Nam tiến của mình, trong những năm cuối đời, Chúa Võ đâm ra say mê tửu sắc, không còn thiết tha việc nước nữa. Theo thông tin trên trang Nguyễn Phước tộc, thì:

Trong những năm về sau, mãi sống trong cảnh thanh bình, xa hoa, ngài [Võ vương] đâm ra say mê tửu sắc, không thiết tha việc nước, xa rời nhiệm vụ của bậc đế vương. Thêm vào đó, để dễ dàng trong việc tiếm quyền, Trương Phúc Loan [cậu ruột của Võ vương] đã khuyến dụ ngài đi vào con đường nữ sắc. Một cung phi rất được ngài sủng ái là Công nữ Nguyễn Phúc Ngọc Cầu, con của Dận quốc công Nguyễn Phúc Điền (chú ruột của Võ vương). Đây chính là mầm mống gây cảnh suy tàn của triều đại sau này[26].

Ngày 7 tháng 7, năm 1765, Chúa Võ Nguyễn Phúc Khoát qua đời, thọ 51 tuổi. Ông được táng tại Trường Thái lăng ở làng La Khê (Hương Trà, Thừa Thiên). Đến đời Gia Long, Chúa Võ được thờ tại Thái Tổ Miếu (tức Thái Miếu trong Hoàng thành Huế), án thứ tư bên tả.

Nguyễn Phúc Thuần, con trai thứ 16 của Chúa Võ lên ngôi, dâng thụy hiệu cho cha là: Trí Hiếu Vũ Vương. Năm Bính Dần (1806), Vua Gia Long truy tôn là: Trí Hiếu Võ Hoàng Đế, miếu hiệu là Thế Tông.[27]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Vợ[sửa | sửa mã nguồn]

Con trai[28][sửa | sửa mã nguồn]

  1. Thành công Nguyễn Phúc Chương (1732 - 1763), tên khác là Trà, mẹ là Trương Hoàng hậu. Gia Long truy phong Thành Công, thụy là Chương Chính. Chỉ có một người con gái, không rõ tên.
  2. Nguyễn Phúc Luân, tên khác là Côn, thân phụ của Gia Long Nguyễn Phúc Ánh.
  3. Chưởng dinh Nguyễn Phúc Mão (1731 - 1774), tên khác là Văn, mẹ là Nguyễn Thị Khoa. Làm đến chức Nội tả Bộ cơ Chưởng dinh, sau bị Trương Phúc Loan làm mưu giết hại[29]. Con trai tên Liêm (hoặc Đồng), Gia Long phong làm Khâm sai Cai đội. (Khi mất được truy tặng là Tráng Võ Công Thần Phụ Quốc Võ Liệt Tướng Quân Cai Cơ). Về sau, Gia Long xét ông có công từng làm A bảo nên cấp cho con cháu 30 mẫu tự điền.
  4. Thành Quận công Nguyễn Phúc Cường (1735 - 1775), tên khác là Thành. Làm đến chức Tiết chế Thủy bộ, tước Thành Quận công. Khi quân Trịnh đến Hồ Xá, ông với Nguyễn Cửu Pháp bắt Trương Phúc Loan giap cho Hoàng Ngũ Phúc. Khi Duệ Tông vào Gia Định, ông bị bệnh nên ở lại Quảng Nam và mất tại đó. Có năm con trai: Chiêu, Quý, Đàm, Hoảng, Diệu.
  5. Ý công Nguyễn Phúc Dực (1735 - ?), tên khác là Bửu, mẹ là Trương Hoàng hậu, được truy tặng Cẩm y vệ Đô chỉ huy ty Đô chỉ huy sứ, thụy là Chính Trực. Gia Long cấp 15 mẫu tự điền, truy tặng là Ý công.
  6. Thiếu phó Nguyễn Phúc Chất (1737 - 1777), làm quan chức Bộ binh Tiết chế. Năm Ất Mùi (1775), hộ giá Duệ Tông tới Quảng Nam rồi ở lại giúp Đông cung Dương. Sang năm sau chạy vào Gia Định, được thăng Thiếu phó. Có hai con trai: Viện và Trường.
  7. Chưởng dinh Quận công Nguyễn Phúc Kính (1737 - 1775), mẹ là Trần Chiêu nghi. Ban đầu làm Hậu dực cơ Cai đội, sau thăng Chưởng dinh Quận công. Khi vào Gia Định, bị đắm thuyền chết đuối. Táng tại làng Dương Xuân theo lối "chiêu hồn nhập mộ". ba con trai là Tĩnh, Tuyền, Đạo.
  8. Nguyễn Phúc Ban (1739 - ?), tên khác là Quy, mẹ là Trần Chiêu nghi, không rõ truyện. Có con trai tên Sóc và 1 người con gái không rõ tên.
  9. Hiếu Tuyên vương Nguyễn Phúc Hạo (1739 - 1760), mẹ là Trương Thị Hoàng. Ban đầu được chúa Võ sủng ái, phong làm Thế tử[30]. Ông mất khi còn rất trẻ, chỉ mới 22 tuổi. Chúa Võ rất thương, tặng làm Thái bảo Quận công, sau thay thành Hiếu Tuyên vương (孝宣王). Đời Gia Long, truy tặng ông thụy hiệu Tuấn Triết Ôn Lương Anh Duệ Minh Đạt Tuyên Vương (濬哲溫良英睿明達宣王). Con trai ông chính là Tân Chính vương Nguyễn Phúc Dương.
  10. Cai cơ Nguyễn Phúc An (1740 - 1772), tên khác là Vương Chiêu, mẹ là Đặng Thị Trúc. Làm Thủy cơ Cai đội, sau truy tặng Cai cơ. Có ba con trai: Bính, Chương, Thân và hai con gái (không rõ tên).
  11. Cai đội Nguyễn Phúc Tuấn (1743 - 1764), mẹ là Trần Chiêu nghi, truy tặng Cai đội. Chỉ có một con gái không tên.
  12. Chưởng dinh Quận công Nguyễn Phúc Yến (1743 - 1776), tên khác là Viêm, mẹ là Trần Chiêu nghi. Truy phong Tiết chế Chưởng dinh Quận công. Có ba con trai: Hán, Tuấn, Hoảng.
  13. Chưởng dinh Quận công Nguyễn Phúc Đạn (1744 - 1786), mẹ là Nguyễn Thị Thanh. Truy phong Tiết chế Chưởng dinh Quận công. Có hai con trai: Thự và Cẩn.
  14. Nguyễn Phúc Quyền (1749 - ?). Năm Ất Mùi (1775) mất tích trong giao tranh với Tây Sơn. Không có con.
  15. Thiếu bảo Quận công Nguyễn Phúc Diệu (1753 - ?), mẹ là Tuệ Tĩnh Thánh Mẫu Nguyên Sư. Công tử mất sớm, không có truyện, truy tặng Thiếu bảo Quận công. Lăng táng bên cạnh mẹ mình.
  16. Nguyễn Duệ Tông Nguyễn Phúc Thuần, mẹ là Tuệ Tĩnh Thánh Mẫu Nguyên Sư.
  17. Thiếu phó Quận công Nguyễn Phúc Xuân (1757 - 1780), mẹ là Vũ Thị Huyên. Ông cùng với anh là Nguyễn Phúc Quyền chống nhau với Tây Sơn ở Quảng Nam, thua trận phải vượt bể chạy vào Bình Thuận, gặp Đông cung, theo vào Gia Định. Bị vua Xiêm nghi ngờ nên giết. Gia Long truy tặng là Thiếu phó Quận công. Vua cho đưa thi hài về an táng ở làng Dương Xuân. Có con trai là Dịch và con gái không tên.
  18. Phúc Long công Nguyễn Phúc Thăng (1762 - 1819), mẹ là Hữu Cung tần Tống Thị Quyên. Loạn Giáp Ngọ, ông bị Tây Sơn bắt được, may nhờ tướng Tây Sơn là Nguyễn Chân muốn gả con gái cho nên ra sức giải cứu nhưng cấm ông không được đi đâu xa. Về sau trốn được[31], cùng cháu là Liêm (con của Chưởng dinh Nguyễn Phúc Mão) vào Thế Tổ (vua Gia Long sau này). Thế Tổ mừng khóc, cho đãi yến tiệc, phong ông là Quốc thúc Chưởng cơ Quận công. Năm 1817, tấn phong Phúc Long công. Vua đối với ông càng hậu thì ông càng khiêm nhường. Khi mất vua thương tiếc, bãi triều 5 ngày, ban thụy Hòa Tĩnh. Có bốn con trai: Thành (mất sớm), Vĩnh (tập tước Hầu), Tường, Thùy.

Con gái[32][sửa | sửa mã nguồn]

  1. Nguyễn Phúc Ngọc Nguyện (1726 - 1773), lấy con trai Trương Phúc Loan tên là Thắng, làm chức Trấn thủ Chưởng cơ Cựu dinh.
  2. Nguyễn Phúc Ngọc Tuyên (1738 - 1809), mẹ là Tả Cung tần họ Tống, lấy Tiết chế Chưởng dinh Nguyễn Cửu Thống. Gặp biến cố Giáp Ngọ (1774), Thống mất, bà xuống tóc làm ni, hiệu Vân Dương ni cô. Năm 1791, bà ngầm sai người theo thuyền buôn vào Gia Định tường thuật tình hình binh lương của Tây Sơn cho Gia Long biết. Bà đóng góp nhiều trong việc chiêu hàng tướng Lê Chất.
  3. Nguyễn Phúc Ngọc Thọ (1739 - 1775), mẹ là Tả Cung tần Trương Thị Cơ. Bà lấy Cai cơ Trương Phúc Nhạc, con thứ ba của Trương Phước Loan. Năm Ất Mùi (1775) mùa xuân, bà và Nhạc cùng vào Gia Định. Nhạc chết, bà theo Gia Long ra đảo Phú Quốc, rồi đi Hà Tiên, liệu lý việc quân nhu, bị quân Tây Sơn bắt giết.
  4. Nguyễn Phúc Ngọc Thành (1740 - 1783), lấy Nội tả Chưởng dinh Nguyễn Cửu Quản, cháu Nguyễn Cửu Kiều.
  5. Nguyễn Phúc Ngọc Ái (1743 - 1775), lấy Tiết chế Chưởng cơ Nguyễn Cửu Sách, con của Nguyễn Cửu Pháp.
  6. Nguyễn Phúc Ngọc Muội (1749 - 1825), mẹ là Tả Cung tần Trương Thị Bích, lấy Cai đội Trương Phúc Đạo. Thụy là Nhân Từ.
  7. Nguyễn Phúc Ngọc Quận, lấy Chưởng dinh Thái bảo Quận công Tống Phúc Khuông. Vì cầm sắt bất hòa, bà về nhà, rồi đi Quảng Ngãi, đến bến Ván, bị quân Tây Sơn bắt được, đem dìm chết ở sông Hội An thuộc Quảng Nam. Năm mất bà mới 25 tuổi. Người đầy tớ vớt thi hài và mai táng cho. Năm 1806, vua cho cải táng tại An Cựu, Thừa Thiên.
  8. Nguyễn Phúc Ngọc Xuyến, tê khác là Huy, lấy Cai cơ Nguyễn Cửu Tú, con Nguyễn Cửu Thông.
  9. Nguyễn Phúc Ngọc Dao, mẹ là Trương Hoàng hậu. Không rõ truyện. Gia Long năm thứ 5 (1806), tặng phong là Đệ nhất Cung hoàng nữ, thụy là Trinh Thục, thờ vào đền sau đền Triển Thân.
  10. Khuyết danh, lấy Cai đội Chiểu.
  11. Nguyễn Phúc Ngọc Cơ, mất sớm, không rõ truyện.
  12. Khuyết danh, lấy Cai cơ Tín.

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam có đoạn:

Nguyễn Phúc Khoát thông minh, cương nghị, cả quyết, việc gì định làm thì nhất quyết làm cho bằng được, nên đôi khi tàn nhẫn...
Ông được nhiều nhân tài phù tá, nổi bật nhất là tướng Nguyễn Cư Trinh, nhờ đó mà việc nội trị và ngoại giao đều tốt đẹp.[33]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Do kiêng hiệu của Chúa Vũ nên người dân Nam Hà đều đọc chữ Vũ thành Võ.
  2. ^ Trương Thị Thư (1699-1720), là người ở huyện Tống Sơn, Thanh Hoá. Bà là con của chưởng dinh Trương Phúc Phan, được phong Nhã cơ khi chúa Nguyễn Phúc Chú chưa lên ngôi. Khi con trai trưởng lên làm chúa, bà được tấn phong là Từ Ý Quang Thuận Thục Phi. Bà sinh được hai con trai (con trai thứ là Nguyễn Phúc Du), mất sớm khi mới 22 tuổi, táng trong lăng Vĩnh Phong, ở làng Long Hồ (Hương Trà, Thừa Thiên). Thời Gia Long, bà được truy phong là Hiếu Ninh Hoàng Hậu.
  3. ^ Về trang phục, ông sai người phỏng theo áo của người Chăm và áo sườn xám của Trung Hoa để chế ra áo dài (xem chi tiết ở truyện Sự tích chiếc áo dài của phụ nữ Việt Nam của Nguyễn Đắc Xuân in trong sách Truyện cũ cố đô, do nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành năm 1987).
  4. ^ “Đại Nam Thực lục Tiền biên, bản chữ Hán, quyển 10, phần 16”. 
  5. ^ theo bài viết này, "... theo Trịnh Hoài Đức, sông Bát Đông đổ ra sông Hưng Hóa. Đối chiếu với thực tế, nay ta còn thấy con rạch Bát Đông (Bắc Đông) ở gần thị xã Tân An, tỉnh Long An trên đường đi Mộc Hoá, khá đông đúc..."
  6. ^ Sông Cái, hay sông Lớn, là tên gọi sông Mekong tại miền Tây Việt Nam. Theo hướng hành quân của quân Nguyễn Cư Trinh trong trận đánh này, là hướng đi từ sông Tần Lê Bắc hội ra sông Cái thì nhánh sông Cái này là thượng nguồn sông Tiền, giáp giới Campuchia. Theo Đại Nam Thực lục Tiền biên, bản chữ Hán quyển 10 phần 23, tên Hán là Đại Giang 大江.
  7. ^ Theo Đại Nam Thực lục Tiền biên, bản chữ Hán quyển 10 phần 23, tên Hán là Lô Yêm đồn 爐淹屯
  8. ^ a ă nay là Gò Công. Theo Đại Nam Thực lục Tiền biên, bản chữ Hán quyển 10 phần 23, tên Hán là Lôi Lạt 雷巤 không phải là Lôi Lạp 雷臘.
  9. ^ a ă nay là Tân An. Theo Đại Nam Thực lục Tiền biên, bản chữ Hán quyển 10 phần 23, tên Hán là Tầm Bôn 尋奔.
  10. ^ a ă chưa rõ là nơi nào. Theo Đại Nam Thực lục Tiền biên, bản chữ Hán quyển 10 phần 23, tên Hán là Cầu Nam 求南.
  11. ^ nay là Nam Vang. Theo Đại Nam Thực lục Tiền biên, bản chữ Hán quyển 10 phần 23, tên Hán là Nam Vang 南榮.
  12. ^ Tầm Phong Thu tức phủ La Vách. Theo Đại Nam Thực lục Tiền biên, bản chữ Hán quyển 10 phần 23, tên chữ Hán là Tầm Phong Thu 尋楓啾. Theo bản dịch Phủ Biên Tạp Lục, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, viện Sử học, năm 2007, trang 85, tên đất này còn gọi là Tầm Trầm Tho, nay là tỉnh Kampong Thom.
  13. ^ Theo Đại Nam Thực lục Tiền biên, bản chữ Hán quyển 10 phần 24, tên chữ Hán là Ca Khâm 哥衾.
  14. ^ Theo Đại Nam Thực lục Tiền biên, bản chữ Hán quyển 10 phần 24, tên chữ Hán là đồn XaThừa 車乘屯.
  15. ^ Theo Đại Nam Thực lục Tiền biên, bản chữ Hán quyển 10 phần 24, tên chữ Hán là Bình Thanh 平清.
  16. ^ Theo Đại Nam Thực lục Tiền biên, bản chữ Hán quyển 10 phần 24, tên chữ Hán là Vô Tà Ân 無斜恩.
  17. ^ Theo Đại Nam Thực lục Tiền biên, bản chữ Hán quyển 10 phần 27, tên chữ Hán là Chiêu Chùy Ếch 昭錘螠.
  18. ^ Lý do chúa Nguyễn không nhận lời xin vì triều Việt đòi Chân Lạp bắt giao tướng Chiêu Chùy Ếch cho mình, nhưng vua Chân Lạp Nặc Nguyên báo rằng triều Chân Lạp đã xử tử tướng Chiêu Chùy Ếch. Khi triều Việt đòi bắt gia đình tướng Chiêu Chùy Ếch giao cho mình, Nặc Nguyên lại xin tha cho họ. Chúa Nguyễn cho rằng đây là một hành động lừa dối, nên không thuận lời xin của Nặc Nguyên.
  19. ^ Theo Đại Nam Thực lục Tiền biên, bản chữ Hán quyển 10 phần 12
  20. ^ nay là Longvek. Theo Đại Nam Thực lục Tiền biên, bản chữ Hán quyển 10 phần 12, tên Hán là La Bích 蘿壁.
  21. ^ Trà Vang - nay là Trà Vinh, Bến Tre. Theo Đại Nam Thực lục Tiền biên, bản chữ Hán quyển 10 phần 29, tên Hán là Trà Vang 茶榮
  22. ^ Ba Thắc - nay là Sóc Trăng, Bạc Liêu. Theo Đại Nam Thực lục Tiền biên, bản chữ Hán quyển 10 phần 29, tên Hán là Ba Thắc 波忒
  23. ^ Tầm Bao (尋u): Là vùng đất chạy dài từ Long Hồ qua Sa Đéc lên tận Châu Đốc. Có lẽ Tầm Bôn cũng là đất nầy.
  24. ^ Tên 5 phủ ghi theo nhóm Nhân Văn Trẻ, tr. 203. Có sách phiên âm hơi khác.
  25. ^ Đến năm 1841, vua Thiệu Trị trả năm phủ này lại cho Chân Lạp (ghi chú của nhóm Nhân Văn Trẻ, tr. 203).
  26. ^ Xem [1].
  27. ^ Xem thụy hiệu đầy đủ ở website Nguyễn Phước tộc.
  28. ^ Nguyễn Phúc tộc Thế phả (Nhà xuất bản Thuận Hóa - Huế, 1995), tr.184 - 189
  29. ^ Quan Hàn lâm Ngô Đình Thứ và Tri phủ Trần Giai Đạo được giao ngụy tạo thư của Loan thông đồng với Tây Sơn (dùng ấn của Loan đóng vào), rồi cho vứt giữa đường. Tham mưu là Tá lượm được thư, báo với ông. Ông tâu với đức Thế Tông xin bỏ ngục Loan. Loan hết sức biện bạch, bảo là bị vu cáo nên khỏi tội. Vì chuyện này mà Loan oán ông, giả làm thư của địch khuyên ông theo địch, rồi cho người tố cáo ông làn phản, ra lệnh xét trị tội. Ông sợ phải bỏ trốn. Loan sai cai đội Hương đuổi theo bắt, đem dìm xuống phá Tam Giang, mọi người đều thương tiếc.
  30. ^ Nhân ngày đản (ngày sinh) của đức Vũ Vương, các tôn thất và văn võ bá quan đem châu ngọc, gấm vóc dâng lên, riêng Thế tử chỉ dâng độc nhất một mâm lúa. Đức Vũ Vương lấy làm lạ, hỏi ông thì ông tâu: "Lúa là gốc để nuôi lấy sự sông nên con xem quí hơn ngọc châu vì thế đem dâng." Đức Vũ Vương lấy làm khen.
  31. ^ Năm 1793, trong 1 lần đi câu, ông thấy 1 xác đàn ông nổi lên, trạc tuổi mình nên đã cho cái xác đó mặc y phục của mình, giả cách đi câu bị chết đuối. Nhờ thế mà trốn được.
  32. ^ Nguyễn Phúc tộc Thế phả (Nhà xuất bản Thuận Hóa - Huế, 1995), tr.189 - 190
  33. ^ Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, tr. 598.

Nguồn tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quốc sử quán triều Nguyễn, Quốc triều sử toát yếu. Nhà xuất bản Văn Học, 2002.
  • Nguyễn Q. Thắng- Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1992.
  • Nhóm Nhân Văn Trẻ, Hỏi đáp lịch sử Việt Nam (tập 3). Nhà xuất bản Trẻ, 2007.
  • Trang Gia phả Nguyễn Phước tộc [2]
Tiền nhiệm:
Chúa Ninh Nguyễn Phúc Chú
Chúa Vũ
1738-1765
Kế nhiệm:
Chúa Định Nguyễn Phúc Thuần