Nguyễn Cư Trinh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Nguyễn Cư Trinh (chữ Hán: 阮居楨, Bính Tuất 1716 - Đinh Hợi 1767), tên chữ: Nghi, hiệu: Đạm Am, là danh tướng và là một danh sĩ thời chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát và Định vương Nguyễn Phúc Thuần, Đại Việt. Ngoài tài văn võ, ông còn nổi tiếng là người liêm chính, giỏi việc chính trị, doanh điền, ngoại giao và có phong độ của một trạnh thần (bầy tôi dám can ngăn).[1]

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Cư Trinh là người ở xã An Hòa tổng An Hòa huyện Hương Trà phủ Triệu Phong xứ Thuận Hóa[2], nay là phường An Hòa thành phố Huế tỉnh Thừa Thiên-Huế.

Tổ tiên xa là người họ Trịnh tên là Trịnh Cam, gốc người phường Phù Lưu, huyện Thiên Lộc phủ Đức Quang xứ Nghệ An (nay là huyện Can Lộc, Hà Tĩnh), từng làm quan dưới triều Lê đến chức Binh bộ Thượng thư. Khi họ Nhà Mạc lên ngôi thay nhà Lê, Trịnh Cam lánh vào Thanh Hóa chiêu mộ quân giúp nhà Hậu Lê, nhưng việc chưa thành thì mất.

Cha Nguyễn Cư Trinh là ông Nguyễn Đăng Đệ thuộc đời thứ bảy, vốn nổi tiếng về tài văn chương, thi đỗ sinh đồ, làm Tri huyện Minh Linh phủ Quảng Bình xứ Thuận Hóa (nay thuộc Quảng Trị), được chúa Nguyễn Phúc Chu mến tài ban cho quốc tính (được mang họ Nguyễn).

Là con út trong gia đình có truyền thống văn học, ngay từ nhỏ Nguyễn Cư Trinh cùng anh họ là Nguyễn Đăng Trình, đều đã nổi tiếng hay chữ. (Sau này, khi Nguyễn Phúc Khoát lên ngôi chúa, những luật lệ đều do Nguyễn Đăng Thịnh đặt ra mà văn từ thì do Nguyễn Cư Trinh thảo [3]).

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Nghiệp võ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Canh Thân (1740), ông thi đỗ Hương cống, được bổ làm Tri phủ Triệu Phong xứ Thuận Hóa (vùng đất thuộc cả Quảng TrịThừa Thiên-Huế), rồi trải qua các chức Tuần phủ Quảng Ngãi (Canh Ngọ [1750]), Ký lục dinh Bố Chính (Quảng Bình), sau đến Lại bộ Kiêm Tào vận sứ, tước Nghi Biểu hầu.

Bình định Chân Lạp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Quý Dậu (1753), Nguyễn Cư Trinh sang Chân Lạp (tức Cao Miên) đánh Nặc Nguyên (Chey Chettha VII).

Mùa đông năm Quý Dậu (1753), Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát sai ông Thiện Chính (khuyết tên) làm thống suất và ông Nguyễn Cư Trinh, ký lục Bố Chánh Dinh làm quan tham mưu, điều khiển tướng sĩ năm dinh đi đánh Nặc Nguyên. Quân tiến đến Ngưu Chử (Bến Nghé), lập dinh trại, kén sĩ tốt, trừ bị thêm nhiều, để làm kế khai thác.

Mùa hạ năm Giáp Tuất (1754), Nguyễn Cư Trinh với ông Thống suất chia quân tiến lên. Nguyễn Cư Trinh đi đến đâu, giặc quy phục đến đó; đi qua đất Tần Lê (?) ra đến Sông Lớn cùng hội quân với ông Thiện Chính ở đồn Lôi Lạp (Soi Rạp: Gò Công), phủ Tầm Bôn (Tân An), phủ Cầu Nam (Ba Nam), phủ Nam Vinh (Nam Vang: Phnôm Pênh).

Bốn phủ Xoài Lạp, Tầm Bôn, Cầu Nam và Nam Vang của Chân Lạp đều hàng.

Tiếp đó Cai đội Chấn Long đến phủ Tầm Phong Tiêm chiêu dụ người người Côn Man (tức người Chăm Hồi giáo sống ở Chân Lạp).

Nặc Nguyên chạy trốn sang phủ Tầm Phong Thu (phủ La Vách, gần Vĩnh Long ngày nay); năm đó lại gặp trận lụt mùa thu quá lớn (mùa nước nổi) nên Nặc Nguyên tạm ngưng đánh phá; quan quân chúa Nguyễn phải trở về đồn nghỉ ngơi.

Mùa xuân năm Ất Hợi (1755), ông Thống suất về đồn Mỹ Tho, dẫn theo hơn vạn người Côn Man mới chiêu phục. Đến đất Vô Tà Ân (có lẽ là vùng Đồng Tháp Mười) bị quân của Nặc Nguyên đổ ra đánh úp. Quân của thống suất Thiện Chính đi tập hậu bị mắc bụi rậm vũng lầy, không thể đến cứu viện.

Thiện Chính vì ao đầm ngăn trở nhất thời khó bề cứu viện ngay được, chỉ có Nguyễn Cư Trinh dẫn 5 đội tùy quân đến ứng cứu, quân Chân Lạp nghe hơi đã phải rút lui.

Nguyễn Cư Trinh đón hơn 5.000 dân Côn Man cả nam lẫn nữ về trú dưới chân núi Bà Đinh (tức núi Bà Đen tỉnh Tây Ninh ngày nay) rồi hạch tấu Thiện Chánh về tội làm hỏng quân cơ, rút quân thiếu kỷ luật, bỏ rơi người mới quy phụ, không cứu viện,để quân giặc bắt đi.

Tấu được dâng lên, triều đình cho tra xét rồi giáng Thiện Chánh xuống làm Cai đội, thu quyền Thống suất, ra lệnh cho Trương Phúc Du làm Thống suất.

Ông Cư Trinh với ông Phúc Du và người Côn Man đi tiên phong đến đánh hai phủ Cầu Nam và Nam Vinh.

Nặc Nguyên thua, phải chạy sang chỗ Mạc Thiên Tứ ở trấn Hà Tiên, và nhờ Mạc Thiên Tứ thay lời tâu rằng: Việc ấy do biên tướng Cao Miên là Chiêu trùy Ếch đàn áp người Côn Man, vua nước ấy xin chịu nhận và xin dâng hai phủ là Tầm Bôn (Tầm Đôn) và Lôi Lạp (nay là Tân An và Gò Công) để tạ tội, đồng thời xin cống nạp lễ vật còn thiếu ba năm trước đó (1756).

Sách Đại Nam thực lục chép:

Nặc Nguyên nước Chân Lạp trình bày rằng việc đánh cướp Côn Man là do tướng Chiêu Chùy ếch gây ra, nay xin hiến đất hai phủ Tầm Bồn, Lôi Lạp và nộp bù lễ cống còn thiếu về ba năm trước để chuộc tội. Mạc Thiên Tứ đem việc tâu lên. Chúa cùng các quan bàn, ra lệnh bắt Chiêu Chùy ếch đem nộp. Nặc Nguyên trả lời rằng ếch đã bị xử tử rồi. Khiến bắt vợ con. Nguyên lại kiếm cớ xin tha. Chúa biết là nói dối, không y lời xin.

Nguyễn Cư Trinh kíp tâu rằng: “Từ xưa việc dụng binh chẳng qua là để trừ diệt bọn đầu sỏ và mở mang thêm đất đai. Nặc Nguyên nay đã biết ăn năn xin hàng nộp đất, nếu truy mãi lời nói dối ấy thì nó tất chạy trốn. Nhưng từ đồn dinh Gia Định đến La Bích, đường sá xa xôi, nghìn rừng muôn suối, không tiện đuổi đến cùng. Muốn mở mang đất đai cũng nên lấy hai phủ này trước để củng cố mặt sau của hai dinh. Nếu bỏ gần cầu xa, e rằng hình thế cách trở, binh dân không liên tiếp, lấy được tuy dễ, mà giữ thực là khó. Khi xưa mở mang phủ Gia Định tất phải trước mở đất Hưng Phước, rồi đến đất Đồng Nai, khiến cho quân dân đông đủ, rồi sau mới mở đến Sài Gòn. Đó là cái kế tằm ăn dần. Nay đất cũ từ Hưng Phước đến Sài Gòn chỉ hai ngày đường, dân cư còn chưa yên ổn, quân giữ cũng chưa đủ nữa là. Huống từ Sài Gòn đến Lâm Bôn, xa sáu ngày đường, địa thế rộng rãi, dân số đến vạn người, quân chính quy đóng giữ thực sợ chẳng đủ. Thần xem người Côn Man giỏi nghề bộ chiến, người Chân Lạp cũng đã sợ lắm. Nếu cho họ đất ấy khiến họ chống giữ, “lấy người Man đánh người Man”, cũng là đắc sách. Vậy xin cho Chân Lạp chuộc tội, lấy đất hai phủ ấy, ủy cho thần xem xét hình thế, đặt lũy đóng quân, chia cấp ruộng đất cho quân và dân, vạch rõ địa giới, cho lệ vào châu Đinh Viễn, để thu lấy toàn khu”.

Chúa bèn y cho.

Sách Việt Nam sử lược chép:

Nặc Nguyên về làm vua Chân Lạp thường hay hà hiếp rợ Côn Man[4] và lại thông sứ với chúa Trịnh ở ngoài Bắc để lập mưu đánh chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn biết tình ý ấy, đến năm Quý Dậu (1753), sai Nguyễn Cư Trinh sang đánh Nặc Nguyên. Năm Ất Hợi (1755) Nặc Nguyên thua bỏ thành Nam Vang chạy sang Hà Tiên nhờ Mạc Thiên Tứ.
Năm sau Mạc Thiên Tứ dâng thư về nói rằng Nặc Nguyên xin dâng hai phủ Tầm Bôn (Tân An) và Lôi Lạp (Gò Công) để chuộc tội, và xin cho về nước. Chúa Nguyễn không muốn cho. Bấy giờ ông Nguyễn Cư Trinh dâng sớ bày tỏ cách khai thác nên dùng kế "tầm thực" nghĩa là nên lấy dần dần như con tầm ăn lá, thì mới chắc chắn được. Chúa Nguyễn nghe lời ấy bèn nhận hai phủ và cho Nặc Nguyên về Chân Lạp.[5]

Chúa Nguyễn theo lời tâu, nhận lấy hai phủ (1756) và cho Nặc Nguyên về nước.

Thu đất đai cho chúa Nguyễn nhập vào châu Định Viễn[6] (các vùng đất nằm ven 2 bờ sông Tiền Giang) và giữa sông Tiền và sông Hậu, với lỵ sở là dinh Long Hồ, là vùng phên dậu phía Nam phủ Gia Định lúc đó (đến đầu thời nhà Nguyễn thành trấn Vĩnh Thanh).

Phò Chúa trị nước[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khoảng 11 năm trấn giữ biên cương phía Nam, năm Ất Dậu (1765), Nguyễn Cư Trinh được chúa Nguyễn Phúc Thuần gọi về kinh nắm bộ Lại.[7]

Năm Ất Dậu (1765) Nguyễn Phúc Thuần lên nối ngôi chúa, quyền thần Trương Phúc Loan ỷ thế lộng quyền. Sách Đại Nam thực lục chép:

Nguyễn Cư Trinh nói: "Chốn triều đình bàn việc đã có định chế, Phúc Loan sao dám vô lễ như thế, sắp muốn chuyên quyền chăng? Trong nước sinh loạn tất là người ấy". Phúc Loan giận lắm nhưng e sợ, không dám làm gì.[8]

Nghiệp văn[sửa | sửa mã nguồn]

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Sãi vãi

Sáng tác bằng chữ Nôm của ông có vè Sãi vãiQuảng Ngãi thập nhị cảnh. Thơ chữ Hán của ông có Đạm Am thi tập (chưa tìm thấy) và mười bài họa Hà Tiên thập cảnh vịnh của Mạc Thiên Tứ. Ngoài ra ông còn để lại một số thư điều trần gửi chúa Nguyễn và thư đáp lại thư của cha con họ Mạc.

Từ điển văn học (bộ mới) cho biết: Tác phẩm của Nguyễn Cư Trinh một phần được Lê Quý Đôn dẫn ra trong Phủ biên tạp lục, Kiến văn tiểu lục và được Phạm Nguyễn Du chép trong Nam hành ký đắc tập. Có lẽ số thơ văn chữ Hán được ghi lại trong các sách trên là một phần của Đạm am thi tập hiện chưa tìm thấy.

Và cũng trong sách trên có nhận xét:

Toàn bộ sự nghiệp văn học của ông gắn với tâm sự và chí khí kinh bang tế thế, gắn với cuộc đời hoạt động của ông. Một số bài thơ có khí vị lối thơ biên tái, vừa phấn phát sôi nổi, hùng tráng; vừa lắng động, trầm tĩnh, bi hoài. Một số bài khác thì lại phản ánh tâm sự cô đơn, phiền muộn của một người đầy lòng ưu ái, thấy rõ tình hình thối nát của tập đoàn phong kiến Đàng Trong, thấu hiểu cảnh sống cơ cực, đau khổ của người dân, muốn "bàn nói mưu ngay, lẽ phải, nhưng đều không được theo" (Lê Quý Đôn)..[9]

Lời tâm huyết[sửa | sửa mã nguồn]

Sách Đại Nam thực lục (Tiền biên, quyển 10) chép sự việc này như sau:

"Mùa đông, tháng 10 năm Tân Mùi (1751), Nguyễn Cư Trinh (khi ấy đang giữ chức Tuần phủ Quảng Ngãi) có dâng một bức thư nói về tình trạng khốn đốn của dân gian. Ông cho rằng:

Dân là gốc của nước, gốc không bền vững thì nước chẳng thể yên, cho nên nếu ngày thường không chăm dùng ân huệ để cốt kết lòng người, thì đến khi có việc xảy ra, còn mong chờ vào đâu? Trộm nghĩ, thói tệ bạc chất chứa trong dân gian đã nhiều, nếu cứ thủ thường như cũ, không biết tùy thời thêm bớt và thiết lập kỷ cương, thì một ấp cũng khó giữ được, huống chi một nước. Nay, có ba việc gây tệ hại cho dân là nuôi lính, nuôi voi và nộp tiền án kiện, chưa kể những sự nhũng nhiễu khác không sao kể xiết...

Ông (Nguyễn Cư Trinh) lại trình thêm bốn thói tệ khác:

  • Một là: Chức quan đặt ra ở các phủ và các huyện là chức lo việc trị dân, thế mà gần đây không được giao trách nhiệm gì, chỉ sai khám hỏi, kiện tụng. Vậy, xin từ nay trở đi, các thứ thuế, hết thảy đều giao cho quan tri huyện biên thu rồi chuyển nạp cho quan ở Quảng Nam, cốt để tránh phiền nhiễu cho dân.
  • Hai là: Xưa nay, các quan ở phủ và huyện chỉ trông cậy vào sự tra hỏi, bắt bớ mà kiếm lộc. Nay, xin định lệ cấp bổng lộc thường xuyên cho họ, đồng thời, căn cứ vào sự thanh liêm hay tham lam, sự siêng năng hay lười biếng của họ để tiến hành thăng giáng hoặc truất bỏ quan chức.
  • Ba là: Dân lậu có hai hạng. Một hạng trốn thuế mà đi lang thang, một hạng ví quá cơ hàn mà phải phiêu bạt. Nay, nếu không chia đẳng hạng, hết thảy đều bắt ghi tên vào sổ để thu thuế, thì tất nhiên chúng sẽ sợ hãi rồi chạy trốn vào rừng rú, xã dân ở lại mà phải đóng thay thì họ chịu sao nổi. Vậy, xin xét cho kĩ, dân lậu nào còn có cái sinh nhai thì thu thuế như lệ thường, còn những ai đói rét khốn cùng thì cho miễn và tùy cách mà vỗ về nuôi nấng để cứu lấy dân nghèo.
  • Bốn là: Nên để cho dân được yên, không nên khuấy động họ, vì yên thì dễ trị, khuấy động thì dễ sinh loạn. Nay, nếu cứ sai người đi săn bắn ở núi rừng, hết đòi gà lại đòi ngựa, bọn chúng không hề theo ý tốt của bề trên mà chỉ lo quấy rối nhân dân các địa phương, bọn giả mạo ấy đi đến đâu là ở đó náo loạn, thì người ta oán hận là điều không sao tránh khỏi. Vậy, từ nay nếu có sai người đi thì cấp giấy tờ để họ trình quan địa phương xét, kẻ nào nhiễu dân thì phải trị, có thế may ra dân mới được yên.

Thư ấy dâng lên nhưng không được Chúa trả lời."[10]

Ghi công[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đinh Hợi (1767) ông bệnh và mất, hưởng dương 51 tuổi, được truy tặng Tá lý công thần, Vinh lộc đại phu, thụy Văn Định.

Đến đời Minh Mạng, ông được truy tặng là Khai quốc công thần, Hiệp biên đại học sĩ, đổi tên thụy thành Văn Cách, truy phong tước Tân Minh hầu, cho tòng tự [11]Thái miếu (Huế).

Khi làm Tuần phủ Quảng Ngãi, ông có công đánh dẹp cuộc nổi dậy của bộ lạc người Hré ở Đá Vách [13] vào năm Canh Ngọ (1750), nhưng võ công đáng kể hơn cả chính là khi ông được điều động Miền Nam từ năm Quý Dậu (1753) cho đến năm Kỷ Mão (1759. Nhờ kế sách "dĩ man công man"[14] và "tàm thực"[15], ông đã khéo léo thu cả miền đồng bằng sông Cửu Long về cho Đại việt.

Học giả Vương Hồng Sển sau kể chuyện Nguyễn Cư Trinh, một vị tướng văn võ toàn tài, đã có công mở cõi, ông còn viết:

Nguyễn Cư Trinh lại rất có công về cuộc phòng thủ lâu dài.
Ông giỏi phương pháp "dĩ địch chế địch" nên đặt người Côn Man thủ Tây NinhHồng Ngự...Về mặt thủy đạo, ông sai lập đồn hai bên sông Cửu Long gần biên giới...để làm hậu thuẫn.
Ông Cư Trinh lại rất giàu sáng kiến. Ông lo tổ chức sự an ninh vùng đất mới, đảm bảo sự thông thương buôn bán trên vùng rạch hồ...
Nguyễn Cư Trinh còn là một văn nhơn tài tử, ông thường ngâm vịnh, sang Phương Thành (Hà Tiên) nhập Chiêu Anh Các xướng họa cùng Mạc Thiên Tứ. Hai người rất là tương đắc, Thiên Tứ có ra mười bài "Hà Tiên thập cảnh vịnh" (nay còn truyền tụng). Cư Trinh có họa đủ mười bài.
Kể lại trong Nam, đời ấy công nghiệp lớn nhất có hai ông: Nguyễn Cư Trinh và Mạc Thiên Tứ. Ông trước cầm binh ra trận, thi phú tài tình; Ông sau giỏi ngón ngoại giao và văn chương tao nhã. Cả hai mở rộng bờ cõi Miền Nam cho chúng ta được hưởng ngày rày.[16]

Sách Hợp tuyển thơ văn Việt Nam có đoạn:

Nguyễn Cư Trinh có công trong việc ổn định bờ cõi nước nhà...Ông dùng binh cương quyết, nhưng khi đạt được mục đích quân sự thì dùng chính sách khoan hồng nhân đạo, đồng thời chăm lo mở mang sinh kế cho nhân dân, nên đạt kết quả chắn chắn và lâu dài. Ông bênh vực kỷ cương Nho giáo chống lại các thứ mê tín thịnh hành lúc bấy giờ. Vào cuối đời, ông dâng sớ tố cáo tệ quan trường nhũng nhiễu do sự chấp chính của quyền thần Trương Phúc Loan...[17]

Thông tin thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Khu mộ Nguyễn Cư Trinh ở xã Lộc Sơn, Phú Lộc, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên-Huế và đã được Bộ Văn hóa và Thông tin Việt Nam xếp hạng di tích quốc gia theo quyết định số 05/1999/QĐ/BVHTT ngày 12 tháng 1 năm 1998.[18]

Tên của ông cũng được đặt cho nhiều đường phố ở Việt Nam.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Theo Nguyễn Q.Thắng & Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (Nhà xuất bản KHXH, 1992, tr.506) và Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên quyển 2 (Sài Gòn, 1963, tr. 213).
  2. ^ Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn, trang 79.
  3. ^ Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, Quyển 2, tr. 213.
  4. ^ Côn Man là cách gọi người Chiêm Thành sống ở đất Chân Lạp. Sử của triều Nguyễn gọi người Chăm ở Chân Lạp là người Côn Man. Và người Chăm ở núi Bà Đen (Tây Ninh) hiện nay chính là di duệ của những người Côn Man định cư đợt này. Đợt chuyển cư người Côn Man đầu tiên xảy ra vào năm 1755 do Nguyễn Cư Trinh đưa về Tây Ninh. Rồi theo kế sách của mình là "dĩ man công man", ông cho xây đồn đắp lũy ở Tây Ninh và Hồng Ngự cho người Côn Man đến đồn trú để chống ngăn Chân Lạp. (theo Lê Ngọc Trụ & Phạm văn Luật, Sãi vãi - Sao lục & chú thích, Nhà xuất bản Khai Trí, Sài Gòn, 1962, tr. 50 và Địa chí An Giang (Tập 2), do UBND tỉnh An Giang tổ chức biên soạn & ấn hành, 2007, tr. 205).
  5. ^ Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược (Tập 2), Trung tâm học liệu, Sài Gòn, 1971, tr. 83
  6. ^ Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Dư địa chí, trang 171-172.
  7. ^ Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn, trang 243.
  8. ^ Tiền biên, Quyển 5. Dẫn theo Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, Quyển 2, tr.214.
  9. ^ Từ điển văn học (bộ mới), Nhà xuất bản Thế giới, 2004, tr. 1118-1119.
  10. ^ Chép theo Nguyễn Khắc Thuần, Việt sử giai thoại (Tập 7), Nhà xuất bản Giáo dục, 1998, tr. 74
  11. ^ Thái miếu (Hoàng thành Huế), bên phía trái gọi là Tả tòng tự, nơi thờ các vị công thần thuộc dòng dõi tôn thất. Bên phía phải gôi là Hữu tòng tự, nơi thờ các vị công thần xuất thân từ hàng dân giả. Ở Hữu tòng tự có bảy bài vị, bài vị của Nguyễn Cư Trinh là cái thứ sáu, sắp liền kề bài vị tướng Nguyễn Hữu Dật. Như vậy, thời Võ vương chỉ có một mình Nguyễn Cư Trinh là được thờ ở Thái Miếu.
  12. ^ Đây chính là thủy lộ mà tướng lãnh thời phong kiến, trong số đó có Nguyễn Cư Trinh, đã dẫn quân lên Chân Lạp.
  13. ^ Xem thêm trang Nổi dậy ở Đá Vách thời Nguyễn.
  14. ^ Dĩ man công man hay "dĩ địch chế địch" ý nói lấy người man (Côn Man) chống lại người man (Chân Lạp).
  15. ^ Tàm thực: Lối xâm lấn dần dần như tằm ăn lá dâu.
  16. ^ Trích Sài Gòn năm xưa
  17. ^ Hợp tuyển thơ văn Việt Nam tập 3, Huỳnh Lý chủ biên, Nhà xuất bản Văn học, 1978, tr. 111
  18. ^ Lăng mộ Nguyễn Cư Trinh

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]