Châu Đốc (tỉnh)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Vị trí tỉnh Châu Đốc thời Việt Nam Cộng hòa

Châu Đốctỉnh cũ ở miền Tây Nam Bộ (Đồng bằng sông Cửu Long), Việt Nam. Tỉnh Châu Đốc được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1900, tồn tại vào thời Pháp thuộc và bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa giải thể vào cuối năm 1956, tuy nhiên sau đó tỉnh Châu Đốc lại được chính quyền Việt Nam Cộng hòa tái lập vào năm 1964, tiếp tục tồn tại và bị mất tên gọi đơn vị hành chính cấp tỉnh từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 cho đến nay.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Pháp thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ tỉnh Châu Đốc của Nam Kỳ thuộc Pháp năm 1890.

Châu Đốc nguyên là đất thuộc Chân Lạp, gọi là Tầm Phong Long (Kompong Long). Năm 1757, vua Chân Lạp dâng đất này cho Chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn đặt đạo Châu Đốc nối liền với trấn Hà Tiên.

Năm 1876, Pháp chia Nam Kỳ thành 4 khu vực hành chính lớn, mỗi khu vực hành chính lại chia nhỏ thành các tiểu khu hay hạt tham biện (arrondissement administratif) thì Châu Đốc là hạt tham biện thuộc khu vực hành chính Bát Xắc (Bassac), vốn là phần đất tỉnh An Giang xưa.

Theo Nghị định ngày 20 tháng 12 năm 1899 của Toàn quyền Đông Dương đổi tất cả các hạt tham biện thành tỉnh thì từ ngày 1 tháng 1 năm 1900 hạt tham biện Châu Đốc trở thành tỉnh Châu Đốc.

Lúc bấy giờ tỉnh Châu Đốc có 9 chợ là:

  • Châu Phú (ngay tại Châu Đốc, làng Châu Phú, tổng Châu Phú);
  • Tịnh Biên (làng An Thạnh, tổng Quy Đức);
  • Chợ Kinh (ngay tại Tân Châu, làng Long Phú, tổng Tân Thạnh);
  • Cái Dầu (làng Bình Long, tổng An Lương);
  • Trà Dư (làng Thường Thới, tổng An Phước);
  • Hồng Ngự (làng Thường Lạc, tổng An Phước);
  • Cây Mít (làng Nhơn Hòa, tổng Quy Đức);
  • Phú An (làng Phú An, tổng An Thành);
  • Xoài Tôn (làng Hưng Nhượng, tổng Thành Tín)

Năm 1903, tỉnh Châu Đốc có 3 quận: Tân Châu, Tri TônTịnh Biên. Đến năm 1919 có thêm quận Châu Phú và năm 1929 có thêm quận Hồng Ngự được tách từ tổng An Phước quận Tân Châu. Tỉnh lỵ đặt tại làng Châu Phú thuộc quận Châu Phú. Tỉnh Châu Đốc giáp Campuchia (phía bắc), các tỉnh Tân An (phía đông bắc), Long Xuyên (phía đông nam và nam), Hà TiênRạch Giá (phía tây nam và nam).

Từ năm 1913 đến năm 1924, tỉnh Hà Tiên bị giải thể, trở thành một quận thuộc tỉnh Châu Đốc. Sau đó, lại tách ra trở thành tỉnh Hà Tiên độc lập như trước.

Năm 1939, tỉnh Châu Đốc có 5 quận: Châu Thành, Tân Châu, Hồng Ngự, Tịnh Biên, Tri Tôn. Trong đó, quận Châu Thành được thành lập năm 1917, đến năm 1919 thì đổi tên là quận Châu Phú. Tuy nhiên năm 1939 lại đổi về tên quận Châu Thành như cũ.

Giai đoạn 1945-1954[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ chủ trương bỏ cấp tổng, bỏ đơn vị làng, thống nhất gọi là xã, đồng thời bỏ danh xưng quận, gọi thay thế bằng huyện. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đến năm 1956 cũng thống nhất dùng danh xưng là xã, tuy nhiên vẫn gọi là quận cho đến năm 1975. Lúc bấy giờ, Châu Đốc là một trong 21 tỉnh ở Nam Bộ.

Ngày 12 tháng 9 năm 1947, theo chỉ thị số 50/CT của Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ (chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), lúc bấy giờ có sự thay đổi sắp xếp hành chính của tỉnh Châu Đốc và tỉnh Long Xuyên, thành lập các tỉnh mới có tên là Long Châu TiềnLong Châu Hậu như sau:

Tháng 10 năm 1950 tỉnh Long Châu Hậu hợp nhất với tỉnh Hà Tiên thành tỉnh Long Châu Hà, gồm 8 huyện: Tịnh Biên, Tri Tôn, Châu Phú A, Châu Thành, Thoại Sơn, Thốt Nốt, Giang Châu (hợp nhất hai huyện Giang Thành và Châu Thành của tỉnh Hà Tiên cũ), Phú Quốc. Tháng 7 năm 1951, hợp nhất 2 huyện Tri TônTịnh Biên thành huyện Tịnh Biên; hợp nhất 2 huyện Châu ThànhThoại Sơn thành huyện Châu Thành.

Tháng 6 năm 1951, tỉnh Long Châu Tiền hợp nhất với tỉnh Sa Đéc thành tỉnh Long Châu Sa, gồm 7 huyện: Châu Thành (của tỉnh Sa Đéc cũ), Lai Vung, Cao Lãnh, Tân Hồng, Tân Châu, Phú Châu, Chợ Mới. Trong đó, hai huyện Tân Hồng và Tân Châu vốn là hai huyện Hồng Ngự và Tân Châu của tỉnh Long Châu Tiền trước đó. Năm 1951, nhập huyện Lấp Vò vào tỉnh Long Châu Sa.

Tuy nhiên, tên các tỉnh Long Châu Tiền, Long Châu Hậu, Long Châu SaLong Châu Hà không được chính quyền Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại và chính quyền Việt Nam Cộng hòa công nhận.

Năm 1954, chính quyền Việt Minh giải thể các tỉnh Long Châu Sa, Long Châu Hà, đồng thời khôi phục lại tỉnh Châu Đốc, tỉnh Long Xuyên, tỉnh Sa Đéctỉnh Hà Tiên như cũ.

Giai đoạn 1954-1975[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số tỉnh Châu Đốc 1967[1]
Quận Dân số
An Phú 67.354
Châu Phú 168.021
Tân Châu 110.297
Tịnh Biên 40.717
Tri Tôn 64.127
Tổng số 450.516

Ban đầu, chính quyền Quốc gia Việt Nam và sau đó là Việt Nam Cộng hòa vẫn duy trì tên gọi tỉnh Châu Đốc như thời Pháp thuộc.

Năm 1955 tỉnh Châu Đốc có 5 quận: Châu Phú, Tân Châu, Tri Tôn, Tịnh Biên, Hồng Ngự với 70 xã.

Ngày 17 tháng 2 năm 1956, Việt Nam Cộng hòa tách quận Hồng Ngự ra khỏi tỉnh Châu Đốc để nhập vào tỉnh Phong Thạnh mới thành lập (sau đó lại đổi tên thành tỉnh Kiến Phong). Ngày 22 tháng 10 năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa thành lập tỉnh An Giang trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Châu Đốc và Long Xuyên trước đó. Cũng sau năm 1956, các làng gọi là xã.

Lúc này ở vùng đất cả hai tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc trước đó đều có quận Châu Thành cả. Tuy nhiên, do tỉnh lỵ tỉnh An Giang có tên là "Long Xuyên" và được đặt ở quận Châu Thành thuộc tỉnh Long Xuyên cũ, cho nên quận Châu Thành thuộc tỉnh Châu Đốc cũ được đổi tên là quận Châu Phú như ở giai đoạn 1919-1939.

Ngày 8 tháng 9 năm 1964, Thủ tướng chính quyền mới của Việt Nam Cộng hòa ký Sắc lệnh số 246/NV quy định kể từ ngày 01 tháng 10 năm 1964 tái lập tỉnh Châu Đốc trên cơ sở các quận Châu Phú, Tân Châu, An Phú, Tri TônTịnh Biên cùng thuộc tỉnh An Giang trước đó. Tỉnh Châu Đốc khi đó bao gồm 5 quận:

  • Quận Châu Phú: gồm 14 xã, quận lỵ đặt tại xã Châu Phú
  • Quận Tân Châu: gồm 8 xã, quận lỵ đặt tại xã Long Phú
  • Quận Tri Tôn: gồm 15 xã, quận lỵ đặt tại xã Tri Tôn
  • Quận Tịnh Biên: gồm 8 xã, quận lỵ đặt tại xã An Phú
  • Quận An Phú (được thành lập vào năm 1957): gồm 13 xã, quận lỵ đặt tại xã Phước Hưng.

Tỉnh lỵ tỉnh Châu Đốc khi đó lại có tên là "Châu Phú", do nằm trong địa bàn xã Châu Phú, quận Châu Phú.

Chính quyền Cách mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1957, chính quyền Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cùng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng giải thể và sáp nhập hai tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc với nhau để thành lập một tỉnh mới, vẫn lấy tên là tỉnh An Giang như phía chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã thực hiện vào năm 1956.

Trong giai đoạn 1964-1971, địa bàn tỉnh Châu Đốc của chính quyền Việt Nam Cộng hòa vẫn do tỉnh An Giang của chính quyền Cách mạng quản lý.

Năm 1971, Trung ương Cục miền Nam quyết định thành lập tỉnh Châu Hà, tách ra từ tỉnh An Giang, trên phần đất tỉnh Châu Đốc và tỉnh Hà Tiên trước năm 1956. Đến tháng 5 năm 1974 chính quyền Cách mạng lại giải thể tỉnh An Giang, tái lập các tỉnh Long Châu HàLong Châu Tiền bao gồm cả một phần vùng đất tỉnh Long Xuyên trước năm 1956.

Tỉnh Long Châu Tiền gồm 6 huyện, thị: thị xã Tân Châu, An Phú, Phú Tân A, Phú Tân B, Hồng Ngự và Tam Nông (nay là huyện Thanh Bình tỉnh Đồng Tháp).

Tỉnh Long Châu Hà mới gồm 8 huyện: Châu Thành X, Châu Phú, Tri Tôn, Tịnh Biên, Huệ Đức, Châu Thành A, Hà Tiên, Phú Quốc và 2 thị xã Long XuyênChâu Đốc.

Tuy nhiên, tên các tỉnh Châu Hà, Long Châu HàLong Châu Tiền cũng không được chính quyền Việt Nam Cộng hòa công nhận, mà thay vào đó vẫn sử dụng tên tỉnh Châu Đốc cho đến năm 1975.

Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975, chính quyền quân quản Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban đầu vẫn duy trì các tỉnh Long Châu HàLong Châu Tiền như trước đó cho đến đầu năm 1976. Lúc này, chính quyền Cách mạng cũng bỏ danh xưng "quận" có từ thời Pháp thuộc và lấy danh xưng "huyện" (quận và phường dành cho các đơn vị hành chánh tương đương khi đã đô thị hóa).

Ngày 20 tháng 9 năm 1975, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 245-NQ/TW về việc bỏ khu, hợp tỉnh trong toàn quốc "nhằm xây dựng các tỉnh thành những đơn vị kinh tế, kế hoạch và đơn vị hành chính có khả năng giải quyết đến mức cao nhất những yêu cầu về đẩy mạnh sản xuất, tổ chức đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân, về củng cố quốc phòng, bảo vệ trị an, và có khả năng đóng góp tốt nhất vào sự nghiệp chung của cả nước". Theo Nghị quyết này, địa bàn các tỉnh Long Châu HàLong Châu Tiền sẽ được chia ra vào sáp nhập vào các tỉnh mới, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên. Cụ thể như sau:

Nhưng đến ngày 20 tháng 12 năm 1975, Bộ Chính trị lại ra Nghị quyết số 19/NQ điều chỉnh lại việc hợp nhất tỉnh ở miền Nam Việt Nam cho sát với tình hình thực tế, theo đó chỉ hợp nhất một phần các tỉnh Long Châu TiềnLong Châu Hà trước đó lại thành một tỉnh mới. Địa bàn tỉnh mới này sẽ tương ứng với tỉnh Châu Đốc và tỉnh An Giang thời Việt Nam Cộng hòa, ngoại trừ huyện Thốt Nốt.

Sau năm 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Sau năm 1975, tỉnh Châu Đốc bị giải thể, sáp nhập vào tỉnh An Giang theo sự phân chia sắp xếp hành chính của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Địa bàn tỉnh Châu Đốc cũ ngày nay tương ứng với các huyện Châu Phú, An Phú, Tri Tôn, Tịnh Biên, Phú Tân, thành phố Châu Đốcthị xã Tân Châu của tỉnh An Giang. Nếu kể luôn thời điểm trước năm 1956 thì tỉnh Châu Đốc bao gồm thêm huyện Hồng Ngự, huyện Tân Hồngthị xã Hồng Ngự ngày nay cùng thuộc tỉnh Đồng Tháp.

Hiện nay, địa danh "Châu Đốc" chỉ còn được dùng để chỉ thành phố Châu Đốc, đơn vị hành chính cấp huyện trực thuộc tỉnh An Giang.

Phân chia hành chánh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1901[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tổng Thành Tín (誠信, nguyên là các làng nằm dọc hai bờ kênh Vĩnh Tế thuộc huyện Hà Dương và phần còn lại của huyện Hà Âm) gồm 5 làng: Vĩnh Điều, Vĩnh Gia, Vĩnh Lạc, Vĩnh Quới, Hưng Nhượng)[2];
  • Tổng Quy Đức (nguyên là các làng dọc bờ nam kênh Vĩnh Tế trước thuộc huyện Hà Dương, gồm 5 làng: An Nông, An Thạnh, Phú Thạnh, Nhơn Hòa, Thới Sơn;
  • Tổng Thành Ý (nguyên là đất huyện Hà Dương) gồm 8 làng: Tà Đảnh, Thuyết Nạp, Trát Quan, Tu Tế, Văn Giáo, Vĩnh Trung, Xuân Tô, An Cư;
  • Tổng Thành Ngãi (nguyên là đất thuộc huyện Hà Dương) gồm 8 làng: Ba Chút, Bích Trì, Bôn Ca, Châu Lăng, Lê Huất, Lương Đô, Phi Yên, Trầm Văn;
  • Tổng Thành Lễ (誠禮, nguyên là đất huyện Hà Dương) gồm 6 làng: An Tức, Đôn Hậu, Giai Âm, Nam Qui, Phi Cấm, Tri Tôn;
  • Tổng Thành Tâm (nguyên là đất huyện Hà Dương) gồm 4 làng: Cô Tô, Nam Chỉ, Ngôn Nạp, Ô Lâm;
  • Tổng Châu Phú (nguyên là đất huyện Tây Xuyên) gồm 21 làng: Châu Phú, Khánh An, Khánh Bình, Khánh Hội, Nhơn Hội, Phú Hội, Vĩnh Hội; Vĩnh Hội Đông, Vĩnh Khánh, Vĩnh Tế, Vĩnh Ngươi, Vĩnh Trường, Vĩnh Hưng, Phước Hưng, Đa Phước, Mỹ Đức, Kacoi, Kacoki, Lama, Sbâu, Hà Bao;
  • Tổng An Lương (nguyên là đất các huyện Tây Xuyên và Đông Xuyên) gồm 18 làng: Bình Long, Bình Mỹ, Bình Thạnh Đông, Hòa Hảo, Hòa Lạc, Khánh Hòa, Vĩnh Hậu, Vĩnh Lộc, Vĩnh Phong, Vĩnh Thạnh Trung, Thạnh Mỹ Tây, Phú Hữu, Hưng Nhơn, Hiệp Xương, Đồng Đức, Châu Giang, Phum Soài, Katambong;
  • Tổng An Thành (nguyên là đất huyện Đông Xuyên) gồm 12 làng: Long Khánh, Long Sơn, Long Thuận, Long Phú, Phú Thuận, Phú Lâm, Phú Hội Đại, Phú An, Tân An, Vĩnh Hòa, Vĩnh Xương, Vĩnh Xuyên;
  • Tổng An Phước (nguyên là đất tỉnh Định Tường và một phần huyện Đông Xuyên) gồm 12 làng: An Long, An Bình, Bình Thạnh, Bình Phú, Tân Long, Tân Hội, Tân Huế, Tân Quới, Tân Thành, Thường Lạc, Thường Phước, Thường Thới.

Năm 1939[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tổng An Lương gồm 10 làng: Bình Long, Bình Mỹ, Bình Thạnh Đông, Hiệp Xương, Hòa Lạc, Hưng Nhơn, Katambong, Khánh Hòa, Thạnh Mỹ Tây, Vĩnh Thạnh Trung;
  • Tổng An Phú gồm 11 làng: Kacoki, Tân Hội, Khánh An, Khánh Bình, Nhơn Hội, Phú Hữu, Phum Soài, Vĩnh Lộc, Phước Hưng, Phú Hội, Vĩnh Hội Đông;
  • Tổng Châu Phú gồm 10 làng: Châu Phú, Đa Phước, Hà Bao, Mỹ Đức, Châu Giang, Vĩnh Phong, Vĩnh Tế, Vĩnh Ngươn, Vĩnh Hậu, Vĩnh Trường;
  • Tổng An Lạc gồm 3 làng: Hòa Hảo, Phú An, Phú Lâm;
  • Tổng An Thành gồm 8 làng: Long Khánh, Long Phú, Long Sơn, Long Thuận, Phú Thuận, Tân An, Vĩnh Hòa, Phú Vĩnh;
  • Tổng Cù Lao Tây gồm 3 làng: Tân Huề, Tân Long, Tân Qưới;
  • Tổng An Phước gồm 8 làng: An Bình, An Long, Bình Thạnh, Tân Hội, Tân Thành, Thường Lạc, Thường Phước, Thường Thới;
  • Tổng Quy Đức gồm 4 làng: An Nông, An Phú, Thới Sơn, Nhơn Hưng;
  • Tổng Thành Tín gồm 2 làng: Vĩnh Gia, Lạc Qưới;
  • Tổng Thành Ý gồm 5 làng: Thuyết Nạp, Văn Giáo, Vĩnh Trung, Xuân Tô, Yên Cư;
  • Tổng Thành Ngãi gồm 5 làng: Ba Chúc, Bồn Tai, Châu Lang, Lê Huất, Lương Phi;
  • Tổng Thành Tâm gồm 2 làng: Cô Tô, Ô Lâm;
  • Tổng Thành Ý gồm 3 làng: Tà Đảnh, Trác Quan, Tú Tề.

Năm 1970[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quận An Phú gồm 11 xã: Đa Phước, Khánh An, Khánh Bình, Nhơn Hội, Phú Hội, Phú Hữu, Phước Hưng, Vĩnh Hậu, Vĩnh Hội Đông, Vĩnh Lộc, Vĩnh Tường;
  • Quận Châu Phú gồm 15 xã: Bình Long, Bình Mỹ, Bình Thạnh Đông, Châu Giang, Châu Phong, Châu Phú, Hiệp Xương, Hòa Lạc, Hưng Nhơn, Khánh Hòa, Mỹ Đức, Thạnh Mỹ Tây, Vĩnh Ngươn, Vĩnh Tế, Vĩnh Thạnh Trung;
  • Quận Tân Châu gồm 9 xã: Hòa Hảo, Long Phú, Long Sơn, Phú An, Phú Lâm, Phú Vinh, Tân An, Vĩnh Hòa, Vĩnh Xương;
  • Quận Tịnh Biên gồm 10 xã: An Nông, An Phú, Ba Chúc, Lạc Qưới, Nhơn Hưng, Tân Khánh Hòa, Thới Sơn, Vĩnh Điều, Vĩnh Gia, Xuân Tô;
  • Quận Tri Tôn gồm 12 xã: An Cư, An Hảo, An Lạc, An Túc, Cô Tô, Lệ Tri, Lương Phi, Ô Lâm, Tri Tôn, Tú Tề, Văn Giáo, Vĩnh Trung.

Chú thích và nguồn dẫn[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Việt Nam Cộng hòa bản đồ hành chánh. Đà Lạt: Phân cục Địa dư Quốc gia, 1967.
  2. ^ Monographie de la province de Châu Đốc (Địa phương chí tỉnh Châu Đốc 1900-1902), 1902, L. Ménard,, trang 12-14.