Tịnh Biên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Tịnh Biên

Huyện
Tượng Di Lặc trên núi Cấm.jpg
Tượng Phật Di Lặc trên đỉnh núi Cấm
Hành chính
VùngĐồng bằng sông Cửu Long
TỉnhAn Giang
Trụ sở UBNDKhóm Xuân Hòa, TT Tịnh Biên, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang
Phân chia hành chính3 thị trấn, 11 xã
Địa lý
Diện tích354,73 km²
Dân số
Tổng cộng134.350 người
Dân tộcKinh, Khmer
Khác
Biển số xe67-F1
Số điện thoại0763875234
E-mailtinhbien@angiang.gov.vn
Websitetinhbien.angiang.gov.vn

Tịnh Biên là một huyện miền núi của tỉnh An Giang, Việt Nam.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Tịnh Biên là một trong hai huyện miền núi của tỉnh An Giang, nằm về phía tây bắc của tỉnh và kéo dài từ 10026’15”B đến 10040’30”B, 104054’Đ đến 10507’. Huyện Tịnh Biên có vị trí địa lý:

Huyện Tịnh Biên có diện tích tự nhiên 354,73 km2, chiếm 10,03% so với tổng diện tích toàn tỉnh. Huyện Tịnh Biên có 29.978 hộ dân với 121.399 người, trong đó dân tộc Kinh 85.328 người, dân tộc Khmer 35.696 người và dân tộc Hoa 375 người[1]. Huyện Tịnh Biên có dân số người Khmer tương đối lớn, tập trung nhiều ở những xã An Cư, Tân Lợi, An Hảo, Văn Giáo, Vĩnh Trung...

Điều kiện tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Tịnh Biên có đường biên giới chung với Vương quốc Campuchia dài gần 20 km, nên có lợi thế và tiềm năng rất lớn để phát triển kinh tế cửa khẩu, du lịch thông qua cửa khẩu Quốc tế Tịnh Biên và tuyến quốc lộ 91, quốc lộ N1 chạy ngang địa bàn. Đây là cầu nối giao thương quan trọng nối huyện Tịnh Biên nói riêng và tỉnh An Giang nói chung với các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long và các nước trong khu vực Đông Nam Á.

Địa hình[sửa | sửa mã nguồn]

Với đặc điểm địa hình bán sơn địa khá phức tạp, vừa có đồi núi vừa có đồng bằng, mang sắc thái đặc biệt. Phân theo hình thái, địa hình của huyện Tịnh Biên có 3 dạng sau:

  • Địa hình đồng bằng phù sa: Vùng này có tổng diện tích khoảng 20.260 ha chiếm tỷ lệ 57% diện tích, phân bố khu vực phía Đông tỉnh lộ 948 và phía Bắc kênh Vĩnh Tế. Địa hình mang nét đặt trưng chung của vùng đồng bằng Tây Nam Bộ với cao trình từ 4 m trở xuống (trung bình từ 2 – 3 m), nền thổ nhưỡng phù sa sông được bồi đắp từ sông Hậu. Vùng này thuận lợi trồng lúa, nuôi trồng thủy sản và rừng ngập nước (trồng tràm).
  • Địa hình đồi núi thấp: Vùng này có tổng diện tích khoảng 6.330 ha, chiếm 17,81% diện tích tự nhiên của toàn huyện,phân bố ở các xã, thị trấn: An Phú, Nhơn Hưng, Thới Sơn, thị trấn Nhà Bàng, An Cư, An Hảo, Tân Lợi, Núi Voi. Độ cao địa hình >+30 m so với mực nước biển, trong đó, ngọn núi cao nhất là núi Cấm với đỉnh cao khoảng 710 m. Các ngọn núi khác phân bố rãi rác giống như dạng đồi độc lập với độ cao trung bình khoảng 100 m. Thành phần của các ngọn núi này chủ yếu là đá có lẫn cát. Vùng này có tiềm năng khoáng sản, vật liệu xây dựng, phù hợp cho việc phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng với nhiều đồi núi, danh thắng đẹp.
  • Địa hình đồng bằng nghiêng ven chân núi: Tổng diện tích vùng này khoảng 8.953 ha, chiếm khoảng 25,19% diện tích tự nhiên, phân bố ở các xã, thị trấn: Văn Giáo, Vĩnh Trung, An Cư, thị trấn Chi Lăng. Được hình thành từ quá trình rửa trôi đất cát trên núi, có cao trình từ 5 – 30 m so với mực nước biển và nghiêng dần ra xung quanh (từ vài trăm mét đến vài cây số). Trừ một số nơi ven chân núi có dạng đồi lượn sóng, độ dốc bình quân từ 30 - 80, còn phần lớn đã được san bằng để canh tác lúa nương. Vùng này có khả năng trồng cây ăn trái, trồng lúa đặc sản và phát triển trang trại chăn nuôi đàn gia súc.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Tịnh Biên nằm trong vùng có đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô, có nền nhiệt cao và ổn định, lượng mưa nhiều và phân bổ theo mùa.

Nhiệt độ trung bình hàng năm khá cao và ổn định khoảng 27,5°C. Biên độ nhiệt giữa các tháng nóng nhất và lạnh nhất từ 2 – 30C. Nhìn chung không có sự khác biệt lớn so với những nơi khác trong tỉnh và khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Đây là một điều kiện khá thuận lợi để huyện phát triển nông nghiệp. Nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm (khoảng tháng 4) là 28,3°C. Nhiệt độ trung bình thấp nhất trong năm (khoảng tháng 1) là 25,5°C.

Tổng số ngày mưa nhiều trung bình trong năm khoảng 128 ngày với lượng mưa bình quân 1.478 mm nhưng phân bố không đều, chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 với lượng mưa chiếm khoảng 90% so với tổng lượng mưa của năm. Các tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 7 – 8 – 9 (lượng mưa chiếm hơn 1/3 tổng lượng mưa cả năm). Mùa mưa thường trùng với mùa nước nổi hàng năm nên khu vực đồng bằng của huyện thường bị ngập lụt. Mùa khô bắt đầu từ tháng 12 và kéo dài đến tháng 4 năm sau với lượng mưa chiếm khoảng 10% so với tổng lượng mưa của năm. Các tháng có lượng mưa thấp nhất là tháng 1 – 2 – 3 với lượng mưa chiếm khoảng 1% (hầu như không có mưa). Đây là đặc điểm điển hình cho tính khô hạn của vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Chế độ thủy văn của huyện Tịnh Biên chịu ảnh hưởng chủ yếu từ chế độ bán nhật triều của sông Hậu. Nguồn nước mặt được đưa từ sông Hậu vào địa bàn huyện thông qua các tuyến kênh Cấp I chạy ngang địa bàn như kênh Vĩnh Tế, kênh Trà Sư, … và phân phối lại cho các tuyến kênh cấp II, cấp III, kênh mương nội đồng, phục nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của nhân dân ở các xã thuộc khu vực đồng bằng.

Hàng năm vào mùa mưa, lượng nước từ trên núi chảy xuống, kết hợp với lượng nước từ thượng nguồn sông Mê Kông đổ về gây ngập tràn phần lớn diện tích đồng bằng của huyện từ tháng 8 đến tháng 10, ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt và sản xuất của nhân dân. Tuy nhiên, mùa nước nổi cũng có mặt tích cực, mùa nước đã mang lại nguồn phù sa và vệ sinh đồng ruộng, cải thiện chất lượng đất, mang lại nguồn lợi thủy sản và tạo công ăn việc làm cho một bộ phận nông dân trong mùa nước nổi.

Tài nguyên thiên nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tài nguyên đất

Trên địa bàn huyện có nhiều loại đất, chủ yếu gồm đất cát núi và đất phù sa.

  • Tài nguyên sinh vật

Trên địa bàn huyện có rừng tràm Trà Sư với nhiều loài động vật và thực vật phong phú.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Trên đỉnh núi Cấm thuộc xã An Hảo

Huyện Tịnh Biên có 14 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 3 thị trấn: Tịnh Biên (huyện lỵ), Chi Lăng, Nhà Bàng và 11 xã: An Cư, An Hảo, An Nông, An Phú, Nhơn Hưng, Núi Voi, Tân Lập, Tân Lợi, Thới Sơn, Văn Giáo, Vĩnh Trung.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 11 tháng 3 năm 1977, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định 56-CP[2] hợp nhất huyện Tri Tôn và huyện Tịnh Biên thành một huyện lấy tên là huyện Bảy Núi.

Ngày 25 tháng 04 năm 1979, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định 181-CP[3], điều chỉnh địa giới và đổi tên một số xã và thị trấn huyện Bảy Núi thuộc tỉnh An Giang:

  1. Tách các ấp Hòa An, Bình An của xã Tà Đảnh, một phần đất của xã Tú Tề lập thành một xã mới lấy tên là xã Tân Lập.
  2. Tách ấp Huệ Đức của xã Cô Tô lập thành một xã mới lấy tên là xã Tân Tuyến.
  3. Tách các ấp Voi 1, Voi 2 của xã Tú Tề lập thành một thị trấn lấy tên là thị trấn Chi Lăng.
  4. Tách các ấp Cây Me, Xoài Tòng A, Xoài Tông B, Cơray Ven và một phần các ấp kinh Ô Bà Lẫy của xã Tri Tôn lập thành một thị trấn lấy tên là thị trấn Bảy Núi.
  5. Tri Tôn đổi tên thành xã Núi Tô.
  6. Ô Lâm đổi tên thành xã An Phước
  7. An Tức đổi tên thành xã An Ninh
  8. Châu Lăng đổi tên thành xã An Lạc.
  9. Lê Trì đổi tên thành xã An Lập
  10. Tà Đảnh đổi tên thành xã Tân Cương
  11. Lương Phi đổi tên thành xã An Thành
  12. Trác Quan đổi tên thành xã An Hảo
  13. Văn Giáo đổi tên thành xã Thới Thuận
  14. Tú Tề đổi tên thành xã Tân Lợi

Ngày 23 tháng 08 năm 1979, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định 300-CP[4] chia huyện Bảy Núi thành hai huyện lấy tên là huyện Tri Tôn và huyện Tịnh Biên.

  1. Huyện Tịnh Biên gồm có các xã An Cư, An Hảo, An Nông, An Phú, Nhơn Hưng, Tân Lập, Tân Lợi, Thới Sơn, Thới Thuận, Vĩnh Trung, Xuân Tô và thị trấn Chi Lăng.
  2. Ranh giới giữa hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên quy định như sau: Bắt đầu từ cột mốc số 115 (biên giới với Cam-pu-chia) thẳng hướng đông nam đến trụ đá số 1 trên lộ Lê Trì - Tịnh Biên (cách ngã ba Sóc Tức 150 mét) rồi quẹo xuống phía nam song song với lộ Tịnh Biên – Tri Tôn theo đường mòn về phía đông ven chân núi Nam Quy, vòng lên phía bắc đi thẳng đến ngã tư Kinh Tri Tôn - Mạc Cần Dưng (cầu sắt số 13) theo giữa lòng kinh đến giáp ranh huyện Châu Thành (cầu sắt số 10).

Địa bàn các huyện Tịnh Biên và Tri Tôn sau khi được tái lập khác hẳn với trước năm 1977.

Ngày 10 tháng 5 năm 1986, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định 56-HĐBT[5] thành lập thị trấn Nhà Bàng (thị trấn huyện lỵ Tịnh Biên) trên cơ sở 227,5 ha diện tích tự nhiên với 4.673 người của xã Thới Sơn và 311,5 hécta tự nhiên với 2. 548 người của xã Nhơn Hưng cùng huyện.

  1. Thị trấn Nhà Bàng có tổng diện tích tự nhiên 539 ha với 7.221 người.
  2. Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, xã Thới Sơn còn 1.762,5 ha tự nhiên với 4.334 người.
  3. Xã Nhơn Hưng còn 2.328 ha diện tích tự nhiên với 3.547 người.

Ngày 17 tháng 10 năm 2003, Chính phủ ban hành Nghị định 119/2003/NĐ-CP[6] thành lập xã Núi Voi trên cơ sở 1.225 ha diện tích tự nhiên và 4.387 người của thị trấn Chi Lăng.

Ngày 12 tháng 04 năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị định 52/2005/NĐ-CP[7] thành lập thị trấn Tịnh Biên trên cơ sở toàn bộ 1.938 ha diện tích tự nhiên và 12.850 người của xã Xuân Tô.

Ngày 19 tháng 4 năm 2012, huyện lỵ huyện Tịnh Biên được dời từ thị trấn Nhà Bàng sang thị trấn Tịnh Biên[8].

Ngày 30 tháng 4 năm 2012, thị trấn Tịnh Biên được công nhận là đô thị loại IV.

Ngày 25 tháng 5 năm 2018, huyện Tịnh Biên được công nhận là đô thị loại IV.

Theo quy hoạch chung đô thị An Giang đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, toàn bộ huyện Tịnh Biên sẽ được nâng lên thành thị xã Tịnh Biên, gồm 7 phường: An Phú, Chi Lăng, Nhà Bàng, Thới Sơn, Tịnh Biên, Văn Giáo, Vĩnh Trung và 7 xã: An Cư, An Hảo, An Nông, Nhơn Hưng, Núi Voi, Tân Lập, Tân Lợi.

Kinh tế - xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tịnh Biên nằm ở phía tây của Núi Cấm. Từ Tịnh Biên đi Phnôm Pênh theo quốc lộ 2(CPC) khoảng 125 km. Đây là điểm đến thông dụng của khách du lịch nước ngoài du lịch tuyến Campuchia - Việt Nam hay ngược lại. Ở đây có khu du lịch Núi Cấm đã được nhiều người biết đến. Tại đây có đặc sản là món bò cạp núi nướng giòn, đường thốt nốt. Tịnh Biên đang năng động phát triển, tuy nhiên đang dần dần bị đô thị hóa tương đối nhanh bởi các khu công nghiệp.

Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Số cơ sở giáo dục trên địa bàn huyện Tịnh Biên
Loại hình Số lượng
Mầm non
Tiểu học
Trung học cơ sở Có 14 cơ sở phân bố đều ở mỗi xã, thị trấn
Trung học phổ thông -Trường THPT Tịnh Biên

-Trường THPT Xuân Tô

-Trường THPT Chi Lăng

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn huyện có 316,5 km đường giao thông, trong đó:

- 2 tuyến quốc lộ: Quốc lộ 91, N1.

- 4 tuyến đường tỉnh:ĐT 945, ĐT 948, ĐT 949 (Hương lộ 17 - đang trong quá trình chờ nâng cấp), ĐT 955A,

- 5 tuyến đường huyện.

- 23 tuyến đường xã, liên xã.

Mạng lưới giao thông đảm bảo thông suốt 4 mùa, từ nội địa ra biên giới gắn với tuyến quốc lộ 2 của Vương quốc  Campuchia; và kết nối các trung tâm lớn trong vùng từ thành phố Cần Thơ – Long Xuyên – Châu Đốc – Hà Tiên (Kiên Giang), là địa bàn trung chuyển hàng hóa thuận lợi trong vận chuyển hàng hóa, giao thương và tham quan các danh lam thắng cảnh trong vùng, kể cả tuyến đường lên núi Cấm.

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Khu du lịch Lâm Viên - Núi Cấm[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng Phật Di Lặc (núi Cấm).jpg
Cầu đá dẫn lên chùa Phật Lớn.jpg

Núi Cấm còn gọi là Thiên Cấm Sơn, là ngọn núi cao nhất của vùng Thất Sơn (xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, An Giang). Đây là điểm đến thú vị cho du khách. Trên đỉnh Núi Cấm có những công trình kiến trúc tôn giáo quy mô như tượng Phật Di Lặc khổng lồ ngồi trên đỉnh (cao 33,6m), chùa Vạn Linh, Thiền viện chùa Phật Lớn... Hằng năm, cứ mỗi dịp Tết đến xuân về, nơi đây thu hút hàng nghìn lượt người đến cúng viếng, tham dự lễ hội. Ngoài những công trình kiến trúc độc đáo, cùng các điểm tham quan thú vị như hồ, suối, hang động, rừng nguyên sinh, Công ty CP Phát triển Du lịch An Giang đã đầu tư và đưa vào hoạt động hệ thống cáp treo, một loại hình vận chuyển hiện đại cho du khách tham quan Núi Cấm kể từ ngày 14/2/2015.

Đây là hệ thống cáp treo đầu tiên của Đồng bằng sông Cửu Long, có chiều dài 3,5 km.

Du khách sẽ được thưởng thức ẩm thực với nhiều món đặc sản vùng Bảy Núi như bánh xèo trứng đà điểu, bành bò thốt nốt... Bên cạnh đó, du khách có thể thưởng thức phim 5D, đặc sản các vùng miền, cửa hàng lưu niệm ở khu du lịch. Tại đây còn có điểm vui chơi cho thiếu nhi với các trò chơi mới như cưỡi ngựa nhún, đu quay đảo, mâm chao, rồng lượn, đạp chuột.

Miếu Bà Chúa xứ Bàu Mướp[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôi miếu do Phật thầy Tây An (Đoàn Minh Huyên, 1807 - 1856) và các tín đồ dựng lên giữa thế kỷ XIX, để cho người dân đi khai hoang có nơi thờ cúng, thỏa mãn nhu cầu tính ngưỡng tâm linh.

Phía trước ngôi miếu có một bàu nước lớn. Đây là một loại đầm nhỏ (hay ao lớn) chứa nước ngọt thiên nhiên. Nhiều người cho rằng vì mặt bàu có nhiều dây mướp rừng chằng chịt, nên gọi là "bàu Mướp". Tuy nhiên, có một ý kiến khác cho rằng chữ "mướp" ở đây không phải là dây mướp mà là loại cây mốp, một loại cây có rễ cứng, ruột mềm chứa nhiều nước, và có thể uống được.

Ngôi chính điện thờ Thánh Mẫu Tiên Nương hiện tọa lạc trong khuôn viên rộng lớn (gồm nhiều hạng mục, trong đó quan trọng nhất là ngôi điện thờ). Thánh Mẫu này (mà người dân quen gọi là Bà Chúa Xứ Bàu Mướp) là một nữ thần có quyền năng cai quản xứ sở, theo tục thờ cúng của người dân Nam Bộ.

Ngày 16 tháng 10 năm 2012, UBND tỉnh An Giang đã ra Quyết định số 1814/QĐ-UBND công nhận Miễu Bà Chúa Xứ Bàu Mướp là di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh cấp tỉnh.

Rừng Tràm Trà Sư[sửa | sửa mã nguồn]

Tham quan Trà Sư.jpg

Từ thị trấn Nhà Bàng thuộc huyện Tịnh Biên, đi theo đường tỉnh lộ 948 đến cầu Bưng Tiên tại Km số 6 thì rẽ trái và tiếp tục đi theo một con đường đã được trải nhựa dài khoảng 4 km là đến rừng tràm Trà Sư. Tại đây, du khách đi tắc ráng (tên gọi một phương tiện thủy có gắn động cơ của người miền Tây Nam Bộ, còn gọi là xuồng máy) và xuồng để đi tham quan rừng tràm.

Với diện tích gần 850 ha, phần lớn loài cây ở rừng tràm Trà Sư là tràm (trên 10 tuổi, cao 5 – 8 m). Ngoài ra, đây còn là nơi sinh sống nhiều loài động vật và thực vật. Theo thông tin trên website của Tổng cục Du lịch Việt Nam thì ở đây hiện có:

  • 70 loài chim thuộc 13 bộ và 31 họ, trong đó có 2 loài chim quý hiếm đã được ghi trong sách Đỏ Việt Nam là giang sen (Mycteria leucocephala) và điêng điểng (Anhinga melanogaster)
  • 11 loài thú thuộc 4 bộ và 6 họ. Các bộ có số loài nhiều nhất là gặm nhấm (4 loài) và dơi (15 loài), trong đó có loài dơi chó tai ngắn quý hiếm cũng đã được ghi vào sách Đỏ Việt Nam.
  • 25 loài bò sát và ếch nhái, gồm 2 bộ, 10 họ, trong đó có cả rắn hổ mang, rắn cạp nong.
  • 10 loài cá xuất hiện quanh năm và 13 loài chỉ xuất hiện vào mùa lũ.

Không chỉ phong phú về động vật, rừng tràm Trà Sư còn là nơi tụ họp của 140 loài thực vật thuộc 52 họ và 102 chi, trong đó có 22 loài cây gỗ, 25 loài cây bụi, 10 loài dây leo, 70 loài cỏ, 13 loài thủy sinh, 11 loài sinh cảnh, 78 loài thuốc và 22 loài cây cảnh...

Theo kết quả khảo sát của BirdLife International và Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, rừng tràm Trà Sư được đánh giá là nơi có tầm quan trọng quốc tế trong công tác bảo tồn đất ngập nước tại đồng bằng sông Cửu Long. Năm 1999, cả hai tổ chức ấy đều đã đề xuất chính quyền địa phương xây dựng khu bảo vệ tại khu vực này.

Ngày 27 tháng 5 năm 2003, chính quyền tỉnh An Giang đã ra quyết định phê duyệt thành lập khu bảo vệ cảnh quan rừng tràm Trà Sư, để đáp ứng nhu cầu du lịch sinh thái và phục vụ công tác nghiên cứu bảo tồn môi trường.

Rừng tràm Trà Sư.jpg

Nhìn chung, chính sự đa dạng và phong phú về tài nguyên khiến rừng tràm Trà Sư trở thành điểm đến lý tưởng đối với các nhà nghiên cứu và những người ham mê khám phá thiên nhiên hoang dã. Mùa nước nổi (khoảng tháng 8 đến tháng 10 âm lịch) là khoảng thời gian thích hợp nhất để đến với rừng tràm. Hiện ngành du lịch An Giang đang khai thác điểm tham quan du lịch sinh thái hấp dẫn này...

Khu du lịch và Hang Chiến sĩ Núi Két[sửa | sửa mã nguồn]

Núi Két có hình khối tròn, cao 225 mét, dài và rộng hơn 1.100 mét. Núi ở phía đông thị trấn Nhà Bàng, huyện Tịnh Biên, cách trung tâm thành phố Long Xuyên khoảng 70 km về hướng tây theo Quốc lộ 91 rồi rẽ qua tỉnh lộ 948. Núi được bao bọc bởi những ngọn núi khác như núi Dài, núi Đất, núi Trà Sư, núi Bà Đắc.

Được gọi là núi Két vì ở độ cao khoảng một trăm mét, tính từ chân núi, bên vách phía tây gần trên đỉnh có một tảng đá khổng lồ nằm nhô ra, theo sự mường tượng của nhiều người, nó có hình dạng như đầu một con chim két (tức chim anh vũ).

Đường lên đỉnh núi Két dài khoảng 600 mét, được xây bậc thang và đều có hành lang an toàn. Đi dần lên núi có các địa điểm đáng tham quan như: Sân Tiên, Giếng Tiên, điện Chư Thần, điện Phật Thầy, điện Phật Mẫu, điện Ngọc Hoàng, điện Huỳnh Long, điện Ba Cô, điện U Minh, điện Chư Vị Năm Non Bảy Núi và tiêu biểu nhất là "mỏ ông Két" cùng với nhiều truyền thuyết dân gian...

Tuy nhiên, ở gần chân núi có ba di tích rất được nhiều người đến thăm viếng và chiêm bái hơn cả, đó là Đình Thới Sơn, Chùa Thới Sơn, Chùa Phước Điền, vì các nơi thờ này đều gắn liền với thời lưu dân đi mở đất và với giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương.

Bên cạnh các nguồn lợi từ du lịch, hành hương, cây trái...núi Két còn có các nguồn lợi khác từ tài nguyên, như quặng kim loại molipden, đá granit sáng màu mịn hạt, đá quý (thạch anh ám khói, thạch anh tím) được tìm thấy trong các mạch pecmatic và nhiều mội nước khoáng...

Chùa Hòa Thạnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chùa thường được gọi là chùa Cây Mít, tọa lạc ở xã Nhơn Hưng, cách thành phố Long Xuyên 87 km. Chùa được xây dựng vào khoảng thế kỷ XIX và được trùng tu mở rộng vào những năm 1921-1923. Hòa thượng trụ trì Diên Minh là hội viên thường trợ của Hội Nam Kỳ nghiên cứu Phật học vào những năm 1930. Chùa còn bảo tồn nhiều pho tượng cổ có giá trị nghệ thuật. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

Căn hầm bí mật Văn phòng Huyện ủy[sửa | sửa mã nguồn]

Khu căn cứ hầm bí mật Văn phòng Huyện ủy Tịnh Biên xưa, tọa lạc tại ấp Đông Hưng, xã Nhơn Hưng từng là nơi nuôi giấu cán bộ cách mạng trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước.

Chốt thép Nhơn Hưng[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là khu vực đồn (còn có tên gọi đồn Cây Mít) do Pháp xây dựng và Mỹ tiếp tục sử dụng. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng và thống nhất đất nước, khi xảy ra chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam, quân và dân Nhơn Hưng tận dụng nơi đây lập chốt chống lại quân Pôn Pốt, được vinh danh “Chốt thép thành đồng”.  Ngày 27/3/2015 “Chốt thép Nhơn Hưng” được UBND tỉnh xếp hạng là di tích lịch sử cấp tỉnh.

Chùa Phước Điền[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1850 - 1851, Phật thầy Tây An dẫn dắt tín đồ khai hoang dưới chân núi Két, lập hai làng Hưng Thới và Xuân Sơn (nay gộp thành xã Thới Sơn, huyện Tịnh Biên). Cơ sở đầu tiên tại đây gọi là Trại ruộng, sau này tín đồ xây thành chùa Phước Điền.

Chùa Thới Sơn[sửa | sửa mã nguồn]

Chùa Thới Sơn tọa lạc tại khu vực núi Két, thuộc xã Thới Sơn, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, Việt Nam. Đây là một ngôi chùa thờ Tam bảo của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, và là một di tích lịch sử cách mạng của tỉnh.

Sau khi sáng lập đạo Bửu Sơn Kỳ Hương vào năm 1849, Phật Thầy Tây An (tên thật là Đoàn Minh Huyên, 1807-1856), đã lần lượt dẫn các tín đồ và người dân nghèo đi khai hoang lập làng ở nhiều nơi, trong đó có hai làng Hưng Thới và Xuân Sơn, mà sau này hợp thành xã Thới Sơn, thuộc huyện Tịnh Biên.

Tại địa bàn của hai làng ấy, Phật Thầy Tây An đã cho dựng đình Thới Sơn để thờ Thành hoàng Bổn cảnh, là vị thần chủ quản vùng đất mà họ đến khai phá. Đồng thời, ông còn cho dựng hai "trại ruộng", tức căn nhà bằng cây lá đơn sơ để có chỗ ở khi làm ruộng. Và cũng để thỏa mãn nhu cầu tính ngưỡng tâm linh, ông cho lập bàn thờ Tam bảo ở trong khu vực trại, mà về sau được biến cải thành chùa. Đó chính là chùa Thới Sơn và chùa Phước Điền (tục gọi Trại Ruộng) ngày nay.

Ngày 26 tháng 8 năm 1999, Chính quyền tỉnh An Giang đã ra Quyết định công nhận chùa Thới Sơn là một di tích lịch sử cách mạng của tỉnh.

Đình Thới Sơn[sửa | sửa mã nguồn]

Đình Thới Sơn (Tịnh Biên).jpg

Đình Thới Sơn tọa lạc gần chân núi Két, thuộc xã Thới Sơn, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Đây là một ngôi đình thờ thần Thành hoàng của làng Xuân Sơn và Hưng Thới xưa (sau ghép lại là Thới Sơn), và là một di tích lịch sử cách mạng Việt Nam.

Đình Thới Sơn do Phật Thầy Tây An (tên thật là Đoàn Minh Huyên, 1807-1856), người sáng lập đạo Bửu Sơn Kỳ Hương cùng với những tín đồ của ông xây dựng vào năm 1851, để thờ vị thần chủ quản vùng đất (thần Thành hoàng) mà họ đến khai phá. Ban đầu đình được xây cất bằng cây rừng, mái tranh, vách lá, nền đất. Năm 1945, đình bị quân Pháp đến đốt phá. Năm 1956, đình được người dân dựng lại với khung sườn bằng gỗ, lợp ngói, nhưng lại bị bom đạn đánh sập.

Sau năm 1975, dân làng góp công, góp của xây dựng lại và tồn tại cho đến ngày nay.

Tượng Đài chiến thắng Dốc Bà Đắc[sửa | sửa mã nguồn]

Núi Trà Sư[sửa | sửa mã nguồn]

Cảnh trên núi Trà Sư 1.jpg

Núi Trà Sư chỉ cao 146 mét, và nằm dọc theo Quốc lộ 91 (đoạn thuộc thị trấn Nhà Bàng). Có nhiều đường lên núi, song đối diện với Cửu Trùng Đài (gần chợ Nhà Bàng, và cách Xuân Tô khoảng 6 km), có con đường ngắn nhất để lên đỉnh núi. Lối mòn nhỏ ấy ngày nay đã được thiết kế nhiều bậc cấp, tráng xi măng, lại có hàng lan can, giúp người lên xuống núi được dễ dàng và an toàn hơn.

Núi Trà Sư tuy không cao lớn, song cũng có một số cảnh đẹp. Và khi lên đến đỉnh, người ta sẽ nhìn thấy được núi Két, núi Dài Năm Giếng, kênh Vĩnh Tế...và những đồng lúa rộng lớn.

Bên cạnh đó, núi cũng có khá nhiều chùa, am, miếu...như một số núi khác ở vùng Thất Sơn, song đa phần chúng đều nhỏ và đơn sơ. Đáng kể chỉ có Năm Căn Cổ Tự, Hòa Long Cổ Tự, Chùa Quan Âm Phật Đài, Cửu Trùng Đài,...

Nhận thấy núi Trà Sư có một số ưu điểm, và đã thu hút khá nhiều khách đến vãn cảnh và hành hương, nên chính quyền huyện Tịnh Biên đã cho xây dựng Khu du lịch núi Trà Sư với diện tích trên 9 ha

Núi Dài Năm Giếng[sửa | sửa mã nguồn]

Núi Dài Năm Giếng có tên chữ là Ngũ Hồ Sơn, còn được gọi là Núi Dài Nhỏ. Đây là ngọn núi cao thứ tư trong vùng Bảy Núi thuộc tỉnh An Giang, Việt Nam.

Núi cao 265m, chu vi 8.751m, thuộc xã An Phú, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.

Sở dĩ có tên Núi Dài Năm Giếng, vì trên đỉnh núi có năm cái hố sâu nằm thẳng hàng trên mỏm đá to giống như giếng nước. Núi tuy hiểm trở nhưng có nhiều cảnh đẹp, nhiều vườn cây trĩu trái quanh năm, như: ổi, xoài, bưởi, mận, hồng quân, thanh long...

Ngoài ra, nơi đây còn có nguồn tài nguyên là đá xây dựng thuộc nhóm sáng màu mịn hạt và đá ốp lát dùng để trang trí...

Khu du lịch Cửu Trùng Đài[sửa | sửa mã nguồn]

Đập tràn Trà Sư[sửa | sửa mã nguồn]

Đập cao su Trà Sư là một trong những đập bằng cao su đầu tiên ở Việt Nam, được xây dựng tại huyện Tịnh Biên tỉnh An Giang, có chức năng ngăn lũ đầu vụ và cuối vụ từ kênh Vĩnh Tế tràn vào vùng Tứ giác Long Xuyên và tiêu lũ chính vụ nhằm kiểm soát mực nước lũ ở Châu Đốc, ngoài ra còn đảm bảo giao thông bộ trên bờ kênh Vĩnh Tế và cải tạo môi trường sinh thái vùng dự án.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]