Người Khmer (Việt Nam)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Người Khmer tại Việt Nam
Khmer woman fields.jpg
Tổng số dân
1.055.174[1] 1999
1.260.640[2] 2009
Khu vực có số dân đáng kể
đồng bằng sông Cửu LongĐông Nam Bộ
Ngôn ngữ
Tiếng Khmer, tiếng Việt
Tôn giáo
Phật giáo nguyên thủy
Sắc tộc có liên quan
Người Khmer, người Thái (Thái Lan), người Môn.

Người Khmer tại Việt Nam (hay còn gọi là Khmer Krom, Khmer hạ, Khmer dưới, Khmer Việt) (tiếng Khmer: ខ្មែរក្រោម) là bộ phận dân tộc Khmer sống ở đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam.

Người Khmer là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Khmer là từ được viết theo phiên âm tiếng Pháp. Trong khi các thư tịch cũ của người Việt dùng danh từ Cao Miên (高棉) hay Cao Man (高蠻). Trước năm 1975 còn có các tên gọi khác như Cul, Cur,...[3]

Chỉ thị số 117-CT/TƯ ngày 29 tháng 9 năm 1981 của Ban bí thư trung ương Đảng cộng sản Việt Nam và Chỉ thị số 122-CT ngày 12 tháng 5 năm 1982 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam về "Công tác đối với đồng bào Khmer" quy định thống nhất dùng tên gọi dân tộc Khmer, người Khmer, không được dùng những tên gọi không chính xác hoặc có hàm ý miệt thị như người Miên, người Thổ, người Việt gốc Miên, người Man, người Mọi v.v...[4].

Ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Người Khmer Krom nói tiếng Khmer, một ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer trong ngữ hệ Nam Á.

Dân số và địa bàn cư trú[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ phân vùng cư trú của các dân tộc (sắc tộc) tại Nam Kỳ thuộc Pháp (Cochinchine Française) và Cao Miên (Cambodge) năm 1904. Người Khmer (Việt Nam) từ trước thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 20 tập trung (ngoài vùng Mỏ vịt Svai Teep-Say Rieng, cuối thế kỷ 19 Pháp cắt trả Cao Miên) chủ yếu tại 4 vùng là: vùng Bảy Núi (An Giang) - Rạch Giá (Kiên Giang), vùng Sóc Trăng, vùng Trà Vinh, và vùng phía bắc Tây Ninh.

Phần lớn người Khmer sống tập trung ở Campuchia.

Ở Việt Nam thì người Khmer sống chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam thuộc các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, An Giang, Hậu Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, Bến Tre được gọi là Khmer Crộm. (Crộm là phiên âm tiếng Việt của tiếng Khmer, có nghĩa là Dưới)

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Khmer ở Việt Nam có dân số 1.260.600 người, có mặt tại nhiều tỉnh ở Nam Bộ.

Sau đây là danh sách các tỉnh có nhiều người Khmer nhất:

Xung đột vũ trang và vận động chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối năm 1960 ở Nam Vang người Khmer Krom thành lập Mặt trận Giải phóng Kampuchea Krom (tiếng Pháp: Front de Libération du Kampuchea Krom, FLKK), chủ trương tấn công Việt Nam Cộng hòa đòi lại đất Nam Kỳ. Chau Dera làm chủ tịch, với hai yêu sách chính:[5]

  1. bình đẳng giữa người Khmer và người Kinh
  2. công nhận người Khmer Krom là công dân Campuchia.

Ngày 27 Tháng 8, 1963 Norodom Sihanouk tuyên bố đoạn giao với Việt Nam Cộng hòa nhằm gây áp lực tranh đấu cho người Khmer Krom. Chính quyền Nam Vang còn giúp cơ sở vật chất và ngoại giao cho FLKK. Cuối năm 1963 lực lượng này sáp nhập với Mặt trận Giải phóng ChampaMặt trận Giải phóng Kampuchea phía Bắc (Front de Libération du Kampuchea Nord FLKN) thành khối FULRO, mở rộng địa bàn hoạt động từ đồng bằng sông Cửu Long lên Cao nguyên Trung phần và đến tận Phú Yên [6].

Sau năm 1975 vấn đề tranh chấp lãnh thổ giữa người Việt và người Khmer bị cuốn vào Chiến tranh Việt Nam-Campuchia giữa các lãnh tụ ở Hà Nội và Phnôm Pênh và tiếng nói người Khmer Krom lu mờ. Tuy nhiên sang thế kỷ 21 người Khmer Krom lại phát động phong trào đòi chính quyền Việt Nam phải tôn trọng quyền tự do tôn giáo, tự do sắc tộc và công nhận địa vị tiên khởi của người Khmer Krom ở đồng bằng sông Cửu Long.[7]

Những nhân vật Khmer Krom nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Những nhân vật Khmer Krom nổi tiếng
Tên Sinh thời Hoạt động
Sơn Ngọc Thành 1908-1977 Nhà hoạt động chính trị, một nhà dân tộc chủ nghĩa Campuchia.
Sơn Ngọc Minh 1920-1972 Nhà hoạt động chính trị Campuchia, chủ tịch Đảng Nhân dân Cách mạng Khmer.
Ieng Sary 1924-2013 Phó thủ tướng kiêm Ngoại trưởng dưới thời Khmer Đỏ và được coi là nhân vật số 3 của Khmer Đỏ, sau Pol PotNuon Chea. vừa bị toà án Liên Hợp Quốc xử tội diệt chủng với bản án chung thân
Sơn Cang 1948-... Trung tướng Công an Nhân dân Việt Nam, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh 2[8].
Sơn Minh Thắng 1960 - Chính trị gia, Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan trung ương, nguyên Thứ trưởng - Phó chủ nhiệm Ủy ban dân tộc của Chính phủ
Trần Thị Hoa Ry 1976 - Nữ chính khách, Phó Chủ tịch Hội đồng dân tộc của Quốc hội, Đại biểu Quốc hội khóa X, XI, XII, XIV
Thạch Phước Bình 1978 - Chính trị gia, Ủy viên Hội đồng dân tộc của Quốc hội khóa XIV, Đại biểu Quốc hội khóa XIV
Hứa Văn Nghĩa 1967 - Đại tá, chính trị gia, Ủy viên Ủy ban Tư Pháp của Quốc hội khóa XIV, Đại biểu Quốc hội khóa XIV
Lý Đức 1970 - Tu sĩ Phật giáo, chính trị gia, Đại biểu Quốc hội khóa XIV
Châu Quỳnh Dao 1977 - Nữ chính trị gia, Đại biểu Quốc hội khóa XIV

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Po Dharma. Champaka 7: Từ Mặt trận FLM đến phong trào FULRO. San Jose, CA: Office International of Champa, 2007.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]