Người Sán Dìu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Sán Dìu
Tổng số dân
126.237[1] (1999); 146.821[2] (2009)
Khu vực có số dân đáng kể
Bắc BộTây Nguyên Việt Nam
Ngôn ngữ
Tiếng Việt, Tiếng Quảng Đông
Tôn giáo
Chủ yếu là Phật giáo đại thừa với Đạo giáo, một ít theo Kitô giáo

Người Sán Dìu, là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam [3].

Người Sán Dìu sinh sống ở miền trung du của một số tỉnh miền Bắc Việt Nam, với dân số 146.821 người (2009).

Dân tộc Sán Dìu được tạo lập từ thời Nhà Minh tại Quảng Đông, Trung Quốc, sau đó dần dần di chuyển đến Việt Nam. Họ nói tiếng Quảng Đông và sử dụng chữ Hán, thuộc nhóm ngôn ngữ Hoa, tuy nhiên người Sán Dìu không được chính phủ Việt Nam phân loại là người Hoa [3][4].

Dân số và địa bàn cư trú[sửa | sửa mã nguồn]

Dân tộc Sán Dìu chủ yếu sống ở miền trung du các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Quảng Ninh, Tuyên Quang, Hải Dương (tổng cộng khoảng 97%). Một số di cư vào Tây Nguyên lập nghiệp, thành các làng hay sống rải rác tại các tỉnh thành khác.

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Sán Dìu ở Việt Nam có dân số 146.821 người, có mặt tại 56 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Sán Dìu cư trú tập trung tại các tỉnh: Thái Nguyên (44.131 người, chiếm 30,1% tổng số người Sán Dìu tại Việt Nam), Vĩnh Phúc (36.821 người, chiếm 25,1% tổng số người Sán Dìu tại Việt Nam), Bắc Giang (27.283 người), Quảng Ninh (17.946 người), Tuyên Quang (12.565 người), Hải Dương (1.872 người), Đồng Nai (850 người), Hà Nội (832 người), Lâm Đồng (662 người), Đắk Nông (617 người)[2]...

Các đặc điểm cơ bản[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ chức cộng đồng[sửa | sửa mã nguồn]

Người Sán Dìu ở thành từng chòm xóm nhỏ.

Nhà cửa[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà ở truyền thống của người Sán Dìu là nhà đất rất đơn giản. Ngày nay, người Sán Dìu đã làm nhà hiện đại và cầu kỳ hơn.

Trang phục[sửa | sửa mã nguồn]

Phụ nữ Sán Dìu thường mặc váy và chiếc váy của người Sán Dìu là một trong những nét độc đáo mang tính riêng biệt của dân tộc. Váy màu đen, không khâu, gồm 2 hoặc 4 mảnh đính trên 1 cạp. Phụ nữ Sán Dìu thường quấn xà cạp bằng vải màu trắng hoặc màu nâu. Đồng bào hay đi dép quai ngang và guốc gộc. Tuy nhiên, ngày nay phụ nữ Sán Dìu cũng mặc quần, áo sơ mi và đi dép nhựa, giày da, giày vải như người Kinh. Trang sức của người Sán Dìu có vòng tay, vòng cổ, khuyên tai bạc.

Cưới xin[sửa | sửa mã nguồn]

Người Sán Dìu có cách xem tuổi dựa theo thuyết ngũ hành. Nếu so tuổi thấy hợp, ông mối sẽ báo cho nhà gái biết việc xem lá số đã thành công bằng một lễ nhỏ gồm nải chuối, 10 lá trầu, 10 quả cau. Sau 10 ngày, nếu nhà gái không đồng ý sẽ đem lễ vật đến trả nhà trai, nếu đồng ý sẽ không có ý kiến gì. Từ đó, đôi trai gái có thể tự do đi lại tìm hiểu nhau. Đây cũng là thời gian để ông mối thông báo, hỏi ý kiến nhà gái về cuộc hôn nhân và báo cho nhà trai biết để chuẩn bị lễ ăn hỏi.

Lễ cưới của người Sán Dìu thường diễn ra trong ba ngày. Trước ngày cưới từ 15 đến 20 ngày, chọn ngày tốt, nhà trai nhờ người chặt tre đan rọ lợn, lồng gà. Giáp ngày cưới (sênh ca chíu).

Hai gia đình đã sinh thành hai cháu trưởng thành. Sự tìm hiểu của hai cháu đã thuận tình và được nhờ tổ ấm của gia đình, sự vun đắp của hai họ, hai gia đình đã chọn được ngày lành tháng tốt tổ chức lễ thành hôn cho hai cháu...

Đám cưới của người Sán Dìu không chỉ là sinh hoạt văn tinh thần, mà còn thể hiện tình cảm, đạo đức, lối sống, phép ứng xử giữa người với người, giữa con người với thiên nhiên...

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Người Sán Dìu chủ yếu làm ruộng nước, có phần nương, soi, bãi. Thêm vào đó còn có chăn nuôi, khai thác lâm sản, đánh bắt nuôi thả cá, làm gạch ngói, rèn, đan lát v.v

Từ lâu đời, người Sán Dìu đã sáng tạo ra chiếc xe quệt (không cần bánh lăn) dùng trâu kéo để làm phương tiện vận chuyển. Hình thức gánh trên vai hầu như chỉ dùng cho việc đi chợ.

Ma chay[sửa | sửa mã nguồn]

Người Sán Dìu địa tang có cải táng hay bốc mộ. Đến ngày Thanh Minh hàng năm thì tảo mộ. lễ tảo mộ thường là cá và cơm nếp (các loại cá trừ cá Rô phi). Ngoài ra có thể là thịt lơn, Gà luộc... Trong mỗi mộ phải có 1 bộ cờ dây (5 cờ) được làm từ giấy với đủ loại màu khác nhau. với những mộ của người là thầy cúng thì con hoặc cháu cắm thêm cờ tam giác.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Thơ ca dân gian của người Sán Dìu phong phú, dùng thơ ca trong sinh hoạt hát đối nam nữ (Soọng cô) rất phổ biến. Truyện kể - chủ yếu truyện thơ khá đặc sắc. Các điệu nhảy múa thường xuất hiện trong đám ma. Nhạc cụ có tù và, kèn, trống, sáo, thanh la, não bạt cũng để phục vụ nghi lễ tôn giáo. Nhiều trò chơi dân tộc được họ ưa thích là: đi cà kheo, đánh khăng, đánh cầu lông kiểu Sán Dìu, kéo co.

Trước đây trong các dịp lễ Tết, hội hè hoặc đi chơi xa, người đàn ông của dân tộc Sán Dìu thường mặc hai áo, áo trong màu trắng, áo ngoài màu đen. Đó là loại áo 5 thân, cổ áo cài khuy bên phải, áo dài quá gối, ống tay hẹp. Ngày nay trong dân tộc Sán Dìu, nam giới mặc quần áo giống hệt người Kinh với các kiểu quần Âu, áo sơ mi, đi giày da, dép nhựa...

Những người Sán Dìu có danh tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Những người Sán Dìu Việt Nam có danh tiếng
Tên Sinh thời Hoạt động
Đỗ Văn Chiến 1962-... Ủy viên BCH TW Đảng CSVN khóa 12, đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 14, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc (2016-2021), quê xã Ninh Lai, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Lưu Đức Long 1963-... Bác sĩ, Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 14 (2016-2021), quê xã Hợp Châu, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
Leo Thị Lịch 1969-... Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 13, 14 (2011-2021), quê xã Nam Dương, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
Lưu Thị Chi Lan 1980-... Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 12, tỉnh Vĩnh Phúc
Hứa Thị Hà 1983-... Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 14 (2016-2021), quê xã Sơn Nam, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Lưu Xuân Thuỷ 1969-... Phó vụ Trưởng Vụ Dân Tộc Thiểu Số , quê xã Đạo Trù ,huyện Tam Đảo , tỉnh Vĩnh Phúc
Lưu Xuân Ba 1975-... Phó chủ tịch UBND xã đạo trù , quê xã Đạo Trù , huyện Tam đảo , tỉnh Vĩnh phúc

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Điều tra dân số 1999, tập tin 34.DS99.xls
  2. ^ a ă Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Hà Nội, 6-2010. Biểu 5, tr.134-225. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2011.
  3. ^ a ă Các dân tộc Việt Nam. Trang thông tin điện tử Ban Dân tộc tỉnh Hậu Giang, 2012. Truy cập 01/04/2018.
  4. ^ Cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam - Người Sán Dìu. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ Việt Nam, 2012. Truy cập 01/04/2018.

Tiếng Việt

  • Các dân tộc ít người ở Việt Nam.. Hà Nội, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. 1978.  "Dân tộc Hoa": trang 388-395

Tiếng Anh

  • Grant Evants (2000). Where China meets Southeast Asia: Social & Cultural Change in the Border Region.. Palgrave Macmillan. ISBN 9780312236342.  Chapter 13: Cross-Border Categories: Ethnic Chinese and the Sino-Vietnamese Border at Mong Cai

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]