Tiếng Quảng Đông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tiếng Quảng Đông
廣東話
广东话
Guangdonghua-vector.svg
Nói tại Quảng Đông, Hồng Kông; Ma Cao và khu vực có Hoa kiều đến từ vùng nói tiếng Quảng Đông
Khu vực Châu thổ sông Châu Giang (miền trung Quảng Đông; Hồng Kông, Ma Cao); miền đông và nam Quảng Tây; một phần của Hải Nam; khu phố Tàu
Ngữ hệ Hệ ngôn ngữ Hán-Tạng
Phân nhánh
Địa vị chính thức
Ngôn ngữ chính thức tại  Hong Kong
 Macau
Mã ngôn ngữ
ISO 639-1 zh
chi (B)
zho (T)
ISO 639-3 yue
Phân bố
Chi ling3.png
Phần được tô đậm màu cam là những vùng nói tiếng Quảng Đông ở Trung Quốc

Tiếng Quảng Đông hay tiếng Quảng Châu (chữ Hán phồn thể: 廣東話 / 廣州話; chữ Hán giản thể: 广东话 / 广州话; âm Hán-Việt: Quảng Đông thoại / Quảng Châu thoại) là một nhóm ngữ âm chính trong tiếng Trung Quốc được nói chủ yếu ở tỉnh Quảng Đông, khu vực phía Đông của tỉnh Quảng Tây, Hồng KôngMa Cao. Đây cũng là ngôn ngữ được sử dụng nhiều nhất trong cộng đồng người hoa sống ở Đông Nam Á (chủ yếu ở Việt Nam, Malaysia, Singapore) và phương Tây (chủ yếu ở Canada, Úc, Tây ÂuHoa Kỳ).

Tại Trung Quốc, tiếng Quảng Đông đôi khi còn được gọi là Việt ngữ. Tuy nhiên, xét về mặt ngôn ngữ học, tên gọi này chưa chính xác, tiếng Quảng Đông là một bộ phận lớn của Việt ngữ. Không có số liệu thống kê cụ thể số người nói tiếng Quảng Đông, nhưng theo số liệu năm 1996, số người nói Việt ngữ là 66 triệu, là ngôn ngữ xếp thứ 16 trên thế giới về lượng người nói.[1]

Tiếng Quảng Đông rất khác biệt với các ngữ âm khác trong tiếng Trung Quốc, đặc trưng cho đặc điểm văn hóa và đặc tính dân tộc của một bộ phận người Trung Quốc.

Hiện nay tuy tiếng Quảng Đông rất được sử dụng nhiều trên thế giới nhưng số người theo học tiếng Quảng thì lại khá ít. Dù có muốn học thì cũng khó tìm được nơi dạy tiếng Quảng Đông. Đa phần người ta thích học tiếng Hoa phổ thông là tiếng toàn dân của Trung Quốc hơn. Bởi vì đây là ngôn ngữ được sử dụng bởi nhiều người và thống nhất của Trung Quốc.

Một giáo trình dạy tiếng Quảng Đông phổ biến hiện nay có tên là Pimsleur Cantonese.

Tiếng Quảng Đông cũng được ghi âm bằng kí tự Latinh. Điều này giúp việc gõ chữ Hán trên máy vi tính trở nên dễ dàng và thuận lợi. Đó là nhờ các bộ gõ chữ Hán thông qua phiên âm Latinh của tiếng Quảng Đông.

Bộ gõ chữ Hán bằng tiếng Quảng Đông phổ biến hiện nay là Cantonese Phonetic IME rất thuận lợi cho những người mới tiếp xúc với tiếng Quảng Đông.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Trung Quốc, tiếng Quảng Đông đôi khi còn được gọi là Việt ngữ (粵語/粤语) vì hai tỉnh Quảng ĐôngQuảng Tây trước đây là đất của dân tộc Bách Việt (百越) (vùng đất mà ngày nay thuộc lãnh thổ phía Nam Trung Quốc cùng một phần ở thượng du, trung và đồng bằng châu thổ miền Bắc Việt Nam), nên họ gọi hai tỉnh ấy là tỉnh Việt. Tuy nhiên, xét về mặt ngôn ngữ học, Việt ngữ là một nhánh rộng hơn, gồm một số phương ngữ như tiếng Đài Loan, tiếng Cao Dương,...

Những người sử dụng ngôn ngữ này ở Trung Quốc lục địa thường gọi đây là tiếng Quảng Châu. Tại Quảng Đông, người ta còn gọi đây là tiếng tỉnh thành (省城話/省城话) hoặc tiếng Quảng Phủ (廣府話/广府话) (tên gọi cũ của Quảng Châu) hoặc bạch thoại (白話/白话).

Tại Hồng Kông, Ma Cao và những cộng đồng người Hoa ở nước ngoài, người ta thường gọi ngôn ngữ này là tiếng Quảng Đông (廣東話/广东话) (vì nguồn gốc dân cư là từ di cư từ khu vực này đến) hay đơn giản là tiếng Trung (中文: trung văn) (vì trong lịch sử ngôn ngữ này từng có giai đoạn thịnh hành ở Trung Quốc, trước khi bị tiếng Hoa phổ thông thay thế).

Do là phương ngữ ưu thế trong Việt ngữ, ngôn ngữ này còn được gọi là Việt ngữ tiêu chuẩn (標準粵語/标准粤语) hay Việt ngữ chuẩn.[2]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Từ điển tiếng Trung thời Đường. Phát âm tiếng Quảng Đông hiện đại gần giống với tiếng Trung Quốc sử dụng phổ biến trong thời kỳ này hơn là những thứ tiếng địa phương khác.

Do thiếu những văn kiện lịch sử, nguồn gốc của tiếng Quảng Đông chỉ có thể dựa vào ước đoán. Sự khác biệt giữa các thứ tiếng địa phương ở Trung Quốc cổ đại được ghi nhận sớm nhất vào thời Xuân Thu (770-476 trước Công Nguyên). Một vài nguồn suy đoán rằng tiếng Quảng Đông cùng với tiếng Ngôtiếng Tương (tiếng Hồ Nam ngày nay) đã hình thành vào khoảng thời nhà Tần (221-206 trước Công Nguyên). Cho đến cuối thời Tần, người Hán đã định cư tại khu vực tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến ngày nay cùng với ngôn ngữ của họ. Trong sách vở, tiếng Hán được dùng để đề cập đến ngôn ngữ phương Bắc. Ngôn ngữ này được dùng như ngôn ngữ chính thức vào thời Tần. Sau thời nhà Hán (202 trước Công Nguyên đến 220), quãng thời gian hỗn loạn chính trị kéo dài và phân tách lãnh thổ liên miên dẫn đến sự tách biệt giữa phương ngữ địa phương và phương ngữ phương Bắc. Việc giao tiếp qua lại với người bản địa cũng giúp hình thành loại phương ngữ đặc biệt mà ngày nay gọi là Việt ngữ. Mặc dù không được ghi nhận rõ ràng trong lịch sử, nhiều người đồng tình rằng vào thời nhà Đường (618-907), tiếng Quảng Đông có những đặc trưng ngôn ngữ giống với thứ tiếng Trung phổ biến thời kỳ này hơn các phương ngữ khác.[3]

Vào thời Nam Tống, Quảng Châu trở thành trung tâm văn hoá của khu vực. [4] Tiếng Quảng Đông phát triển thành nhánh phương ngữ có uy thế nhất của Việt ngữ khi thành phố cảng Quảng Châu ở đồng bằng sông Châu Giang trở thành hải cảng lớn nhất Trung Quốc, với mạng lưới thương mại trải rộng đến tận Ả Rập. [5] Tiếng Quảng Đông cũng được sử dụng trong loại hí kịch truyền thống Quảng Đông có tên gọi là "Việt kịch" hay "đại kịch". [6][7] Thêm vào đó, trong quá trình phát triển, ngôn ngữ này đã hình thành nên một dòng văn học đặc biệt có cách phát âm từ thời Trung cổ gần giống với tiếng Quảng Đông hiện đại hơn bất kỳ phương ngữ Trung Quốc nào khác ngày nay, kể cả tiếng Hoa phổ thông. [8]

So với tiếng phổ thông và tiếng Ngô, tiếng Quảng Đông gần với tiếng Khách Giatiếng Mân hơn.

Khi Quảng Châu trở thành trung tâm thương mại, nơi thực hiện phần lớn giao thương với nước ngoài vào thế kỷ 18, tiếng Quảng Đông là ngôn ngữ chủ yếu được sử dụng để giao tiếp với thế giới phương Tây. [5] Suốt giai đoạn này và kéo dài đến tận thế kỷ 20, tổ tiên hầu hết dân cư Hồng Kông và Ma Cao đều đến từ Quảng Châu và những khu vực lân cận sau khi hai nơi này biến thành thuộc địa của AnhTây Ban Nha. [9]

Tại Trung Quốc lục địa, tiếng Hoa phổ thông là đối tượng cốt lõi dùng để giảng dạy và học tập ở trường học, đồng thời là ngôn ngữ chính thức, đặc biệt là sau khi Đảng Cộng Sản Trung Quốc lên nắm quyền từ năm 1949. Trong khi đó, tiếng Quảng Đông vẫn được xem là ngôn ngữ chính thức tại Hồng Kông và Ma Cao kể từ thời kỳ thuộc địa cho đến nay.[10]

Vị trí phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Hồng Kông và Ma Cao[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Đông Nam Á[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay, tiếng Quảng Đông được sử dụng ở rất nhiều nơi trên thế giới trong đó có cả Việt Nam. Khi xưa người Trung Quốc di cư sang Việt Nam và tập trung đa phần ở miền Nam Việt Nam. Những người Trung Quốc này chủ yếu là đến từ Quảng ĐôngPhúc Kiến. Họ đem theo nền văn hóa cũng như tiếng nói Quảng Đông đặc trưng của mình. Khi sang Việt Nam người ta thường gọi họ là người Hoa hoặc Ba Tàu.

Ngày nay người Hoa tập trung đông đúc và chủ yếu ở Chợ Lớn thuộc Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. Người Hoa ở đây chủ yếu dùng tiếng Quảng Đông để giao tiếp và buôn bán hàng ngày.

Bắc Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Tây Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Vai trò văn hoá và xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôn ngữ giao tiếp Trung Quốc khác nhau rất lớn tuỳ theo vùng và khu vực, phần lớn không thể dùng để giao tiếp lẫn nhau được. Hầu hết những loại ngôn ngữ bản địa này ít gặp tại những địa phương khác, dù vẫn có thể gặp người sử dụng chúng ở bên ngoài Trung Quốc. Từ sau sắc lệnh năm 1909 của nhà Thanh, tiếng Hoa phổ thông trở thành ngôn ngữ sử dụng trong giáo dục, truyền thông và giao tiếp.[11] Tuy nhiên, tuyên bố đưa tiếng Hoa phổ thông làm ngôn ngữ chính thức quốc gia không được các nhà chức trách ở khu vực sử dụng ngôn ngữ này hoàn toàn chấp nhận vào đầu thế kỷ 20.[12] Tiếng Quảng Đông vẫn kiên trì được sử dụng ở một số đài truyền hình và phát thanh Quảng Đông ngày nay, xen lẫn với tiếng phổ thông. Riêng tại Hồng Kông, hầu hết mọi chương trình và đài phát thanh đều phát tiếng Quảng Đông. Do chính sách năm 1949, ngày càng nhiều người Quảng Đông dùng song song hai thứ tiếng này cùng lúc, đặc biệt là trong môi trường giáo dục và hành chính. Ở Hồng Kông, ngôn ngữ thứ hai không phải tiếng phổ thông mà là tiếng Anh.[3]

Những năm gần đây việc sử dụng tiếng Quảng Đông ở Trung Quốc lục địa va phải một số nỗ lực hạn chế. Nổi bật nhất là một đề nghị năm 2010, yêu cầu đài truyền hình Quảng Châu tăng thời lượng phát sóng tiếng phổ thông, sử dụng kinh phí của những chương trình tiếng Quảng Đông. Điều này dẫn đến cuộc biểu tình lớn tại Quảng Châu. Kết quả là đã ngăn cản được chuyện ép buộc thay đổi ngôn ngữ của các nhà chức trách.[13] Thêm vào đó, có những tin tức về việc sinh viên bị phạt do nói thứ tiếng không phải tiếng phổ thông tại trường học.[14] Những việc này càng làm gia tăng thêm vai trò của tiếng Quảng Đông trong văn hoá địa phương, người ta xem ngôn ngữ là đặc trưng nhận dạng người bản địa để phân biệt với với những người dân nhập cư phần lớn đến từ những miền nghèo hơn ở Trung Quốc - họ chủ yếu nói tiếng phổ thông.[15]

Do lịch sử ngôn ngữ tại Hồng Kông và Ma Cao cùng với việc sử dụng tiếng Quảng Đông phổ biến trong cộng đồng người Hoa ở nước ngoài, phạm vi sử dụng quốc tế của tiếng Quảng Đông lan rộng tỉ lệ thuận với số người nói. Tiếng Quảng Đông là ngôn ngữ nói chiếm ưu thế tại Hồng Kông và Ma Cao. Tại những khu vực này, những bài diễn thuyết, phát biểu chính trị hầu hết đều bằng tiếng Quảng Đông, khiến nó trở thành phương ngữ Trung Quốc duy nhất ngoài tiếng phổ thông được sử dụng cho chức năng chính sự.

Đặc biệt từ sau khi Hồng Kông được Anh trao trả lại cho Trung Quốc, tiếng Quảng Đông càng được sử dụng như một biểu tượng bản địa tại Hồng Kông, càng phổ biến hơn nữa qua chính sách phát triển dân chủ tại Hồng Kông và chính sách thoát ly Trung Quốc nhằm bất đồng hoá với Trung Quốc lục địa và chính quyền của nó.[16]

Tình huống tương tự cũng xảy ra tại Hoa Kỳ, tại đây mâu thuẫn xã hội ngày càng gia tăng trong cộng đồng người Mỹ gốc Hoa do một lượng lớn dân cư nói tiếng phổ thông từ Đài Loan và Trung Quốc tràn vào Hoa Kỳ trong những năm gần đây. Trong khi nhiều di dân từ Đài Loan đẫ học tiếng Quảng Đông để củng cố quan hệ với cộng đồng người Mỹ gốc Hoa nói tiếng Quảng Đông truyền thống, ngày càng nhiều người dân mới nhập cư gần đây và phần lớn dân nhập cư từ Trung Quốc đại lục vẫn tiếp tục dùng tiếng phổ thông, đôi khi họ dùng nó như thứ ngôn ngữ duy nhất của họ thay vì cố gắng sử dụng tiếng Anh. Điều này đã góp phần tạo nên sự chia rẽ cộng đồng dựa trên sự phân biệt nói những loại tiếng Trung khác nhau. Song song đó là việc ngày càng nhiều người Mỹ gốc Hoa (bao gồm những người Hoa sinh ra tại Mỹ) nói tiếng Quảng Đông bảo vệ nền văn hoá từ xưa đến nay của cộng đồng của họ trước luồng dân di cư nói tiếng phổ thông.[17][18]

Cũng như tiếng Hoa phổ thông và tiếng Phúc Kiến, tiếng Quảng Đông cũng sở hữu dòng nhạc riêng, thường gọi là Cantopop hay HK-pop. Tại Hồng Kông, nhạc tiếng Quảng Đông giữ vị trí thống trị trong dòng nhạc thịnh hành. Nhiều nghệ sĩ đến từ Bắc Kinh và Đài Loan phải học tiếng Quảng Đông để tạo ra phiên bản ca khúc tiếng Quảng Đông.[19] Nhiều ca sĩ nói tiếng phổ thông bản địa như Vương Phi, Vu Khải Hiền,... và những ca sĩ đến từ Đài Loan phải học tiếng Quảng Đông để biểu diễn tại đây.[19]

Từ buổi đầu sơ khai của nền điện ảnh Trung Quốc, người ta đã làm những bộ phim tiếng Quảng Đông. Bộ phim đầu tiên có tên là "Bạch Kim Long" (白金龍/白金龙) được hãng phim Thiên Nhất của Thượng Hải sản xuất năm 1932.[20] Bất chấp lệnh cấm đối với phim tiếng Quảng Đông do chính quyền Nam Kinh đưa ra vào thập niên 1930, hãng phim tiếng Quảng Đông tiếp tục làm phim tại Hồng Kông - khi đó vẫn đang là thuộc địa của Anh.[12][21] Từ giữa thập niên 1970 đến thập niên 1990, những bộ phim tiếng Quảng Đông sản xuất tại Hồng Kông đều rất phổ biến trong giới cộng đồng người Hoa ở hải ngoại.

Chữ viết[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Quảng Đông sử dụng bộ chữ Hán phồn thể thay vì bộ bộ giản thể như tiếng Hoa phổ thông. Ngoài ra, tiếng Quảng Đông còn có một số từ ngữ không có trong văn viết của tiếng Hoa phổ thông. Một số từ phát âm giống hoặc gần giống nhau, nhưng phần lớn là khác biệt. Cách dùng từ, đặc biệt là trong giao tiếp đôi khi không giống nhau. Ví dụ như từ "không có", tiếng phổ thông là 没有 (méi yǒu), tiếng Quảng Đông là 冇 (mou5). Văn nói tiếng Quảng Đông thường có những câu tận cùng bằng từ 啊 (aa3) nhiều hơn so với tiếng phổ thông.

Do Quảng Châu và Hồng Kông từ thế kỷ 18 là nơi có nhiều người nước ngoài sinh sống, một số từ vựng chịu ảnh hưởng phát âm tiếng Anh.

Tiếng Quảng Đông Việt bính Tiếng Anh Tiếng Hoa phổ thông Bính âm Tiếng Việt
bo1 Ball qiú Bóng
士多 si6 do1 Store 小商店 xiǎo shāng diàn Cửa tiệm
的士 dik1 si2 Taxi 出租車 chū zū chē Tắc xi
巴士 baa1 si2 Bus 公共汽車 gōng gòng qì chē Xe buýt
迷你 mai4 nei5 Mini xiǎo Nhỏ
摩登 mo1 dang1 Modern 現代 xiàn dài Hiện đại
士多啤梨 si6 do1 be1 lei2 Strawberry 草莓 cǎo méi Dâu tây
啤梨 be1 lei4 Pear
肥佬 fei4 lou2 Fail 不合格 bù hé gé Thất bại

Về ngữ pháp, tiếng phổ thông và Quảng Đông có đôi chút khác biệt. Tuy nhiên, nếu một người sử dụng một trong hai thứ tiếng và đọc được cả hai loại chữ giản thể và phồn thể, họ có thể hiểu được văn bản viết băng văn phong chính luận của thứ tiếng kia (tuy không thể nghe hiểu được), nhưng nếu viết bằng văn phong hội thoại sẽ khó hiểu hơn.

Phiên âm La tinh[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống phhiên âm Latinh tiếng Quảng Đông dựa trên giọng nói của người dân bản địa và Hồng Kông, hỗ trợ tạo nên khái niệm gọi là tiếng Quảng Đông chuẩn. Các hệ thống phiên âm chính gồm Barnett–Chao, Meyer–Wempe, phiên âm La tinh tiếng Quảng Đông của chính phủ Trung Quốc, YaleViệt bính (粵拼/jyutping). Các hệ thống phiên âm này về cơ bản không khác nhau nhiều.

Nhà ngôn ngữ học Hồng Kông Sidney Lau đã sửa đổi hệ thống Yale trong giáo trình tiếng Quảng Đông nổi tiếng của ông và vẫn được sử dụng rộng rãi ngày nay. Hệ thống phiên âm La tinh tiếng Quảng Đông của Ma Cao khá khác biệt so với Hồng Kông, phát âm chịu ảnh hưởng cơ bản từ tiếng Bồ Đào Nha. Tuy nhiên, vài từ ngữ trong hệ thống phiên âm của Ma Cao cũng tương tự như của Hồng Kông (ví dụ 林 là "Lam" và 陳 là "Chan"). Những từ trong hệ thống phiên âm của Hồng Kông dùng "u" thì được thay bằng "o" trong hệ thống phiên âm của Ma Cao (ví dụ 周 là "Chau" và "Chao", 梁 là "Leung" và "Leong"). Trong khi đó, cả hai hệ thống phiên âm này đều khác nhiều với hệ thống bính âm tiếng Quảng Đông của Trung Quốc.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ davidpbrown
  2. ^ Luk, Bernard H. K. "The Chinese Communities of Toronto: Their Languages and Mass Media." In: The Chinese in Ontario. Polyphony: The Bulletin of the Multicultural History Society of Ontario. Volume 15, 2000. Start p. 46. CITED: p. 48 (Archive).
  3. ^ a ă “粵語播音須報准 民轟「弱智」 | 國際新聞 | 蘋果日報”. UCLA International Institute. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2015. 
  4. ^ Yue-Hashimoto (1972), tr. 4.
  5. ^ a ă Li (2006), tr. 126.
  6. ^ Yue-Hashimoto (1972), tr. 5–6.
  7. ^ Ramsey (1987), tr. 99.
  8. ^ Yue-Hashimoto (1972), tr. 5.
  9. ^ Yue-Hashimoto (1972), tr. 70.
  10. ^ Zhang & Yang (2004), tr. 154.
  11. ^ Minglang Zhou, Hongkai Sun (2004). Language Policy in the People's Republic of China: Theory and Practice Since 1949. Springer. ISBN 978-1402080388. 
  12. ^ a ă Yingjin Zhang biên tập (1999). Cinema and Urban Culture in Shanghai, 1922-1943. Stanford University Press. tr. 184. ISBN 978-0804735728. 
  13. ^ Yiu-Wai Chu (2013). Lost in Transition: Hong Kong Culture in the Age of China. State University of New York Press. tr. 147–148. ISBN 978-1438446455. 
  14. ^ [Grandma and granddaughter can't communicate each other due to school rules] |dịch tựa đề= cần |tựa đề= (trợ giúp) (bằng Chinese). Yangcheng Evening News. 9 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2010.  Đã bỏ qua tham số không rõ |script-title= (trợ giúp)
  15. ^ “粵語播音須報准 民轟「弱智」 | 國際新聞 | 蘋果日報”. Tw.nextmedia.com. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012. 
  16. ^ Say It Loud: Language and Identity in Taiwan and Hong Kong, 6 November 2014
  17. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Chee_Beng_Tan_2007_115
  18. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên HML
  19. ^ a ă Donald, Stephanie; Keane, Michael; Hong, Yin (2002). Media in China: Consumption, Content and Crisis. RoutledgeCurzon. tr. 113. ISBN 0-7007-1614-9. 
  20. ^ Meaghan Morris, Siu Leung Li, Stephen Ching-kiu Chan (2006). Hong Kong Connections: Transnational Imagination in Action Cinema. Duke University Press Books. tr. 193. ISBN 978-1932643015. 
  21. ^ Lisa Odham Stokes (2007). Historical Dictionary of Hong Kong Cinema. Scarecrow Press. tr. 427. ISBN 978-0810855205. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]