Hệ ngôn ngữ Hán-Tạng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Ngữ hệ Hán-Tạng)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hệ ngôn ngữ Hán-Tạng
Phân bố
địa lý
Đông Á, Đông Nam Á, Nam Á
Phân loại ngôn ngữ học Một trong những hệ ngôn ngữ chính trên thế giới
Ngôn ngữ con:
  • Khoảng 40 phân nhóm cấp thấp được phân loại (Van Driem (2001), một số có lẽ không thuộc về hệ Hán-Tạng
  • Nhiều kiểu phân loại được đề xuất với các nhóm cấp cao hơn
  • Phân loại truyền thống:
  • Hán và phần còn lại (Tạng-Miến)
ISO 639-2 / 5: sit
Glottolog: sino1245
{{{mapalt}}}
Phân bố của nhiều nhánh Hán-Tạng khác nhau

Hệ ngôn ngữ Hán-Tạng, trong vài nguồn được gọi là hệ ngôn ngữ Tạng-Miến hay Trans-Himalaya, là một hệ ngôn ngữ gồm hơn 400 ngôn ngữ được sử dụng tại Đông Á, Đông Nam Á, và Nam Á. Hệ này chỉ đứng sau hệ ngôn ngữ Ấn-Âu về số lượng người nói bản ngữ. Những ngôn ngữ Hán-Tạng với lượng người nói lớn nhất là các dạng tiếng Trung Quốc (1,2 tỉ người nói), tiếng Miến Điện (33 triệu người nói) và nhóm Tạng (8 triệu người nói). Nhiều ngôn ngữ Hán-Tạng chỉ được sử dụng trong những cộng đồng nhỏ tại vùng núi cách biệt và rất thiếu thông tin.

Nhiều phân nhóm cấp thấp đã được xác lập rõ ràng, nhưng cấu trúc cấp cao hơn vẫn chưa rõ ràng. Dù hệ này này thường được chia thành hai nhánh HánTạng-Miến, các nhà nghiên cứu chưa bao giờ xác định được nguồn gốc chung của nhóm phi Hán.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Mối quan hệ ngôn ngữ học giữa tiếng Trung Quốc, tiếng Tạng, tiếng Miến Điện được đề xuất lần đầu vào đầu thế kỷ 19, và hiện được chấp nhận rộng rãi. Từ mối quan tâm ban đầu về những ngôn ngữ lớn với nền văn học lâu đời, hệ ngôn ngữ Hán-Tạng đã mở rộng ra bằng việc thêm vào những ngôn ngữ ít phổ biến hơn, một số trong đó chỉ gần đây mới trở thành, hoặc chưa bao giờ là, ngôn ngữ viết. Tuy nhiên, việc phân loại ngôn ngữ học hệ Hán-Tạng lại ít tiến triển hơn so với hệ ngôn ngữ Ấn-Âu hay Nam Á. Những khó khăn bao gồm sự đa dạng lớn về số lượng ngôn ngữ và việc thiếu tương tác, tài liệu, cũng như thông tin. Nhiều thứ tiếng nhỏ chỉ hiện diện các cộng đồng ở vùng núi khó tiếp cận, hoặc ở vùng biên giới nhạy cảm.[1]

Những nghiên cứu đầu tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Vào thế kỷ 18, nhiều học giả đã nhận thấy nét tương tự giữa tiếng Tạng và tiếng Miến Điện, hai ngôn ngữ với nền văn học lớn. Đầu thế kỷ 19, Brian Houghton Hodgson và một số khác ghi nhận sự tương đồng giữa chúng với nhiều ngôn ngữ tại vùng cao đông bắc Ấn Độ, và Đông Nam Á. Cái tên "Tạng-Miến" được đặt cho nhóm này vào năm 1856 bởi James Richardson Logan; 1858, ông cho thêm nhóm Karen vào.[2][3] Tập ba của tác phẩm Linguistic Survey of India có nội dung dành về các ngôn ngữ Tạng-Miến ở Ấn Độ thuộc Anh.[4]

Các nghiên cứu về ngôn ngữ "Ấn-Trung" tại Đông Nam Á của Logan và một số khác cho thấy chúng gồm bốn nhóm: Tạng-Miến, Thái, Môn–KhmerMalay-Polynesia. Julius Klaproth nhận thấy năm 1823 rằng tiếng Miến, Tạng và Trung Quốc đều có chung hệ thống từ vựng cơ bản mà tiếng Thái, Môn, và Việt khá khác biệt.[5][6] Ernst Kuhn lập ra một hệ ngôn ngữ gồm hai nhánh, Trung-Xiêm và Tạng-Miến.[a] August Conrady gọi nhóm này là Ấn-Trung trong phân loại năm 1896. Franz Nikolaus Finck năm 1909 xem nhóm Karen là nhánh thứ ba của hệ Trung-Xiêm.[7]

Jean Przyluski đặt ra thuật ngữ sino-tibétain, và chọn nó làm tiêu đề cho một chương của Les langues du monde năm 1924.[8]. Dịch ngữ "Sino-Tibetan" xuất hiện trong một ghi chú ngắn của Przyluski và Luce năm 1931.[9]

Nghiên cứu ngôn ngữ văn học[sửa | sửa mã nguồn]

Chữ Trung Quốc cổ viết trên thanh tre.

Tiếng Trung Quốc cổ chắc chắn là ngôn ngữ Hán-Tạng cổ nhất được ghi nhận, với những bản khắc có niên đại từ 1200 TCN và nền văn học đồ sộ, nhưng hệ chữ Trung Quốc không phải bảng chữ cái. Những học giả tìm các phục dựng hệ thống âm vị học tiếng Trung Quốc cổ bằng cách so sánh những mô tả về âm thanh trong những tự điển tiếng Trung Quốc trung đại, những yếu tố âm thanh trong Hán tự và cách gieo vần trong những bài thờ cổ. Tác phẩm phục dựng hoàn chỉnh đầu tiên là Grammata Serica Recensa của Bernard Karlgren.

Vă bản tiếng Tạng cổ được tìm thấy tại Turfan.

Tiếng Tạng có nền văn học viết lớn nhờ sự sáng tạo chữ viết tại vương quốc Thổ Phồn vào thế kỷ thứ 7. Những ghi nhận cổ nhất về tiếng Miến Điện (như bản chữ khắc Myazedi thế kỷ 12) có phần hạn chế hơn, nhưng nền văn học tiếng Miến sau đó đã phát triển nhanh chóng. Hai hệ chữ viết của hai ngôn ngữ này đều xuất từ hệ chữ Brahmi của Ấn Độ cổ đại.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều nhóm cấp thấp, điển hình như Lô Lô-Miến, đã được phân định rõ, nhưng cấp trúc cấp cao của hệ ngôn ngữ này vẫn chưa được xác định.[10][11]

Lý (1937)[sửa | sửa mã nguồn]

Trong một nghiên cứu 1937, Lý Phương Quế chia hệ này ra thành bốn nhánh:[12][13]

Ấn-Trung (Hán-Tạng)

Thái và Miêu–Dao được gộp vào vì chúng có tính đơn lập, thanh điệu và một phần từ vựng giống tiếng Trung. Đương thời, thanh điều vẫn còn được xem như một phương tiện để phân loại ngôn ngữ. Trong cộng đồng học giả ngày nay, nhóm Thái và Miêu-Dao không còn được xếp vào hệ Hán-Tạng nữa.[13] Việc bỏ tiếng Việt (theo Kuhn) khỏi hệ Hán-Tạng được chứng minh năm 1954 khi André-Georges Haudricourt chứng minh hệ thống thanh điệu tiếng Việt phản ảnh phụ âm cuối trong ngôn ngữ Tiền Nam Á.[14]

Benedict (1942)[sửa | sửa mã nguồn]

Benedict loại tiếng Việt (xếp nó vào hệ Môn–Khmer) cũng như nhóm Hmong–Miền và Tai–Kadai (xếp chúng vào Austro-Tai) khỏi hệ Hán-Tạng:[15][16]

Hán-Tạng
  • Trung Quốc
  • Tạng-Karen

Shafer (1955)[sửa | sửa mã nguồn]

Shafer không đồng ý với việc của hệ ra hai nhánh lớn là Hán và Tạng-Miến, ông đề xuất một phân loại chi tiết hơn, gồm sáu nhánh chính:[17][18]

Hán-Tạng
  • Hán
  • Dai
  • Bod
  • Miến
  • Baro
  • Karen

Shafer không chắc về việc thêm nhóm Dai vào hệ Hán-Tạng, nhưng ông vẫn quyết định xếp nó vào.[19][20]

Van Driem (1997, 2001)[sửa | sửa mã nguồn]

Van Driem (1997)[sửa | sửa mã nguồn]

Van Driem, như Shafer, cho rằng cách phân loại "Trung Quốc và phần còn lại" là sai, ghi nhận rằng việc các học giả xếp tiếng Trung vào một nhánh riêng trong hệ Hán-Tạng là do lịch sử và văn hóa, chứ không phải ngôn ngữ. Ông gọi toàn hệ là "Tạng-Miến".

Tạng-Miến

Van Driem (2001)[sửa | sửa mã nguồn]

Van Driem cũng đưa ra một phân loại liệt kê nhiều nhóm cấp nhấp nhưng bỏ ngỏ về những nhóm cấp cao hơn.[21] 42 nhóm đã được xác định:[22]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Kuhn (1889), p. 189: "wir das Tibetisch-Barmanische einerseits, das Chinesisch-Siamesische anderseits als deutlich geschiedene und doch wieder verwandte Gruppen einer einheitlichen Sprachfamilie anzuerkennen haben." (also quoted in van Driem (2001), p. 264.)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Handel (2008), tr. 422, 434–436.
  2. ^ Logan (1856), tr. 31.
  3. ^ Logan (1858).
  4. ^ Hale (1982), tr. 4.
  5. ^ van Driem (2001), tr. 334.
  6. ^ Klaproth (1823), tr. 346, 363–365.
  7. ^ van Driem (2001), tr. 344.
  8. ^ Sapir (1925), tr. 373.
  9. ^ Przyluski & Luce (1931).
  10. ^ Handel (2008), tr. 426.
  11. ^ DeLancey (2009), tr. 695.
  12. ^ Li (1937), tr. 60–63.
  13. ^ a ă Handel (2008), tr. 424.
  14. ^ Matisoff (1991), tr. 487.
  15. ^ Benedict (1942), tr. 600.
  16. ^ Benedict (1972), tr. 2–4.
  17. ^ Shafer (1955), tr. 99–108.
  18. ^ Shafer (1966), tr. 1.
  19. ^ Shafer (1955), tr. 97–99.
  20. ^ van Driem (2001), tr. 343–344.
  21. ^ van Driem (2001), tr. 403.
  22. ^ van Driem (2014), tr. 19.