Ngữ tộc Tạng-Miến

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ngữ tộc Tạng-Miến
Phân bố
địa lý
Đông Nam Á, Đông Á, Nam Á
Phân loại ngôn ngữ học Hán-Tạng
  • Ngữ tộc Tạng-Miến
Ngôn ngữ nguyên thủy: Tạng-Miến nguyên thủy
Ngôn ngữ con:
ISO 639-5: tbq
Glottolog: Không
{{{mapalt}}}
  Tạng
  Miến
  Karen
  Rung
  Tani
  Konyak
  Naga
  Methei
  Kuki

Ngự tộc Tạng-Miến là một thuật ngữ để chỉ những ngôn ngữ phi Hán thuộc hệ ngôn ngữ Hán-Tạng, với hơn 400 ngôn ngữ được nói tại vùng cao Đông Nam Á cũng như những phần nhất định của Đông ÁNam Á. Tên của ngữ tộc được ghép từ tên hai nhóm ngôn ngữ phổ biến nhất, đó là tiếng Miến Điện (hơn 32 triệu người nói) và nhóm ngôn ngữ Tạng (hơn 8 triệu). Những ngôn ngữ này có nền văn học đồ sộ, khởi đầu từ thế kỷ 12 (tiếng Miến Điện) và thế kỷ 7 (nhóm Tạng). Đa số các thứ tiếng khác thuộc ngữ hệ này có ít được nói hơn nhiều, và nhiều trong số chúng chưa được nghiên cứu chi tiết.

Một số phân loại chia hệ Hán-Tạng ra thành nhánh Hán và nhánh Tạng-Miến (như Benedict và Matisoff).[1] Tuy nhiều, những học giả khác cho rằng Tạng-Miến là một nhóm đa ngành. Van Driem cho rằng hệ ngôn ngữ Hán-Tạng nên được gọi là "Tạng-Miến", nhưng cách gọi là không được chấp nhận rộng rãi. Một số người khác thì loại trừ hoàn toàn mối quan hệ với nhóm Hán, ví dụ như Beckwith, Miller.[2]

Ngôn ngữ Tạng-Miến lâu đời nhất được ghi nhận là tiếng Bạc Lang tồn tại vào thế kỷ 3, xuất hiện trong Hậu Hán thư, với phần từ vựng của một ngôn ngữ Lô Lô-Miến nhưng cấu trúc câu trong sách đã bị chuyển đổi cho giống tiếng Trung Quốc.[3]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Benedict Paul K. (1972), Matisoff, J. A., ed., Sino-Tibetan: A conspectus, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 978-0-521-08175-7.
  2. ^ Miller R. A. (1974), Sino-Tibetan: Inspection of a Conspectus. Journal of the American Oriental Society 94 (2). p. 195–209.
  3. ^ Coblin (1979).

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]