Himalaya

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Himalaya
Dãy núi
Everest North Face toward Base Camp Tibet Luca Galuzzi 2006 edit 1.jpg
Mặt phía bắc của Everest nhìn từ trại ở Tây Tạng
Các quốc gia Bhutan, Trung Quốc, India, Nepal, Pakistan, Myanmar, Afghanistan
Điểm cao nhất Đỉnh Everest
 - cao độ 8.849 m (29.032 ft)
 - tọa độ 27°59′17″B 86°55′31″Đ / 27,98806°B 86,92528°Đ / 27.98806; 86.92528
Bản đồ vùng Hy mã lạp sơn
Bản đồ vùng Hy mã lạp sơn
Phong cảnh của dãy Himalaya và đỉnh Everest nhìn từ trên không về hướng nam đông nam từ bên kia Cao nguyên Tây Tạng. (Phiên bản có chú giải)

Himalaya (Hán-Việt: Hy Mã Lạp Sơn) là một dãy núichâu Á, phân chia tiểu lục địa Ấn Độ khỏi cao nguyên Tây Tạng. Mở rộng ra, đó cũng là tên của một hệ thống núi hùng vĩ bao gồm cả Himalaya theo đúng nghĩa của từ này, Karakoram, Hindu Kush và các dãy núi nhỏ khác trải dài từ Pamir Knot. Tên gọi này bắt nguồn từ tiếng Sanskrit himālaya, một tatpurusa từ kép mang ý nghĩa "nơi ở của tuyết" (từ chữ hima "tuyết", và ālaya "nơi ở"; xem thêm Himavat).

Tất cả cùng với nhau, hệ thống núi Himalaya là dãy núi cao nhất hành tinh và là nơi của 14 đỉnh núi cao nhất thế giới: các đỉnh cao trên 8.000 m, bao gồm cả đỉnh Everest. Để thấy được kích thước khổng lồ của những dãy núi trong dãy Himalaya, hãy so với Aconcagua, trong dãy Andes, với độ cao 6.962 m, là đỉnh cao nhất bên ngoài Himalaya, trong khi hệ thống núi Himalaya có trên 100 núi khác nhau vượt quá 7.200 m.

Dãy Himalaya trải khắp 7 quốc gia: Bhutan, Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal, Pakistan, MyanmaAfghanistan. Nó cũng là nơi khởi nguồn của 3 hệ thống sông lớn trên thế giới, đó là lưu vực các sông như sông Ấn, sông Hằng-Brahmaputrasông Dương Tử. Khoảng 750 triệu người sống trên lưu vực của các con sông bắt nguồn từ dãy Himalaya, tính luôn cả Bangladesh.

Các đỉnh nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Sinh thái[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Sinh thái của Himalaya

Hệ động và thực vật của Himalaya biến đổi theo khí hậu, lượng mưa, cao độ, và đất. Khí hậu thay đổi từ nhiệt đới ở chân núi đến băng và tuyết vĩnh cửu ở những đỉnh cao nhất. Lượng mưa hàng năm tăng từ tây sang đông dọc theo sười phía nam của dải núi. Sự đa dạng về khí hậu, cao độ, lượng mưa, và đất đai tạo điều kiện cho nhiều quần xã động - thực vật phát triển. Ví dụ như ở những cao độ rất cao (áp suất thấp) cùng với khí hậu cực lạnh cho phép các sinh vật chịu được điều kiện sống rất khắc nghiệt sống sót.[3]

Sự phát triển hưng thịnh của hệ động thực vật thống nhất của Himalaya đang trải qua những thay đổi về hợp phần và cấu trúc do biến đổi khí hậu. Sự gia tăng nhiệt động có thể làm cho một số loài chuyển lên sống ở những độ cao cao hơn. Rừng sồi bị thông xâm lấn ở khu vực Garhwal Himalaya. Có một số bào cào về các loại cây ăn quả và thực vật có hoa thời kỳ đầu ở dạng loài thân gỗ, đặc biệt là rhododendron, táoMyrica esculenta. Đặc tính dược của một số loài quan trọng có thể bị ảnh hưởng do biến đổi khi hậu.[4][5]

Địa chất[sửa | sửa mã nguồn]

Hành trình hơn 6.000 km của mảng Ấn Độ trước khi nó va vào mảng châu (Á-Âu) cách đây khoảng 40 đến 50 triệu năm
Bài chi tiết: Địa chất Himalaya

Himalaya là một trong những dải núi trẻ nhất trên Trái Đất và bao gồm chủ yếu là các đá trầm tíchđá biến chất được nâng lên. Theo học thuyết kiến tạo mảng, sự hình thành của nó là kết quả của sự va chạm lục địa hoặc tạo núi dọc theo ranh giới hội tụ giữa mảng Ấn-Úcmảng Á-Âu. Dải núi này được xem là núi nếp uốn.

Sự va chạm bắt đầu vào Creta thượng cách đây khoảng 70 triệu năm, khi mảng Ấn-Úc chuyển động về phía bắc với vận tốc khoảng 15 cm/năm và va chạm với mảng Á-Âu.Cách đây khoảng 50 triệu năm, mảng Ấn-Úc này đã đóng kín hoàn toàn đại dương Tethys, sự tồn tại của đại dương này được xác định thông qua các đá trầm tích lắng đọng trên đáy đại dương, và các núi lửa ở rìa của nó. Vì các trầm tích này nhẹ nên nó được nâng lên thành núi thay vì bị chìm xuống đáy đại dương. Mảng Ấn-úc tiếp tục di chuyển theo chiều ngang bên dưới cao nguyên Thanh Tạng làm cho cao nguyên này nâng lên. Cao nguyên Arakan YomaMyanmaquần đảo Andaman và Nicobar thuộc vịnh Bengal cũng được hình thành do sự va chạm này.

Mảng Ấn-Úc vẫn đang chuyển động với tốc độ 67 mm/năm, và hơn 10 triệu năm nữa nó sẽ đi sâu khoảng 1.500 km vào châu Á. Khoảng 20 mm/năm của sự hội tụ Ấn-Á theo đứt gãy dọc theo sườn phía nam của Himalaya.[cần dẫn nguồn] Điều này làm cho Himalaya nâng cao khoảng 5 mm/năm. Sự chuyển động của mảng Ấn Độ vào mảng châu Á cũng gây ra các hoạt động địa chấn như động đất thường xuyên ở khu vực này.

Thủy văn[sửa | sửa mã nguồn]

Indus River
The Himalayan range at Yumesongdong in Sikkim, in the Yumthang River valley

Himalaya là nơi tích tụ băng lớn thứ 3 trên thế giới sau Nam CựcBắc Cực.[6] Dãy Himalaya kéo dài qua khoảng 15.000 sông băng với khoảng 12.000 km3 nước ngọt.[7] Các sông băng như GangotriYamunotri (Uttarakhand) và Khumbu (khu vực đỉnh Everest), Langtang (vùng Langtang) và Zemu (Sikkim).

Dãy núi nằm gần chí tuyến Bắc, ranh giới băng tuyết vĩnh cửu nằm trong số các đường có độ cao lớn nhất trên thế giới trong khoảng 5.500 mét (18.000 ft).[8] Ngược lại, các núi ở xích đạo thuộc New Guinea, RwenzorisColombia có đường băng tuyết thấp hơn ở độ cao 900 mét (2.950 ft).[9] Các khu vực cao hơn của Himalaya có tuyết phủ quanh năm, mặc dù chúng nằm gần vùng nhiệt đới, và chúng là nguồn của các sông lớn có dòng chảy quanh năm, hầu hết các sông này đề đổ vào hai hệ thống sông lớn:

  • Các sông phía tây, trong đó Sông Ấn là sông lớn nhất, tạo thành thung lũng sông Ấn. Sông Ấn bắt nguồn từ Tây Tạng tại nơi giao nhau của các sông Sengge và Gar và chảy về phía tây nam qua Ấn Độ và sau đó qua Pakistan để vào biển Ả Rập. Nó được cấp nước thêm từ Sông Jhelum, Chenab, Ravi, Beas, và sông Sutlej, cùng với các sông khác.
  • Hầu hết các sông khác của Himalaya chảy vào thung lũng sông Hằng-Brahmaputra. Các sông chính gồm Sông Hằng, BrahmaputraYamuna, cũng như các chi lưu khác. Brahmaputra bắt nguồn từ Sông Yarlung Tsangpo ở tây Tây Tạng, và chảy về phía đông qua Tây Tạng và tây qua các đồng bằng Assam. Sông Hằng và Brahmaputra gặp nhau ở Bangladesh, và chảy vào Vịnh Bengal qua châu thổ lớn nhất thế giới Sunderban.[10]

Hồ[sửa | sửa mã nguồn]

A high Himalayan lake at an altitude of around 5,000 metres Sikkim, India

Khu vực Himalaya có đến hàng trăm hồ. Hầu hết các hồ được tìm thấy ở độ cao nhỏ hơn 5.000 m, với kích thước hồ giảm dần theo độ cao. Hồ Tilicho ở Nepal thuộc khối núi Annapurna là một trong những hồ ở độ cao cao nhất trên thế giới. Pangong Tso, nằm trên biên giới giữa Ấn Độ và Trung Quốc, và Yamdrok Tso, nằm ở trung tâm Tây Tạng, là hai trong số những hồ có diện tích bề mặt lớn nhất theo thứ tự là 700 km², và 638 km². Các hồ nổi tiếng khác như Hồ Phoksundo thuộc Vườn quốc gia Shey Phoksundo của Nepal, Hồ GurudongmarNorth Sikkim, Hồ Gokyo ở quận Solukhumbu, và Hồ Tsongmo gần biên giới Ấn Độ-Trung Quốc ở Sikkim.

Một vài hồ có khả năng gây nguy hiểm do vỡ hồ băng. Hồ băng Tsho Rolpathung lũng Rowaling thuộc quận Dolakha của Nepal, là hồ nguy hiển nhất. Hồ nằm ở độ cao 4.580 mét (15.030 ft) đã phát triển đáng kể trong vòng 50 năm qua do băng tan.[11][12]

Các hồ trên núi được các nhà địa lý gọi là tarn nếu chúng được tạo ra bởi hoạt động của băng giá. Tarn được tìm thấy phổ biến ở các vùng thượng nguồn ở Himalaya có độ cao trên 5.500 m.[13]

Các tôn giáo trong khu vực[sửa | sửa mã nguồn]

The Taktsang Monastery, also known as the "Tiger's Nest"

Trong đạo Hindu, Himalaya được nhân cách hóa là vị thần Himavat, cha đẻ của GangaParvati.[14]

Nhiều nơi thuộc Himalaya thuộc về các tôn giáo có ảnh hưởng như Buddhism, Hinduism, JainismSikhism. Địa điểm tôn giáo nổi tiếng nhất là Paro Taktsang, nơi Padmasambhava được cho là đà thành lập nên Buddhism ở Bhutan.[15]

Nhiều vị trí tôn giáo Tibetan Buddhism tọa lạc ở Himalaya, bao gồm cả nơi ở của Dalai Lama. Có hơn 6.000 tu viện ở Tây Tạng.[16] Tibetan Muslims có các thánh đường của họ ở LhasaShigatse.[17]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Unsworth, Walt (2000). Everest - The Mountaineering History (ấn bản 3). Bâton Wicks. tr. 584. ISBN 978-1898573401. 
  2. ^ “No Longer Everest but Mount Qomolangma”. People's Daily Online. 20 tháng 11 năm 2002. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2005. 
  3. ^ C.Michael Hogan. 2010. Archaea. eds. E.Monosson & C.Cleveland, Encyclopedia of Earth. National Council for Science and the Environment, Washington DC.
  4. ^ Kala, Chandra Prakash Kala (2011). Medicinal Plants and Sustainable Development. New York: Nova Science Publishers. tr. 280. ISBN 9781617619427. 
  5. ^ Kala, C.P. (2012). Biodiversity, Communities and Climate Change. New Delhi: Teri Publications. tr. 358. 
  6. ^ “The Himalayas”. Nature on PBS. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2014. 
  7. ^ “the Himalayan Glaciers”. Fourth assessment report on climate change. IPPC. 2007. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2014. 
  8. ^ Shi, Yafeng; Xie, Zizhu; Zheng, Benxing; Li, Qichun (1978). “Distribution, Feature and Variations of Glaciers in China”. World Glacier Inventory (Riederalp Workshop). 
  9. ^ Henderson-Sellers, Ann; McGuffie, Kendal. The Future of the World's Climate: A Modelling Perspective. tr. 199–201. ISBN 9780123869173. 
  10. ^ “Sunderbans the world's largest delta”. gits4u.com. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2015. 
  11. ^ Photograph of Tsho Rolpa
  12. ^ Tsho Rolpa
  13. ^ Drews, Carl. “Highest Lake in the World”. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2010. 
  14. ^ Dallapiccola, Anna (2002). Dictionary of Hindu Lore and Legend. ISBN 0-500-51088-1. 
  15. ^ Pommaret, Francoise (2006). Bhutan Himalayan Mountains Kingdom (ấn bản 5). Odyssey Books and Guides. tr. 136–7. ISBN 978-9622178106. 
  16. ^ “Tibetan monks: A controlled life”. BBC News. Ngày 20 tháng 3 năm 2008. 
  17. ^ “Mosques in Lhasa, Tibet”. People's Daily Online. Ngày 27 tháng 10 năm 2005.