Hổ Bengal

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Hổ Bengal
Contented 01.jpg
Hổ đực
Bengal tiger (Panthera tigris tigris) female.jpg
Hổ cái
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Carnivora
Họ (familia) Felidae
Phân họ (subfamilia) Pantherinae
Chi (genus) Panthera
Loài (species) Panthera tigris
Phân loài (subspecies) Panthera tigris tigris

(Linnaeus, 1758)
Danh pháp ba phần
Panthera tigris tigris
(Linnaeus, 1758)
Panthera tigris tigris and Panthera tigris corbetti distribution map.png

Hổ Bengal (danh pháp khoa học: Panthera tigris tigris) là một phân loài hổ được tìm thấy nhiều nhất tại BangladeshẤn Độ cũng như Nepal, Bhutan, Myanma và miền nam Tây Tạng.[2] Nó là phân loài hổ phổ biến nhất, sống trong các loại môi trường sinh sống khác nhau, bao gồm đồng cỏ, các rừng mưa nhiệt đới và cận nhiệt đới, rừng cây bụi, rừng cây lá sớm rụng ẩm và khô cũng như các rừng tràm đước. Bộ lông của hổ Bengal có màu nâu-cam với các sọc đen, mặc dù đôi khi có dị biến để sinh ra các cá thể hổ trắng. Nó là con vật biểu tượng quốc gia của cả Bangladesh lẫn Ấn Độ.[3]

Đặc trưng[sửa | sửa mã nguồn]

Một con hổ Bengal trắng

Bộ lông hổ Bengal có màu từ vàng nhạt đến màu cam, có sọc từ màu nâu sẫm đến đen; bụng và phần bên trong của 4 chân có màu trắng, và đuôi màu cam với những vòng màu đen. Hổ trắng là một đột biến lặn của loài hổ này, được báo cáo trong tự nhiên theo thời gian ở Assam, Bengal, Bihar, và đặc biệt là từ Rewa. Tuy nhiên, nó không phải là nhầm lẫn như một sự xuất hiện của bệnh bạch tạng. Trong thực tế, chỉ có một trường hợp được chứng thực hoàn toàn của một con hổ bạch tạng đích thực, và không có loài hổ đen nào, ngoại trừ một cá thể đã chết được kiểm tra ở Chittagong năm 1846.

Hổ Bengal đực trưởng thành dài khoảng 1,8-2,7 m (6–9 ft) khi không tính phần đuôi, và 2,7-3,65 m (9–12 ft) khi tính cả đuôi. Phân loài của hổ Bengal cân nặng chừng 180–300 kg (400-660 lb). Hổ Bengal thông thường cao khoảng 1 m (3 ft) tính từ vai trở xuống. Độ dài phần đầu tối đa khoảng 25–38 cm (10-15 inch). Một con hổ Bengal đực trung bình cân nặng khoảng 230 kg (500 lb). Tuy nhiên, có một vài cá thể hổ Bengal nặng trên 300 kg và dài tới 4 m (13 ft) khi tính cả đuôi. Con hổ Bengal lớn nhất đã biết bị bắn hạ năm 1967 tại miền bắc Ấn Độ nặng 388 kg (857 lb). Jim Corbett đã từng bắn hạ một con hổ Bengal gọi là "Bachelor of Powalgarh", được thợ săn nổi tiếng Fred Anderson cho là "to lớn như con ngựa Shetland".[4] Hình ảnh chụp lại cho thấy nó đúng là một con hổ rất to. Ngoài ra, Pocock, một thợ săn nổi tiếng người Mỹ, đồng thời là một nhà tự nhiên học ở đầu thế kỷ 20, đã ghi chép trong một cuốn sách của ông về một vụ việc, trong đó một con hổ Bengal tại Burma (tên gọi cũ của Myanma) đã tha xác một con bò tót đi xa 12 m. Sau khi con hổ đã ăn thịt con bò tót này thì 13 người đàn ông cùng nhau kéo xác con vật xấu số về nhưng họ đã không thể di chuyển được nó. Điều này chỉ ra rằng con bò tót trên thực tế là rất nặng. Một con bò tót tại khu vực Đông Nam Á có thể cân nặng trên 2 tấn, cho dù hổ có thể di chuyển một vật gì đó nặng gấp 5 lần trọng lượng cơ thể nó thì trong trường hợp này nó cũng phải có kích thước và trọng lượng rất lớn. Các chứng cứ này đã củng cố ý tưởng cho rằng những con hổ Bengal ở xa nhất về phía bắc có thể vượt qua hổ Siberi trong vai trò của những con "thú dạng mèo" to lớn nhất trong tự nhiên.

Hổ Bengal cái dài khoảng 1,5-1,8 m (5–6 ft), khi không tính phần đuôi, và 2,1-2,8 m (7–9 ft) khi tính cả đuôi. Chúng cân nặng khoảng 110–200 kg (250-450 lb) và cao khoảng 75 cm (2,5 ft) khi tính từ vai trở xuống. Độ dài phần đầu tối đa khoảng 20–30 cm (8-12 inch). Một con hổ Bengal cái trong tự nhiên cân nặng khoảng 140–160 kg (300–350 lb).

Chu kỳ sống và cấu trúc xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Một con hổ cái đang ngâm nước ở khu bảo tồn Ranthambhore, Rajasthan, Ấn Độ
Hổ cái và đàn con của nó ở vườn quốc gia Bandhavgarh, Madhya Pradesh

Hổ Bengal thông thường sống đơn độc, nhưng đôi khi cũng thấy đi thành đàn từ 3-4 con. Những con trưởng thành chỉ sống theo đàn trên cơ sở đặc biệt và tạm thời khi các điều kiện đặc biệt cho phép, chẳng hạn như nguồn thức ăn dồi dào. Nếu không, chúng sẽ sống độc lập và tự đi săn. Chúng thiết lập và duy trì phạm vi lãnh thổ của riêng mình. Bên cạnh việc cung cấp các yêu cầu của một nguồn cung cấp con mồi đầy đủ, đủ nước và nơi trú ẩn, và an toàn, địa điểm này phải làm chúng có thể duy trì liên lạc với những con hổ khác, đặc biệt là những cá thể khác giới. Phạm vi lãnh thổ bị chiếm đóng bởi con đực trưởng thành có xu hướng loại trừ lẫn nhau, mặc dù một trong những cư dân này có thể chịu đựng một con đực thống lĩnh trong thoáng chốc hoặc con trưởng thành ít nhất trong một thời gian. Một con hổ đực giữ một lãnh thổ lớn để bao gồm phạm vi lãnh thổ của một số hổ cái trong giới hạn của nó, để chúng có thể duy trì giao phối với con cái. Khoảng cách giữa các con cái ít hoàn thiện hơn. Thông thường có một phần chồng chéo với các cư dân hổ cái láng giềng. Chúng có xu hướng độc đoán hơn, ít nhất là trong hầu hết thời gian. Phạm vi lãnh thổ của cả hổ đực và hổ cái không ổn định. Sự thay đổi hoặc thay đổi một phạm vi lãnh thổ của một con vật có tương quan với sự thay đổi của một con vật khác. Sự thay đổi từ môi trường sống ít thích hợp hơn đến môi trường sống tốt hơn được thực hiện bởi các cá thể đã cư trú. Cá thể mới trở thành cư dân chỉ khi một cá thể cũ di chuyển ra ngoài hoặc đã chết. Có nhiều nơi dành cho hổ cái thường trú hơn hổ đực cư trú. Phần lớn các con non được sinh ra trong khoảng từ tháng 2 tới tháng 5, sau khi con mẹ mang thai khoảng 3,5 tháng. Các lần sinh đẻ cách nhau khoảng 2-3 năm. Nói chung, hổ Bengal không sống quá 26 năm.

Ăn uống[sửa | sửa mã nguồn]

Một con hổ Bengal với con mồi vừa săn được

Trong tự nhiên, hổ Bengal là động vật ăn thịt thuần túy và chúng đi săn các loài động vật có kích thước từ trung bình tới lớn, chẳng hạn như lợn rừng, hươu đốm, nai, mang, linh dương bò lam, bò tót,[5] trâu nướctrâu rừng Tây Tạng. Chúng cũng săn bắt cả các động vật nhỏ như thỏ rừng, nhím, khỉ, voọc xámcông. Hổ Bengal cũng được biết đến vì chúng dám săn bắt cả voi châu Átê giác Ấn Độ non. Thông thường, hổ Bengal không dám tấn công voi và tê giác trưởng thành, nhưng đôi khi điều đó cũng xảy ra. Ví dụ, Quỹ động vật hoang dã thế giới (WWF) hiện đang nuôi dưỡng một con tê giác mồ côi do mẹ nó bị hổ Bengal giết chết. Jim Corbett đã từng miêu tả một trường hợp khi hai con hổ Bengal tấn công và giết chết một con voi lớn. Con voi to lớn này có lẽ đã vô tình quấy nhiễu một đôi hổ đang giao phối và điều đó dẫn tới một trận chiến kéo dài. Nói chung, hổ Bengal không ăn thịt voi chết. Do con người ở một số khu vực sống gần nơi cư ngụ của hổ Bengal, các loài gia súc, gia cầm cũng trở thành những mục tiêu tấn công của chúng nếu có cơ hội.

Hổ Bengal cũng đôi khi săn bắt cả các loài động vật ăn thịt khác như báo hoa mai, chó sói, sói đỏ, chó rừng, cáo, gấu ngựa, gấu lợn, cá sấu Mugger, mặc dù các loài động vật này nói chung không phải là thức ăn điển hình của hổ Bengal. Nhìn chung, trong môi trường sống của hổ Bengal chỉ có 2 loài vật được xem là đủ sức cạnh tranh với chúng trong cuộc chiến sinh tồn đó là sư tử châu Ácá sấu cửa sông. Vào năm 2010, một con cá sấu cửa sông đã giết chết một con hổ khi nó bơi qua sông tại vườn quốc gia Sundarbans. Tuy nhiên những cuộc đụng độ này là hiếm vì hổ Bengal thường sợ và chủ động né tránh cá sấu cửa sông. Ngay cả loài sói đỏ, dù thất thế trước hổ về kích thước và sức mạnh, vẫn có thể giết chết hổ Bengal nếu chúng tập hợp một đàn lớn và tấn công một con hổ đơn độc. Các cuộc đụng độ giữa hổ và sư tử châu Á cũng được ghi nhận lại với phần thắng chủ yếu thuộc về hổ Bengal. [6]

Hổ Bengal ưa thích đi săn về đêm, nhưng cũng thức dậy vào thời gian ban ngày. Trong thời gian ban ngày, sự che phủ của "cỏ voi" cao lớn, rậm rạp tạo ra cho chúng một lớp ngụy trang tốt. Hổ Bengal giết con mồi bằng cách chế ngự chúng và cắn đứt tủy sống (phương pháp ưa thích đối với con mồi nhỏ), hoặc sử dụng cú cắn vào cổ làm nghẹt thở đối với con mồi lớn. Hổ Bengal thông thường tha con mồi của chúng tới nơi an toàn để ăn thịt. Mặc dù có kích thước to lớn, nhưng hổ Bengal có thể leo trèo cây khá tốt, nhưng tất nhiên không được nhanh nhẹn như loài báo để có thể giấu con mồi săn được trên cây. Hổ Bengal cũng là con vật bơi lội tốt, thông thường nó phục kích các con vật khác khi chúng ra uống nước hay khi chúng đang bơi lội cũng như khi nó đuổi theo các con mồi đã tháo chạy xuống nước. Hổ Bengal có thể ăn tới khoảng 30 kg (66 lb) thịt một lần và sau đó không cần ăn trong vài ngày.[7] Hổ Bengal thường săn hươu, nai hay các con vật nặng trên 45 kg (100 lb), nhưng khi quá đói, chúng có thể ăn thịt bất kỳ con vật nào có thể ăn được, từ ếch nhái, , vịt, và đôi khi là cả người.

Môi trường sống[sửa | sửa mã nguồn]

Ước tính năm 2005 chỉ ra con số khoảng 4.500 hổ Bengal trên thế giới, trong đó khoảng 3.000 cá thể tại Ấn Độ cùng khoảng 200 cá thể tại cả BangladeshNepal. Có rất ít hổ Bengal tại Myanma nhưng nói chung hổ Bengal tại nước này không còn thuần chủng do việc lai ghép tạp nham với các phân loài hổ khác.

Hổ Bengal hiện nay được bảo vệ chặt chẽ. Sau thành công của chương trình bảo tồn hổ tại Ấn Độ (Project Tiger: Dự án Hổ), quần thể hổ Bengal hoang dã đã gia tăng đáng kể. Quần thể hổ tại Ấn Độ được ước tính chính thức là khoảng 3.500 con, so với khoảng 1.200 con trong thập niên 1970. Tại khu vực Sundarbans, điều tra năm 2004 cho thấy có sự hiện diện của khoảng 280 con hổ Bengal tại vùng thuộc Bangladesh.

Nhưng kể từ đầu thập niên 1990, quần thể hổ đang có xu hướng bị giảm xuống do bị mất và phá hủy môi trường sinh sống cũng như từ việc săn bắn trái phép ở mức độ lớn để lấy da và xương hổ. Chính quyền Ấn Độ đang cố gắng để chứng minh cho thế giới biết rằng hổ Bengal đang phát triển tốt tại Ấn Độ, thông thường họ sử dụng các kỹ thuật đầy mâu thuẫn như lấy mẫu dấu vết chân hổ để theo dõi quần thể hổ. Gần đây, người ta phát hiện ra rằng hổ đã bị tiêu diệt hết tại một trong các khu bảo tồn hàng đầu của Dự án Hổ là khu vực Sariska, phần lớn là do sự lúng túng của chính quyền trong công việc bảo tồn.[8] Một số người tin rằng số lượng hổ Bengal tại Ấn Độ trên thực tế có thể không quá 2.000 con.

Ấn Độ[sửa | sửa mã nguồn]

Hổ cái và con của nó ở khu bảo tồn hổ Kanha

Trong quá khứ, các cuộc kiểm duyệt ở Ấn Độ về hổ hoang dã dựa vào việc xác định dấu chân cá nhân được gọi là pug mark - một phương pháp đã bị chỉ trích là thiếu sót và không chính xác, mặc dù hiện nay bẫy máy ảnh đang được sử dụng ở nhiều nơi.

Môi trường sống an toàn hiện nay của hổ ở các khu rừng cận nhiệt đới và cận nhiệt đới bao gồm các đơn vị bảo tồn hổ (TCUs) Manas-Namdapha. TCUs trong rừng khô nhiệt đới bao gồm Khu bảo tồn Động vật hoang dã Hazaribag, Khu bảo tồn Hổ Nagarjunsagar-Srisailam, hành lang Kanha-Indravati, rừng khô Orissa, Công viên Quốc gia Panna, Khu bảo tồn Hổ Melghat và Khu bảo tồn Hổ Ratapani. Các TCUs trong rừng rụng lá nhiệt đới có lẽ là một trong những môi trường sống hiệu quả nhất đối với hổ và con mồi của chúng, bao gồm các khu bảo tồn hổ Kaziranga-Meghalaya, Kanha-Pench, Simlipal và Indravati Tiger. Các TCU trong rừng thường xanh ẩm nhiệt đới đại diện cho các môi trường sống ít phổ biến hơn, phần lớn giới hạn ở vùng núi cao và các phần ẩm ướt của vùng Tây Ghats, bao gồm cả khu bảo tồn hổ Periyar, Kalakad-Mundathurai, Bandipur và Parambikulam Wildlife Sanctuary.

Trong cuộc tổng điều tra hổ năm 2008, bẫy máy ảnh và ký khảo sát sử dụng GIS đã được sử dụng để dự báo mật độ cụ thể của các loài hổ, những loài săn mồi khác và con mồi của chúng. Dựa trên kết quả của các cuộc điều tra này, tổng số lượng hổ được ước tính là 1.411 cá thể, từ 1.165 đến 1.657 con hổ trưởng thành và trưởng thành dưới 1,5 tuổi. Trên khắp Ấn Độ, sáu khu phức hợp cảnh quan đã được khảo sát là có số lượng hổ khá đông và có tiềm năng được kết nối. Những cảnh quan bao gồm những điều sau đây:

  • Trong khu vực đồng bằng Ấn-Hằng có sáu quần thể với quy mô dân số ước tính 259 đến 335 cá thể chiếm 5.080 km2 (1.960 sq mi) của môi trường sống, nằm ở các vườn quốc gia Rajaji và Corbett, trong môi trường sống kết nối của Dudhwa -Kheri-Pilibhit, trong Khu bảo tồn Hổ Suhelwa, trong Khu bảo tồn Sohagi Barwa và Công viên Quốc gia Valmiki;
  • Ở vùng cao nguyên Trung Ấn có 17 quần thể với quy mô dân số ước tính từ 437 đến 661 cá thể chiếm 48.610 km2 (18.770 sq mi) của môi trường sống, nằm trong cảnh quan Kanha-Pench, Satpura-Melghat, Sanjay-Palamau, Navegaon-Indravati; quần thể bị cô lập được hỗ trợ trong khu bảo tồn hổ của Bandhavgarh, Tadoba, Simlipal và các công viên quốc gia Panna, Ranthambore - Kuno – Palpur – Madhav và Saranda;
  • Ở vùng Ghat Đông có một quần thể đơn lẻ với quy mô dân số ước tính từ 49 đến 57 cá thể chiếm 7772 km2 (3,001 sq mi) môi trường sống trong ba khu rừng riêng biệt nằm trong Vườn quốc gia Srivenkateshwara, Khu bảo tồn Hổ Nagarjunasagar và Gundla được đề xuất liền kề Công viên quốc gia Brahmeshwara, và các mảng rừng trong các tehsils của Kanigiri, Baduel, Udayagiri và Giddalur;
  • Trong vùng Ghat Tây có bảy quần thể với quy mô dân số ước tính từ 336 đến 487 cá thể chiếm 21.435 km2 (8.276 dặm vuông) rừng trong ba đơn vị cảnh quan chính Periyar-Kalakad-Mundathurai, Bandipur-Parambikulam-Sathyamangalam-Mudumalai-Anamalai-Mukurthi và Anshi-Kudremukh-Dandeli;
  • Ở vùng đồng bằng ngập lụt Brahmaputra và ở vùng đông bắc đồi những con hổ chiếm 4.230 km2 (1.630 sq mi) ở một số khu rừng thưa và phân mảnh;
  • vườn quốc gia Sundarbans, quần thể hổ chiếm khoảng 1.586 km2 (612 sq mi) rừng ngập mặn. Vườn quốc gia này có 180 cá thể hổ Bengal (106 ở Ấn Độ, 74 ở Bangladesh)

Vào tháng 5 năm 2008, các quan chức lâm nghiệp đã phát hiện 14 con hổ trong Vườn Quốc gia Ranthambore của Rajasthan. Vào tháng 6 năm 2008, một con hổ từ Ranthambore đã được di dời đến Khu bảo tồn Hổ Sariska, nơi tất cả các loài hổ đã trở thành nạn nhân của những kẻ săn trộm và xâm lấn của con người kể từ năm 2005.

Tính đến năm 2014, loài hổ trưởng thành và dưới 1 tuổi rưỡi được ước tính là 408 ở Karnataka, 340 ở Uttarakhand, 308 ở Madhya Pradesh, 229 ở Tamil Nadu, 190 ở Maharashtra, 167 ở Assam, 136 ở Kerala và 117 ở Uttar Pradesh.

Bangladesh[sửa | sửa mã nguồn]

Một con hổ ở Bangladesh, 2015

Hổ ở Bangladesh hiện đang giảm trong các khu rừng của SundarbansChittagong. Rừng Chittagong tiếp giáp với môi trường sống của hổ ở Ấn Độ và Myanmar, nhưng dân số của hổ vẫn chưa được biết đến.

Tính đến năm 2004, ước tính dân số hổ ở Bangladesh dao động từ 200 đến 419, chủ yếu ở Sundarbans. Khu vực này là môi trường sống ngập mặn duy nhất trong sinh cảnh này, nơi loài hổ sinh sống, bơi giữa các đảo ở vùng châu thổ để săn mồi. Cục Lâm nghiệp Bangladesh đang trồng rừng ngập mặn cung cấp thức ăn cho hươu đốm. Từ năm 2001, trồng rừng đã tiếp tục trên quy mô nhỏ ở những vùng đất và đảo mới được bồi thường của Sundarbans. Từ tháng 10 năm 2005 đến tháng 1 năm 2007, cuộc khảo sát bẫy máy ảnh đầu tiên được tiến hành trên sáu địa điểm ở Bangladesh Sundarbans để ước tính mật độ dân số của hổ. Trung bình sáu địa điểm này cung cấp ước tính 3,7 con hổ trên 100 km2 (39 dặm vuông). Kể từ khi Sundarbans Bangladesh có diện tích 5.770 km2 (2.230 dặm vuông), suy đoán rằng tổng số hổ chiếm khoảng 200 cá thể. Trong một nghiên cứu khác, phạm vi nhà của hổ cái trưởng thành được ghi nhận từ 12 đến 14 km2 (4,6 và 5,4 dặm vuông), cho biết khả năng mang theo gần 150 con cái trưởng thành. Phạm vi lãnh thổ nhỏ của hổ cái trưởng thành (và mật độ hổ cao) trong loại môi trường sống này so với các khu vực khác có thể liên quan đến mật độ con mồi cao và kích thước nhỏ của hổ Sundarbans.

Từ năm 2007, các cuộc điều tra giám sát hổ được thực hiện hàng năm bởi WildTeam ở Bangladesh Sundarbans để theo dõi những thay đổi trong quần thể hổ Bangladesh và đánh giá tính hiệu quả của các hành động bảo tồn. Cuộc khảo sát này đo lường sự thay đổi tần suất của các bộ theo dõi con hổ dọc theo các mặt của thủy triều như một chỉ số về sự phong phú của hổ tương đối trên toàn cảnh Sundarbans.

Quy mô dân số hổ của Sundarbans thuộc Bangladesh được ước tính là 100–150 con trưởng thành hoặc 335–500 tổng số hổ. Phạm vi hổ cái, được ghi lại bằng cách sử dụng hệ thống Định vị Toàn cầu, là một trong số những con hổ nhỏ nhất được ghi nhận, cho thấy rằng Sundarbans Bangladesh có thể có mật độ cao nhất và số lượng hổ lớn nhất ở bất cứ đâu trên thế giới. Chúng được phân lập từ quần thể hổ tiếp theo với khoảng cách lên đến 300 km (190 mi). Thông tin thiếu nhiều khía cạnh của sinh thái hổ Sundarbans, bao gồm sự phong phú tương đối, tình trạng dân số, động lực không gian, lựa chọn môi trường sống, đặc điểm lịch sử cuộc sống, phân loại, di truyền học và bệnh tật. Cũng không có chương trình giám sát nào để theo dõi những thay đổi trong quần thể hổ theo thời gian, và do đó không có cách nào đo lường phản ứng của người dân đối với các hoạt động bảo tồn hoặc các mối đe dọa. Hầu hết các nghiên cứu đều tập trung vào cuộc xung đột loài hổ ở khu vực này, nhưng hai nghiên cứu ở khu bảo tồn động vật hoang dã Đông Sundarbans đã ghi lại các mô hình sử dụng môi trường sống của hổ và sự phong phú của loài hổ, và một nghiên cứu khác. Một số mối đe dọa lớn đối với hổ đã được xác định. Những con hổ sống ở Sundarbans đang bị đe dọa bởi sự phá hủy môi trường sống, sự cạn kiệt con mồi, cạnh tranh gay gắt và hung dữ trong cuộc xung đột, xung đột loài hổ, và suy giảm số lượng hổ trực tiếp.

Các đe dọa[sửa | sửa mã nguồn]

Mất môi trường sinh sống và săn bắn trái phép là các mối đe dọa lớn nhất đối với sự tồn tại của phân loài hổ này. Những kẻ săn bắn trộm giết hổ để lấy bộ da, răng cũng như các thành phần khác như xương để sản xuất một số thuốc trong y học cổ truyền Đông Á. Các yếu tố khác đóng góp vào sự suy giảm số lượng hổ là quá trình đô thị hóa cũng như việc sát hại hổ để trả thù. Nhiều nông dân quy kết việc gia súc của họ bị mất hay bị giết là do hổ và họ luôn sẵn sàng bắn hạ hổ khi có điều kiện.

Nạn săn trộm[sửa | sửa mã nguồn]

Mối đe dọa trực tiếp quan trọng nhất đối với sự tồn tại của quần thể hổ hoang dã là buôn bán trái phép và săn trộm da và các bộ phận cơ thể giữa Ấn Độ, NepalTrung Quốc. Chính phủ các nước này đã thất bại trong việc thực hiện đáp ứng thực thi đầy đủ, và tội phạm động vật hoang dã vẫn là một ưu tiên thấp về mặt cam kết chính trị và đầu tư trong nhiều năm. Có những nhóm người săn trộm chuyên nghiệp được tổ chức tốt, di chuyển từ nơi này sang nơi khác và dựng trại ở những khu vực dễ bị tổn thương. Da được xử lý thô trong lĩnh vực này và bàn giao cho các đại lý, người gửi chúng để điều trị thêm cho các trung tâm thuộc da Ấn Độ. Người mua chọn da từ các đại lý hoặc thợ thuộc da và buôn lậu chúng thông qua một mạng lưới liên kết phức tạp với các thị trường bên ngoài Ấn Độ, chủ yếu ở Trung Quốc. Các yếu tố khác góp phần vào sự suy giảm số lượng của hổ là do quá trình đô thị hóa và những đợt trả thù của con người đối với những con hổ giết người. Nông dân đổ lỗi cho hổ đã giết gia súc và bắn chúng. Tuy nhiên, phần da và bộ phận cơ thể của chúng có thể trở thành một phần của giao dịch bất hợp pháp. Ở Bangladesh, hổ bị giết bởi những kẻ săn trộm chuyên nghiệp, thợ săn địa phương, bẫy, cướp biển và dân làng. Mỗi nhóm người có động cơ khác nhau để giết hổ, từ lợi nhuận, hứng thú đến mối quan tâm về an toàn. Tất cả các nhóm đều có thể giao dịch vào thương mại trong các bộ phận cơ thể.

Nhu cầu bất hợp pháp về xương và bộ phận cơ thể từ hổ hoang dã để sử dụng trong y học cổ truyền Trung Quốc là lý do cho áp lực săn trộm không ngừng trên hổ ở tiểu lục địa Ấn Độ. Trong ít nhất một nghìn năm, xương hổ đã là một thành phần trong các loại thuốc truyền thống được quy định như một chất tăng cường cơ và điều trị bệnh thấp khớp và đau cơ thể.

Từ năm 1994 đến năm 2009, Hiệp hội bảo vệ động vật hoang dã Ấn Độ đã ghi nhận 893 trường hợp hổ bị giết ở Ấn Độ, đây chỉ là một phần của việc săn bắt và buôn bán thực tế trong các bộ phận của hổ trong những năm đó.

Vào năm 2006, Khu bảo tồn Hổ Sariska của Ấn Độ đã mất tất cả 26 con hổ, chủ yếu là săn trộm. Trong năm 2007, cảnh sát ở Allahabad đã đột kích một cuộc họp của những kẻ săn trộm, thương nhân và giao thông bị nghi ngờ. Một trong những người bị bắt là người mua lớn nhất của các bộ phận hổ ở Ấn Độ đã từng bán chúng cho thị trường dược liệu truyền thống Trung Quốc, sử dụng phụ nữ từ một bộ lạc du mục làm giao dịch. Trong năm 2009, không cá thể nào trong số 24 con hổ sống trong Khu bảo tồn Hổ Panna còn sống vì săn trộm quá mức.

Vào tháng 11 năm 2011, hai con hổ đã được tìm thấy đã chết ở Maharashtra: một con hổ đực bị mắc kẹt và bị giết trong một cái bẫy dây; một con hổ đã chết do điện giật sau khi nhai một dây cáp điện cung cấp điện cho một máy bơm nước; một con hổ khác đã được tìm thấy đã chết trong cảnh quan khu bảo tồn hổ Kanha - ngộ độc được cho là nguyên nhân gây ra cái chết của nó.

Tấn công con người[sửa | sửa mã nguồn]

Người ta ước tính rằng ít nhất đã có 373.000 người bị thiệt mạng do hổ vồ từ giai đoạn năm 1800 đến năm 2009. Phần lớn các cuộc tấn công xảy ra ở Nam Á và Đông Nam Á, ở Đông Nam Á, các cuộc tấn công giảm dần sau khi đạt đỉnh trong thế kỷ XIX, nhưng các cuộc tấn công ở Nam Á (nơi hổ Bengal sinh sống) vẫn ở mức cao, đặc biệt là ở Sundarbans, tại đây hàng năm các con hổ đã vồ và giết chết khoảng 50 đến 250 người. Nếu tính riêng trong một năm cụ thể gần đây, số người bị hổ tấn công tại Sundarbans lên tới 60 người, và chỉ một nửa trong số đó còn sống. Hầu hết người dân ở Sundarbans sinh sống dựa vào khu rừng ngập mặn và con sông bằng cách thu hoạch mật ong rừng và đánh bắt cá. Mặc dù việc này là phạm pháp, nhiều người vẫn đi vào những khu vực cấm để lấy củi và săn thú rừng, và việc này khiến họ thường xuyên phải chạm trán với những con hổ hung dữ. Vào mùa hè năm 2014, 2 nạn nhân đã bị hổ giết hại trong khi đánh bắt cua tại đây. Chỉ tính riêng giữa năm 1876 và năm 1912, những con hổ Bengal giết chết 33.247 người ở Ấn Độ lúc này là thuộc địa của Anh. Những số liệu đó đã khiến cho hổ Bengal được coi là loài hổ giết người ghê rợn nhất.

Tiểu lục địa Ấn Độ đã trải qua một giai đoạn về những cuộc đối đầu dữ dội của con người và hổ. Khu vực có môi trường sống nơi những con hổ đã đạt được mật độ cao nhất cũng là một trong những nơi có mật độ dân số tập trung và mở rộng nhanh nhất. Vào đầu thế kỷ 19 hổ còn rất nhiều, nó dường như là một câu hỏi liệu con người hay con hổ có thể tồn tại hay không. Nó đã trở thành chính sách chính thức để khuyến khích việc giết hổ trong thời gian nhanh nhất có thể, phần thưởng được trả cho sự hủy diệt của chúng ở nhiều địa phương. Các tỉnh đã hỗ trợ số lượng lớn hổ trong vùng ngoại ô Terai, nơi hổ ăn thịt người không phổ biến. Vào nửa sau của thế kỷ 19, những con hổ hoang dã bắt đầu có một cuộc sống gần con người. Những con vật này bị đẩy vào môi trường sống, nơi loài hổ trước đây chưa được biết đến, hoặc nơi chúng chỉ tồn tại ở mật độ rất thấp, bởi một số lượng lớn các loài động vật sống trong môi trường sống chính ở vùng đất thấp, nơi có mật độ con mồi cao. môi trường sống tốt cho sinh sản. Những cá thể phân tán không còn nơi nào khác để đi và buộc phải thích nghi với thực tại. Chúng được cho là đã theo dõi các đàn gia súc của nông dân và tấn công. Những con hổ này đều đã già, còn trẻ và tàn tật. Tất cả đều bị một số khuyết tật, chủ yếu là do các vết thương do đạn bắn hoặc bị lông nhím đâm.

Ở Sundarbans, 10 trong số 13 cá thể ăn thịt người được ghi nhận vào những năm 1970 là giống đực, và chúng chiếm 86% số nạn nhân. Những con hổ ăn thịt này đã được nhóm lại thành những cá thể săn con người như một con mồi; và những cá thể tấn công kiểu cơ hội, những cá thể không tìm kiếm con người nhưng sẽ, nếu chúng gặp phải một người bất kì, sẽ đuổi theo và tấn công, giết và ăn thịt họ. Ở những nơi mà hổ ăn thịt cơ hội được tìm thấy, sự giết hại của con người tương quan với sự sẵn có của chúng, hầu hết các nạn nhân bị tuyên bố trong mùa thu hoạch mật ong. Hổ ở Sunderbans có lẽ đã tấn công con người đã vào vùng lãnh thổ của chúng để tìm kiếm gỗ, mật ong hay cá, khiến chúng đánh thức bản năng bảo vệ lãnh thổ của mình. Số lượng các cuộc tấn công hổ trên con người có thể cao hơn bên ngoài khu vực thích hợp cho hổ, nơi có nhiều con người hiện diện nhưng chứa ít con mồi hoang dã cho hổ. Từ năm 1999 đến năm 2001, sự tập trung cao nhất của các cuộc tấn công của hổ vào người đã xảy ra ở ranh giới phía bắc và phía tây của Sundarbans Bangladesh. Hầu hết mọi người bị tấn công vào buổi sáng trong khi thu thập củi, gỗ, hoặc các nguyên liệu thô khác, hoặc trong khi câu cá.

Ở Nepal, tỷ lệ hổ ăn thịt người chỉ là lẻ tẻ. Trong Vườn quốc gia Chitwan, không có trường hợp nào được ghi nhận trước năm 1980. Trong những năm tiếp theo, 13 người đã bị hổ giết và ăn thịt trong công viên quốc gia và các vùng lân cận của nó. Trong phần lớn các trường hợp, ăn thịt người dường như liên quan đến một cuộc cạnh tranh nội bộ cụ thể giữa những con hổ đực.

Vào tháng 12 năm 2012, một con hổ đã bị bắn bởi Cục Lâm nghiệp Kerala trên một đồn điền cà phê ở rìa của Khu bảo tồn động vật hoang dã Wayanad. Giám đốc động vật hoang dã của Kerala đã ra lệnh săn bắt động vật sau khi các cuộc biểu tình đại chúng nổ ra khi con hổ đã giết hại vật nuôi. Cục Lâm nghiệp đã thành lập một lực lượng đặc nhiệm đặc biệt để bắt thú vật với sự hỗ trợ của một Lực lượng Bảo vệ Hổ Đặc biệt gồm 10 thành viên và hai chú voi được huấn luyện từ Khu bảo tồn Hổ Bandipur ở Karnataka.

Bảo tồn[sửa | sửa mã nguồn]

Hổ Bengal ở công viên hoang dã Indira Gandhi, Visakhapatnam, Andhra Pradesh

Một khu vực quan tâm đặc biệt nằm trong "Terai Arc Landscape" ở chân đồi Himalaya ở phía bắc Ấn Độ và miền nam Nepal, nơi 11 khu bảo tồn bao gồm chân đồi rừng khô và sa mạc cỏ cao trong một phong cảnh 49.000 kilômét vuông (19.000 sq mi). Các mục tiêu là để quản lý hổ như một sự biến đổi duy nhất, sự phân tán giữa các người tị nạn cốt lõi có thể giúp duy trì tính toàn vẹn về di truyền, nhân khẩu học và sinh thái, và để đảm bảo rằng loài và bảo tồn môi trường sống trở thành lồng ghép vào chương trình phát triển nông thôn. Ở Nepal, một mô hình du lịch dựa vào cộng đồng đã được phát triển với sự nhấn mạnh mạnh mẽ vào việc chia sẻ lợi ích với người dân địa phương và tái sinh rừng thoái hóa. Cách tiếp cận này đã thành công trong việc giảm săn trộm, phục hồi môi trường sống và tạo ra một khu vực bầu cử địa phương để bảo tồn.

WWF hợp tác với Leonardo DiCaprio để thành lập một chiến dịch toàn cầu, "Save Tigers Now", với mục tiêu đầy tham vọng xây dựng hỗ trợ chính trị, tài chính và công cộng để tăng gấp đôi số lượng hổ hoang dã vào năm 2022. Save Tigers Bây giờ bắt đầu chiến dịch của mình trong 12 cảnh quan ưu tiên khác nhau của WWF Tiger, kể từ tháng 5 năm 2010.

Thư viện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Chundawat, R. S., Khan, J. A., Mallon, D. P. (2011). “Panthera tigris tigris”. Sách đỏ IUCN các loài bị đe dọa. Phiên bản 2017-3. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế. 
  2. ^ “Most numerous tiger pushed out of its home”. World Wide Fund for Nature. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2007. 
  3. ^ “Báo Giáo dục Việt Nam - Nữ Sinh Trong Mơ Cận cảnh hổ Bengal bắt gà …”. archive.is. Truy cập 6 tháng 10 năm 2015. 
  4. ^ Jim Corbett, Man-eaters of Kumaon, trang 92, Nhà in Đại học Oxford, 1947
  5. ^ “Video: Hổ Bengal săn bò tót Ấn Độ”. Báo Đất Việt. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015. 
  6. ^ “Cá sấu Vua cắn chết một mãnh hổ 8 tuổi ở Ấn Độ Báo Giáo dục Việt Nam”. archive.is. Truy cập 6 tháng 10 năm 2015. 
  7. ^ “Bengal Tiger”. National Geographic. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2007. 
  8. ^ “Sariska awaits a tiger and a tigress”. The Hindu. 28 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2007. 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]