Tục thờ hổ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Con hổ Mike VIlinh vật (vật lấy phước) của Đại học Louisiana (hình trên). Từ hình tượng trong đời thực, loài hổ đã được tôn thờ thông qua hình ảnh trên các công trình tâm linh, tín ngưỡng, tôn giáovăn hóa (hình dưới).
Hổ còn được tôn thờ vì vẻ đẹp uyển chuyển, huyền bí, trầm mặc và sắc màu như tranh vẽ của chúng. Có thể thấy nét đẹp hình thể của chúng qua tạo tác tượng hổ tại một ngôi đền Thần Đạo ở Nhật Bản.
Hổ môn bài, di chỉ thẻ mộc triều Lê vào thế kỷ thứ 17, được trưng bày tại Bảo tàng lịch sử Quốc gia Việt Nam

Tục thờ Hổ hay tín ngưỡng thờ Hổ là sự tôn sùng, thần thánh hóa loài hổ cùng với việc thực hành hoạt động thờ phượng hình tượng con hổ bằng các phương thức khác nhau được phổ biến ở một số quốc gia châu Á, đặc biệt là những quốc gia có hổ sinh sống. Theo quan niệm nhiều nơi ở châu Á, hổ là giống loài dũng mãnh nhất trong muôn thú, là Chúa sơn lâm, là Hùm thiêng ngự trị tối cao trong rừng già, ở các nước phương Đông, hổ còn là một linh vật trong 12 con giáp, tượng trưng cho sức mạnh[1], nó còn là một trong Tứ Thánh thú cai quản Tây phương. Trong quan niệm và tín lý hổ là một tập thành các tín lý đa nghĩa, tùy theo từng khuôn mẫu văn hóa tín ngưỡng khác nhau, nó biểu thị tốt hoặc xấu, thiện hay ác, chính hay tà[2].

Trong nền văn hóa Đông Á, hổ là chúa tể các loài thú thay cho sư tử. Nó biểu trưng cho vua chúa, sự can đảm và phẫn nộ (cuồng nộ), hổ được người ta tôn lên vị trí Chúa tể của rừng núi và coi hổ là con vật linh thiêng[3][4]. Đối với nhiều nước châu ÁChâu lục mà loài hổ phấn bố thì hổ còn là biểu tượng của sức mạnh, uy quyền và tâm linh. Tại đây, hổ được coi là có vị trí thống trị trong giới động vật nên nhân dân ở một số nước phương Đông đã thần thánh hóa loài này với tập tục thờ hổ hay thờ thần hổ đã đi vào tín ngưỡng dân gian của nhiều dân tộc, cộng đồng[5][6], nhất là ở những chốn rừng núi sâu thẳm thì hổ luôn được thờ phụng[7]. Một số dân tộc khác còn tôn thờ hổ như thần giám hộ (như ở Hàn Quốc, hổ đóng vai trò là Thần bảo hộ), thượng đẳng phúc thần, thần hộ mệnh, môn thần.

Tục thờ hổ bắt nguồn từ cuộc sống nguyên thủy, khi con người còn sống trong điều kiện săn bắt, hái lượm hoặc giai đoạn đầu của cuộc sống nông nghiệp thì lúc này hổ chính là sức mạnh thiên nhiên vừa gần gũi và là tai họa đối với con người, chính vì vậy mà con người thờ hổ để cầu an[8]. Ở đây, hổ được con người thờ phụng với vị thế là thần khai tổ, thần giám hộ, thần hộ mệnh, thần hộ môn, thần vệ đạo, với tâm thế này, nó được coi là phúc thần (thần may mắn). Nhưng mặt khác, từ nỗi khiếp sợ, nó cũng được tôn thờ như một ác thú bởi sự phá hoại. Hổ hiện thân và đồng nhất với các thế lực tự nhiên, nhất là chốn rừng thiên nước độc, lam sơn chướng khí, là trở ngại thử thách con người.

Những hình thức thờ phụng loài hổ đa dạng ở các quốc gia, cộng đồng người ở khắp nơi thuộc châu Á và gắn liền với truyền thống văn hóa của từng vùng miền, những dân tộc theo tín ngưỡng bái vật giáo (Totem giáo) thì tôn thờ hổ như tổ tiên của tộc người mình, ở những nơi thịnh hành Shaman giáo thì hổ mang tính chất thánh thiêng và hòa trộn trong các nghi lễ thần bí. Trong khi nhiều nơi khác hổ được thờ phụng trong những không gian vật thể tín ngưỡng như đình, đền, miếu, chùa, ban thờ thông qua những nghi thức cúng tế, tranh thờ, tượng thờ và mỹ thuật tâm linh. Những biểu hiện khác như việc xem cơ thể của hổ (nanhvuốt) như những bùa hộ mệnh một cách mê tín. Nhưng nhìn chung, dù ở vùng đất nào, cộng đồng nào thì loài hổ cũng ngự trị với một vị thế tâm linh khả kính và hằn sâu trong tâm thức văn hóa.

Khái yếu[sửa | sửa mã nguồn]

Con hổ được tôn thờ và kính trọng vì sức mạnh và những phẩm chất tự nhiên của mình

Trong tự nhiên, hổ là loài mèo lớnđộng vật ăn thịt đầu bảng hung hãn, dũng mãnh, can trường, hiên ngang, từ những đặc chất ấy mà hổ trở thành biểu tượng của sự hùng cường, có sức mạnh vô song, nhắc đến hổ người ta liên tưởng ra loài thú dữ ăn thịt sống, con người, muông thú khi nghe thấy tiếng gầm của hổ là hoảng loạn, nháo nhác tìm nơi trú ẩn[9]. Hình tượng hổ bên cạnh sự quyền uy còn đáng nể, cùng với nhận thức về mỹ thuật và nghệ thuật (vẻ đẹp uyển chuyển, tiềm ẩn nội lực) khiến nó có những phẩm chất để trở thành một linh vật của tôn giáo, tín ngưỡng và được thờ phụng nghiêm cẩn.

Nếu như người châu Âu cho rằng sư tử là vua của muôn loài cầm thú vì trong tâm thức người Âu Mỹ, sư tử ảnh hưởng sâu đậm về văn hóa và biểu tượng, thì trong quan niệm người châu Á, hổ mới là chúa tể của rừng xanh, con người đối mặt với hổ, nghĩa là đối mặt với tử thần, diệt được một con hổ coi như lập được chiến công to lớn, trừ được hiểm họa cho cộng đồng. Từng một thời, con người đành bất lực trước oai quyền của hổ, đưa nó trở thành linh vật được đưa vào các gian thờ, người đời xưa cho tới đời nay, khi thờ hổ, họ đều cảm nhận được sự an toàn bởi được che chở theo quan niệm tâm linh.

Trái ngược với quan niệm của phương Tây, quan niệm dân gian Việt Nam cùg với quan niệm của một số cộng đồng cư dân vùng Đông Á, Bắc Á, Nam ÁĐông Nam Á thì từ trước đến nay luôn xem hổ tượng trưng cho sức mạnh, người dân đã thần thánh hóa hổ, cho nó một sức mạnh thiêng liêng diệt trừ được ma quỷ. Có hình hổ trấn giữ ở ngưỡng cửatà ma không dám xâm nhập, hình tượng hổ trở thành phổ biến trong nghệ thuật dân gian Việt Nam, được vẽ thành tranh để thờ cúng ở các đền, điện, coi như “thần tướng gác đền”, được khách đi lễ thắp hương, khấn vái[10]. Dù là con vật hoang, rất ít khi được thuần phục nhưng hổ đã có sự gắn bó chặt chẽ với cuộc sống của người dân, trong đời sống thường nhật và tôn giáo. Nó không chỉ là biểu tượng của sức mạnh mà còn mang quyền uy chi phối hung dữ của kẻ anh hùng[11]

Hổ là loài thú lớn đầy sức mạnh và có vị trí thống trị trong giới động vật, nên nhân dân ở một số nước phương Đông đã thần thánh hóa loài này. Ở Trung Quốc, hổ là biểu tượng của sự dũng mãnh và hoa văn trên trán hổ có hình chữ Vương (王), ngụ ý hổ sinh ra đã có sứ mạng là vị vua của muôn thú. Hổ còn là con vật thượng thủ đối với muôn thú trên cạn, ngược lại, ở thủy giới, rồng chiếm vị trí tối cao này, hổ là con vật có thực được sánh với rồng là một sinh vật truyền thuyết. Trong Đạo giáophong thủy thông qua hình tượng Âm-Dương, hổ đối lập với rồng và góp phần kiềm chế rồng, sự tranh đấu giữa rồng và hổ biểu thị cho lời cầu mong âm-dương giao hòa, điềm cát tường: mưa thuận gió hòa, mọi việc phát triển[2].

Tượng thờ hổ ở Cao Hùng, Đài Loan

Hổ là con thú dũng mãnh nên luôn gợi lên ý tưởng về sức mạnh và tính hung dữ. Điều này không chỉ hàm chứa duy nhất các biểu thị tiêu cực mà ngược lại, nó được sử dụng như một biểu trưng của thế lực tốt, chống lại thế lực xấu, thế lực tà mị, bằng cách lôi kéo nó về mình, hoặc đồng nhất mình với hổ. Trong quan niệm của người phương Đông, hổ là một con vật linh thiêng, thuộc sứ giả của nhà trời xuống hạ giới ban phúc cho người lành, giáng họa cho kẻ ác, hướng con người đi đến chân, thiện, mỹ. Sự tích thờ thần hổ rất đa dạng mỗi vùng, mỗi dân tộc có sự tích thần hổ khác nhau, nhưng chung quy đều thể hiện con hổ có chức năng trừ tà ma, biểu thị cho quyền uy và sức mạnh và được sùng bái.

Nói chung, là con vật dũng mãnh nhất trong các loài thú, hổ trở thành một tập thành các tín lý đa nghĩa. Tùy theo từng khuôn mẫu văn hóatín ngưỡng khác nhau, nó biểu thị tốt hay xấu, tích cực hay tiêu cực[2]. Ở Ấn Độ, hổ được coi là loại phù thủy ác độc, trong sử thi Mahabharata, hổ được coi là hung bạo và tàn nhẫn hơn sư tử[12], trong khi đó ở Indonesia, Mã Lai, trong chừng mực nào đó, hổ được coi là nhân từ, ở Việt Nam có tồn tại hai luồng quan điểm trái ngược về hổ, thái độ của người dân đối với cọp vừa kính nể, coi như vị thần nhưng cũng coi thường, nếu cần thì rủ nhau đi săn bắt, giết không nương tay, nhưng quan niệm tôn trọng, sùng bái hổ thường thắng thế[13].

Đối với Phật giáo, hổ (Phạn văn: Vyaghra) dụ cho vô thường đáng lo sợ. Theo Luận Đại trí độ: “Trí vô lậu thường quán xét biết rõ tất cả pháp đều vô thường nên không sanh các kiết sử như ái” (dịch nghĩa: giống như gần hổ, tuy được ăn cỏ xanh tươi, uống nước trong mà không thể mập được. Các bậc thánh, tuy được thọ an lạc vô lậu, nhờ quán không, vô thường nên không sanh nhiễm trước). Trong Phật giáo, hổ tượng trưng cho sức mạnh đức tin, của nỗ lực tinh thần, vượt qua rừng rậm tội lỗi, được biểu thị bằng rừng tre[2]. Trong Phật giáo Ấn Độ, hổ cùng với khỉhươu cũng là một trong ba linh vật tượng trưng cho tham-sân-si[14], nó biểu tượng cho sức mạnh của niềm tin, sự chiến thắng mọi trở ngại trên con đường tu chứng, sự tượng trưng cho sự diệt trừ được tham, sân, si và ác nghiệp, tu thành quả Phật của con người.

Với tính cách đại diện cho thế lực hung dữ trong tự nhiên và thời kỳ thô sơ, con người trở nên bất lực trước sự hoành hành của loài hổ, do đó, một giải pháp mang tính tâm linh, tín ngưỡng của con người là đồng nhất với hổ hoặc lôi kéo hổ về phía mình (cầu thân với hổ) như là một sự thỏa hiệp trong tâm tưởng để mong hổ không làm hại đến mình và còn phù hộ cho mình. Việc đồng nhất, lôi kéo hổ về phía con người thể hiện qua một số khía cạnh:

Hổ được con người đồng nhất, lôi kéo về phía mình bằng các hình thức tâm linh
  • Tôn sùng và xem hổ như là tổ tiên, bậc khai tổ của dân tộc mình, con người là hậu duệ trực tiếp của loài hổ và luôn nhắc nhở phải tôn trọng, không làm hại, hay bất kính đến loài hổ. Điều này dẫn đến tục thờ hổ như một vị tổ thần và được thờ độc tôn (thờ chánh). Như vậy, hổ còn là ông tổ của một số thị tộc[15], điều này được thấy rõ qua hình thức bái vật tổ của các dân tộc ở vùng Tây Bá Lợi Á, ở Trung Quốc, cũng như một số dòng họ ở Trung Quốc, Việt Nam.
  • Xem hổ là người đồng hành với con người như hổ là vật cưỡi của các bậc thánh thần, hổ là đồng minh, chiến hữu trong cuộc chiến chống lại các thế lực khác. Trường hợp này hổ đóng vai trò phụng sự thánh thần, được thờ cùng với những thân thánh, tiền nhân và nó cũng được linh thiêng, thần thánh hóa để thờ phụng. Với phương vị này, hổ còn được xem như hộ môn thần và được thờ trong các đình, đền, chùa và đi vào điêu khắc, hội họa, kiến trúc dân gian.
  • Xem hổ như là một thành viên trong cộng đồng dân cư, một người bạn hữu, tiêu biểu như những câu chuyện về Hổ huynh (người anh em hổ) ở Hàn Quốc, xem hổ là thành viên trong gia đình, con người nhận nuôi hổ, hổ nuôi con người, hổ kết bạn với con người (một số sự tích hay câu chuyện ở Việt Nam, ở miền Nam, vị trí "anh Cả" dành cho hổ, người con đầu gọi là anh Hai). Trong mối quan hệ này hổ trở nên thân thiết với con người. Với người Thái, khi được nghe tiếng hổ gầm vang trên đồi cao là niềm hân hoan, sảng khoái nhất của bản mường[16] Tại Thái Lan người ta còn xây Chùa Hổ, nơi đây không phải thờ thần hổ mà là nơi chăm sóc, nuôi nâng những con hổ, đọc kinh cho chúng [17].
  • Đề cao mối quan hệ của hổ với con người thông qua các sự tích như “nghĩa hổ” (con hổ có nghĩa), hổ trả ơn khi người giúp đỡ hoặc tha mạng cho hổ, hổ nuôi con người, hổ cứu giúp con người khỏi ác thú hoặc những con hổ khác, hổ là thầy dạy cho con người (thực tế hổ là biểu tượng cho võ công và con người học được từ hổ những động tác chiến đấu và nâng tầm thành những môn võ có nguồn gốc từ hổ), một điển hình là nhiều truyện kể dân gian, cọp đóng vai thần cứu tinh, trợ giúp thần kỳ như trong Tống Trân-Cúc Hoa, Thoại Khanh-Châu Tuấn được truyền tụng trong giới người Kinh lẫn người Thượng phía Bắc. Ở Việt Nam còn có những câu chuyện về con hổ có tình nghĩa, giúp đỡ con người và khi chết được lập miếu thờ.

Cùng với thời gian, sự phát triển của đời sống và tôn giáo, con hổ đã trở thành một linh thú mang rất nhiều nét tính cách của xã hội Nam Á, có nhiều lý do khiến cư dân Nam Á trân trọng hổ. Hình ảnh con hổ trong đời sống người Nam Á ăn rất sâu, chiếm lĩnh một khoảng lớn. Hổ hiện thân với tư cách là con vật của tôn giáo và thống lĩnh. Không chỉ ở phương Đông, rất nhiều nơi trên thế giới có đại hội sơn lâm. Với tư cách là chúa tể, nó đóng vai trò của quyền uy thống trị, có vai trò điều phối, chia khu vực sơn lâm cho các dã thú khác, đó là vai trò anh hùng. Cho đến nay, vùng văn hóa Đông Á rất chuộng hổ, ngày Tết thích treo tranh hổ, không chỉ để biểu tượng cá tính. Hình tượng hổ còn mang chủ nghĩa nhân đạo, quyền uy, ngay ngắn và đáng nể và trở thành một linh vật của tôn giáo. Đặc tính con giáp của hổ trong vai trò của 12 con giáp, hổ đứng ở phương Đông, cung Dần, góc vuông thứ nhất theo toán học tử vi, gắn với Nam Á nên ở vùng này có rất nhiều dân tộc tôn sùng hổ[11].

Vị thế tâm linh[sửa | sửa mã nguồn]

Để được tôn sùng và thờ phượng ở nhiều nơi với vị trí trang trọng và cao nhất trong giới động vật, hổ chiếm những vị trí và hình ảnh trong tâm linh, tín niệm của nhiều người. Nhiều dân tộc tôn sùng hổ vì xem hổ là thần khai tổ của mình, nhiều cộng đồng dân cư thờ hổ như một vị thần cai quản, một số tôn giáo xem hổ như vị hộ pháp, vệ đạo, bên cạnh đó, nhiều cư dân vì kinh sợ trước sự phá hoại của hổ mà tôn thờ như một niềm trấn an tâm linh mong được bình an.

Thần khai tổ[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời kỳ sơ khai, con người bất lực trước nhiều hiện tượng tự nhiên và đành lý giải trong trí tưởng tượng. Cách giải thích nguyên sơ cho rằng, con người được sinh ra từ một loài động vật nào đó, tôn sùng và coi là vật tổ đã được toàn thể cộng đồng chấp nhận[9]. Trong tín ngưỡng dân gian của nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ, xu hướng đồng nhất mình với hổ phổ biến với các mức độ khác nhau, cụ thể là có nhiều dân tộc, bộ tộc, thị tộc coi hổ là tổ tiên (ông tổ, tổ phụ) của tộc người mình, bản thân người dân trong tộc chính là hậu duệ của loài hổ, trường hợp này hổ hiện thân là thần khai tổ, là tổ phụ, thần hộ mệnh cho con người. Điều này được thể hiện khá rõ đối với các dân tộc sinh sống ở vùng Tây Bá Lợi Á nơi thuyết vật linh (Totem) và Saman giáo rất thịnh hành, ở nơi đây hổ đã để lại những dấu ấn đối với các dân tộc tại vùng Tây Bá Lợi Á vùng đất nơi cư ngụ của giống hổ Mãn Châu.

Hổ Mãn Châu được nhiều dân tộc vùng Tây Bá Lợi Á tôn sùng là ông tổ của bộ tộcthị tộc mình (Amba), do đó họ tôn thờ, kính trọng Hổ như tổ tiên
  • lưu vực sông Amur có nhiều bộ lạc cho mình xuất thân từ hổ hay từ gấu, bởi thủy tổ của họ đã nằm mơ từng có quan hệ tình dục với những con vật này[18].
  • Người Oroqen (Ngạc Luân Xuân tộc) có một sự tôn kính đặc biệt đối với động vật, đặc biệt là gấu và hổ, mà họ coi như là anh em ruột của họ. Con hổ này được biết đến với họ như Wutaqi có nghĩa là "ông già" hay "lão phu", trong khi gấu được gọi là Amaha có nghĩa là "bác". Việc thờ cúng tổ tiên vẫn được thi hành đều đặn cho đến ngày nay, dân tộc này tin vào thuyết vạn vật hữu linh (thuyết vật linh).
  • Truyền thống của dân tộc A Khắc Đằng Bộ (Askay) cũng như dân tộc Hách Triết (tức Người Nanai) đều cho rằng: Khai tổ của họ là do một người con gái đã kết hôn với hổ rồi sinh ra, cho nên họ phải thờ cúng hổ, tôn sùng hổ như là một vị thần tối cao, mà không được săn bắt hổ lấy thịt, lấy da như các dân tộc khác[19]. Người Udege và người Nanai gọi hổ Mãn Châu bằng tên gọi Amba với ý nghĩa sùng kính cùng với gấu (Doonta)[20]
  • Người Tungus, một dân tộc ở vùng Tây Bá Lợi Á gọi giống hổ Mãn Châu bằng tên gọi Amba với ý nghĩa tôn xưng là Ông hay Ông già. Người Tungus còn coi hổ Siberia là vị thần gần gũi và luôn cho rằng hổ là “Tổ phụ”, ông cha của mình hay còn gọi là “lão phu”.
  • Người Mãn Châu gọi tên hổ với ý nghĩa là vua (Hulin: tức Hổ linh hay Linh Hổ), và coi bộ tộc mình mạnh mẽ như hổ[20].
  • Đối với người Ghiliak (hay người Nivkh) thì hổ với cuộc sống và tập tính của nó, là một con người đích thực, chỉ tạm thời khoác hình dáng hổ mà thôi[21].

Nhiều dân tộc ở vùng Hồ Nam, Hồ Bắc, Tứ Xuyên cũng có những truyền thuyết về vị thần khai tổ hổ và tinh quân Bạch Hổ thần linh đã kết duyên với người và sinh ra bảy dòng họ lớn như họ Vương, họ Bành, họ Dương, họ Điền, họ Đàm, họ Trướng, họ Nhiễm[19]. Nhiều dân tộc ở vùng Vân Nam cũng có tục sùng bái và thờ cúng hổ vì họ có nhiều truyền thuyết về người kết hôn với hổ sinh ra hậu thế là các dân tộc và dòng họ, họ tôn sùng hổ là tổ tiên và tự xem mình là con cháu, là hậu duệ của hổ[19]. Người Thổ Gia (Tất Tư Ca) ở Dãy núi Vũ Lăng, trên ranh giới giữa 4 tỉnh thành là Hồ Bắc, Hồ Nam, Quý ChâuTrùng Khánh cũng tôn thờ hổ, hầu hết người Thổ Gia tôn thờ vật tổ Bạch Hổ (tuy nhiên người Thổ Gia ở phía tây Hồ Nam thì lại tôn thờ vật tổ là rùa).

Hổ được người Mã Lai xưng bằng bác (Pak) hay chú, ngụ ý có quan hệ họ hàng

Mã Lai, có tồn tại phân loài hổ Mã Lai, ở đây hổ cũng được người Mã Lai gọi là Pak Belang có nghĩa là Chú có sọc hay Bác có sọc ngụ ý có quan hệ họ hàng với con người, những vị thầy lang có phép biến hóa thành hổ gợi nhắc đến chi tiết nhiều sắc dân ở vùng Đông Nam Á, con hổ được hình dung tổ phụ huyền thoại, được xem như thầy truyền pháp vì chính hổ dẫn dắt các tín đồ mới vào rừng để truyền phép cho họ, thực tế là để giết họ và làm họ sống lại.

Người Campuchia coi hổ là kết hợp đầu vua thân hoàng hậu và bốn chân là các quan tứ trụ trong triều đình, như vậy hổ chính là thú trong lốt người. Trong Thiên Phù Tam Ấn của Thần thoại Triều Tiên có hình chim có cái cánh cụt, mà ngày nay được xem là biểu tượng cho một thị tộc thờ hổ, thường tranh đấu vì sức mạnh, và con gấu tượng trưng cho một bộ tộc văn minh và hiền hơn, từ đó, Đông Uế một quốc gia cổ trên bán đảo Triều Tiên, người dân thường thờ phụng con hổ như một vị thần.

Một vài dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay như họ Hoàng, Lường, Lộc của người Thái coi hổ là vật tổ. Bên cạnh đó, thờ hổ cũng là vật tổ của một số dân tộc như: người Khơmú (Tây Bắc, miền tây Nghệ An họ cho rằng tộc người của mình thuộc họ Rvai, tức là họ Hổ), người Tà Ôi (vùng núi phía tây miền Trung thờ Giàng Avó, tức là Giàng Hổ), người Co ở huyện Trà Bồng, Quảng Ngãi cũng thờ hổ như tổ tiên. Người La Hủ ở Việt Nam cũng tự đặt tên cho sắc dân mình gắn với con hổ, theo đó "La" là con hổ, "Hủ" là con sóc, "La Hủ" nghĩa là mạnh như con hổ, khéo léo và nhanh như con sóc, phần nào giải thích nguồn gốc của tộc họ.

Việt Nam còn có truyền thuyết, vị tướng họ Hùng có công đánh đuổi giặc Ân do bà mẹ hổ sinh ra (ngày nay đền Trình ở thắng cảnh Hương Sơn thuộc Mĩ Đức, Hà Nội còn thờ vị thần hổ này và được hương khói khắp bốn mùa)[15]. Tương truyền Lang Công hay Nguyễn Danh Lang (阮名俍) do bà Trần Thị ra sông Kim Ngưu tắm rồi ngủ và nằm mộng thấy từ trên trời một con hổ vàng giáng xuống nằm cạnh bên trái mình. Bà trở về nhà và có mang, đến ngày 9 tháng 3 năm Nhâm Thân bà sinh hạ được một con trai, vì chiêm bao thấy hổ nên sau bách nhật đặt tên Danh Lang. Tương truyền, tướng Phạm Bạch Hổ (Phạm Thòng Át) được sinh ra từ một giấc mơ về hổ, ở Trang Ngọc Đường, phủ Khoái Châu có một người hiền nữ nằm mơ thấy Sơn Tinh và hổ trắng mang thai rồi sinh một người con trai đặt tên là Phạm Bạch Hổ[22][23].

Thần cai quản[sửa | sửa mã nguồn]

Hổ là vị Chúa sơn lâm, ngự trị và cải quản cả núi rừng. Thực tế, hổ đóng vai trò là loài bảo trợ đối với hệ sinh thái, duy trì sự cân bằng sinh thái tự nhiên

Được xem là con vật mạnh nhất trong núi rừng, hổ được tôn xưng là Chúa sơn lâm và cai quản cả khu vực chúng sinh sống ("rừng nào cọp nấy", "một núi không có hai hổ"), người ta còn thần thánh hóa loài hổ như một sinh vật huyền thoại có thể sánh với rồng, và từ một vị vua của chốn sơn tràng, nó còn là khoác lên mình thần thoại vũ trụ. Ở phương vị này, hổ là một vị thần cai quản hay thần giám hộ, sơn thần có năng lực trấn yểm và hiển linh. Từ việc tôn sùng hổ, một số dân tộc đã coi hổ là vị thần may mắn, là phúc thần, đem lại bình an cho cuộc sống, từ đó, con người đã thần thánh hóa vai trò của hổ để tạo biểu tượng sức mạnh cho cộng đồng.

Điều này xuất phát một phần từ vai trò thực tế của loài hổ trong hệ sinh thái. Ở hệ sinh thái nơi có hổ, chúng là động vật ăn thịt đầu bảng và đứng đầu chuỗi thức ăn trong quần thể động vật, nó đóng vai trò là loài chủ chốt (Key spcies), đặc biệt giữ vị trí như là loài bảo trợ (Umberela spcies) bằng sự hiện diện của hổ giúp cho hệ sinh thái được cân bằng thông qua việc kiểm soát số lượng các loài ăn cỏ theo cơ chế thiên địch, không để chúng trở thành loài gây hại khi số lượng chúng quá lớn (nhất là lợn rừng), hổ còn kiềm chế sự phát triển quá mức của các động vật ăn thịt hung dữ khác như chó sói, báo, gấu, cá sấu thông qua việc cạnh tranh sinh tồn.

Điều này gián tiếp con người có thể được hưởng lợi. Trong cuốn sách viết về các nghi lễ có từ khoảng 2.000 năm trước ở Trung Hoa có viết Hổ là loài vật có ích cho con người vì chúng ăn thịt những con lợn lòi đến phá hoại mùa màng, như vậy, hổ được coi là con vật có ích[24] và thay vì phải sợ rất nhiều thú dữ, con người chỉ e sợ hổ và đối phó với hổ, còn hổ sẽ đối phó với các dã thú khác. Đối với người dân Cần Thơ thì cọp, đặc biệt là cọp bạch, không phải là con vật gây hại mà trái lại cọp giúp người bảo vệ mùa màng, giữ gìn cuộc sống bình an cho con người.

Người xưa tin rằng trong 7 ngày tết, Thần Bạch Hổ hiển linh để bảo vệ dân làng, giữ gìn bờ cõi, không cho heo, nai phá hoại mùa màng. Nhớ ơn ân huệ ấy, dân làng thường cất miễu sơn quân thờ thần Bạch Hổ[25]. Nhiều phong tục sùng bái và thờ cúng hổ của các dân tộc châu Á thường được tổ chức vào lúc nông nhàn trong năm hoặc sau khi thu hoạch mùa màng thể hiện được đời sống tinh thần phong phú và phản ánh mong muốn, ước vọng về một cuộc sống yên bình, có sự che chở, bảo hộ của một loài vật dữ tợn có sức mạnh phi phàm[19]. Đây là tín lý có từ xa xưa và cũng là một tập tục tồn tại ở nhiều vùng miền cho đến tận ngày nay.

Một phương[sửa | sửa mã nguồn]

Hổ được mệnh danh là chúa sơn lâm, là vua của muôn loài, có sức mạnh và uy lực lớn lao. Hổ là loài vật trong trong tứ thánh thú (hay còn được gọi là tứ tượng, tứ linh) thuộc hệ thống vật biểu theo Ngũ hành, theo đó, mỗi thánh thú cai quản một phương (hợp lại thành tứ phương thần) và tượng trưng cho một mùa, Đạo giáo thường dùng 4 thần này làm thần hộ vệ để tăng thêm oai nghi, trong đó hổ trấn giữ phương Tây và tượng trưng cho mùa thu và thuộc hành Kim, từ ý niệm này hổ được dân gian tôn là linh vật. Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam con Hổ được gắn với tục thờ Mẫu, tại đây, Hổ chiếm toàn bộ vũ trụ, chế ngự Năm phương, được gọi là ngũ hổ, ngũ dinh.

Hổ trắng là một sinh vật có thực nhưng chúng được hình tượng hóa thành biểu tượng Bạch hổ trong Tứ Thánh thú có năng lực trấn giữ một phương (Tây phương), cai quản một mùa (mùa thu).

Bạch Hổ (tiếng Trung: 白虎; bính âm: Bái Hǔ) là một trong Tứ tượng của Thiên văn học Trung Quốc, và cũng là một khái niệm rộng trong phong thủy, thuyết âm dương, triết học. Bạch Hổ là linh vật thiêng liêng có tượng là hình con hổ (虎), có màu trắng (bạch/ 白) là màu của hành Kim ở phương Tây, do đó tương ứng với mùa thu. Hổ trắng là linh vật giám hộ hướng tây, là con vật linh thiêng, đầy uy quyền và thường được thờ phụng. Hổ bảo vệ cho gia chủ, đảm bảo cho tiền tài, sức khỏe và sự sinh sôi nảy nở của các thế hệ sau. Trong khi thờ, nếu đặt đồ điện bên phải bàn thờ thì sẽ phạm vào sát khí của Bạch Hổ, dễ dẫn đến những chuyện không may sẽ xảy ra[26]

Bạch hổ là một trong tứ linh của Trung Hoa và được biết đến với tên gọi Bạch hổ Tây phương (西方白虎) đại diện cho hướng Tây và mùa Thu. Hổ trắng tuy là loài động vật có thật nhưng lại được xem là vật biểu mang tính ước lệ. Hổ (bạch hổ) đại diện cho quyền lực và thần linh ở phương Tây[27] và là vị thần chủ quản phương Tây. Trong thần thoại cổ đại Trung Hoa, tức chòm "thất tinh" (Khuê, Lâu, Vị, Mão, Chủy, Sâm, Tất) cấu thành hình con hổ trên bầu trời phía Tây, hổ ở phương Tây ứng với hành kim nên có màu trắng tức Bạch hổ. Về sau Tứ phương thần được nhân cách hóa thì Bạch hổ được gọi là "Giám danh thần quân" hay Bạch hổ thần quân. Chức trách của Bạch hổ cùng với canh gác các sơn môn đạo quán như Hộ pháp của chùa[28].

Theo tín ngưỡng dân gian thì hổ tượng trưng cho vị thần bảo vệ, trấn giữ các phương chống lại tà ma, đảm bảo cho cuộc sống phát triển. Theo quan niệm dân gian Á Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, hổ là hình ảnh uy nghi, đầy ấn tượng, hổ tượng trưng cho sức mạnh và dân gian cũng đã thần thánh hóa hổ, cho hổ sứ mạng thiêng liêng có khả năng diệt trừ được ma qủy. Có hình hổ trấn giữ ở cửa thì tà ma không dám thâm nhập. Đạo mẫu đã lấy con hổ làm biểu tượng cho quyền uy. Ngũ hổ là chủ thể quyền uy 5 phương, có một sức mạnh lớn và nhờ sức mạnh có tính chi phối đó, vạn vật có trật tự. Người ta thờ Ngũ hổ để tượng trưng cho 5 phương. Tất cả đều mang ý nghĩa cầu mưa và cầu cho mọi sự sinh sôi, phát triển.

Tượng hổ còn sử dụng trong phong thủy, đại diện cho quyền lực và cầu thăng tiến

Ở góc độ phong thủy, tượng hổ mạ vàng được coi là đại diện cho quyền lực do Hổ là con vật linh thiêng và đầy uy quyền thường được thờ phụng, đại diện cho chư vị tướng quân chuyên phù trợ chính pháp và từ đó nó là biểu tượng cho quyền lực, cho công danh và sự tăng tiến trong kinh doanh, Là pháp khí của công danh, tài lộc và quyền lực,chống lại tiểu nhân. Hổ dùng tiếp khí cho các cát tinh Lục Bạch, Bát Bạch và cũng có thể bổ trợ cho bản mệnh người tuổi Dần và cũng có thể dùng để trấn yểm khi nhà bị phạm vào cấm kỵ hoặc bị Sát tinh chiếu hướng do vậy tượng hổ mạ vàng được đặt ở nơi phòng khách, trên bàn làm việc. Trong nhân tướng học, hổ là con vật linh thiêng và đầy uy quyền thường được thờ phụng, chính vì thế nó là biểu tượng cho quyền lực, cho công danh học hành và sự tăng tiến trong kinh doanh.

Khi giành được giang san, nhà Nguyễn lựa chọn việc đặt kinh đô. Và nhà Nguyễn đã chọn Kinh thành Huế với địa thế Tả Thanh long, Hữu Bạch hổ. Thanh long, Bạch hổ là hai trong bốn thánh thú hợp thành tứ tượng hay tứ thánh thú. Bạch Hổ còn được xem là linh vật thiêng liêng thuộc về hành Kim ở phía Tây, tương ứng với mùa thu. Từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hóa, đã có tám lần các chúa Nguyễn thiên di thủ phủ rồi cuối cùng trở về lại Phú Xuân. Tương truyền, khi cầu Bạch Hổ (lúc đó chưa được đặt tên) đang được xây cất, có một con hổ trắng đến ngồi ở giữa cầu khiến mọi người đều hoảng hốt bỏ chạy. Cũng chính vì thế mà cây cầu này được gọi là cầu Bạch Hổ trong tư tưởng phong thuỷ của các nhà địa lý thì nó được xem như Bạch Hổ chầu bên hữu của Kinh thành[29].

Một vùng[sửa | sửa mã nguồn]

Những con hươu đang hoảng hốt khi đánh hơi thấy hổ, sự xuất hiện của hổ tạo không khí ngột ngạt, gây ra nỗi sự căng thẳng và cảnh giác cho các loài
Hổ còn là nỗi khiếp sợ của cư dân miền sơn cước khi vào rừng khai thác sản vật tự nhiên

Hổ từ lâu đã được người dân Việt Nam xem là chúa tể của núi rừng, với sức mạnh vô biên kết hợp hài hòa với vẻ đẹp hình thể uyển chuyển và sự mềm mại, khéo léo. Chính vì vậy người dân vẫn gọi loại vật này bằng những đại từ nhân xưng thể hiện sự kính trọng: “Ngài”, “Ông” hay “Cậu[30]. Việc thờ thần Hổ cũng dựa trên truyền thuyết dân gian rằng ở mỗi cụm rừng đều có một vị chúa tể chốn sơn lâm, được coi là thần Hổ. Vị thần Hổ này thống lĩnh các loài thú trong rừng, góp phần giúp đỡ và bảo vệ mùa màng cho dân làng có được cuộc sống được ấm no hạnh phúc, nhà nhà yên ổn người người an vui (hổ cứ sơn lâm phù xã tắc) và cũng còn có chức năng hộ vệ cho vị Thành hoàng Bổn cảnh[31].

Hổ được coi là vị chúa sơn lâm và được thờ phụng ở các miền sơn cước, núi rừng, nhất là ở những chốn rừng núi sâu thẳm thì hổ luôn được thờ phụng[7]. Người Hàn Quốc có bức họa thần núi (Sansindo) vẽ cảnh thần núi ngồi tựa hổ hay cưỡi trên lưng hổ và một số bức tranh, con hổ chính là Thần núi trong quan niệm của người tạo tác. Ở Việt Nam, trong dân gian, nhất là ở những miền đồi núi, sơn cước, hổ chính và vì vua của muôn thú, là vị chúa trong khu rừng nơi chúng sinh sống, người ta thường lập bàn thờ, miếu thờ hổ ở khắp nơi, có thể ghi nhận như ở vùng rừng núi Bắc Bộ, miền Trung và đặc biệt là những vùng sông nước miền Tây nơi còn ghi dấu nhiều truyền thuyết, những câu chuyện dân gian về loài hổ trong quá trình khai hoang mở cõi khi Nam tiến.

Từ buổi đầu khai hoang ở miền Nam, sự tương quan giữ con người và tự nhiên hay là giữa người và cọp còn phức tạp, những lưu dân một mặt sợ cọp và mặt khác là phải diệt cọp để chiếm đất vì "rừng nào cọp nấy" làm chủ, do đó trong tâm thức sự mâu thuẫn giữa đòi hỏi tất yếu của lịch sử và khả năng thực tế. Cụ thể là, do sợ cọp mà họ lập miếu thờ "Sơn quân chi thần", thờ "Chúa xứ sơn lâm", thờ "thần Hổ" và bầu cọp là Hương Cả của thôn làng. Do vậy, motif Ông Cả Cọp là một mẫu để dân gian được hình thành từ tâm thức tôn trọng luật lệ đã có từ trước.

Hình tượng Ông Cọp vàng thấy ở các bình phong đình làng đặc biệt phổ biến ở Nam bộ, tục gọi là “Bia Ông Hổ”. Ông Cọp vàng này vừa có chức năng trấn giữ nhưng sau này còn coi là Thần Đất (Thổ) và có nơi là Thần Núi (Sơn Quân) bởi ở đây được dùng làm nơi cúng Thần Nông trong lễ Khai hạ (động đất) hay Khai sơn (Mở cửa rừng) hàng năm vào ngày Mồng 3 hoặc Mồng 7 Tết, việc tùng tiệm như vậy không diễn ra ở các đình làng có đàn Thần Nông và miếu Sơn Quân[19].

Ở vùng rừng núi Thất Sơn, An Giang, có chuyện một con cọp trắng bị hóc xương khỏi bệnh, được ông Tăng chủ cứu và trả ơn, sau khi nó chết ông Tăng chủ cất một cái miếu nhỏ tại đình làng gần chùa Thới Sơn để thờ, và cho biết cọp bạch là Sơn quân, người cai quản núi rừng. Chính vì vậy mà ngày xưa trong vùng này, các đình làng thường có ngôi miếu thờ Sơn quân có hình tượng con cọp bạch, người dân cũng lập một ngôi miếu thờ gần chùa Trại Ruộng (xã Thới Sơn, Tịnh Biên).

An Giang có thờ Sơn quân cũng bắt nguồn từ câu chuyện “ông” Hổ Bạch và Hổ Mun giao chiến, sau trận ác chiến ông Bạch thắng, nghiễm nhiên trở thành chúa sơn lâm trong vùng. Sau đó mỗi lần đáo lệ tưởng niệm, dân làng cũng tự động “kiếng” cho “ông Bạch” một con heo, đem để ở giồng Xoài Một để “lo lót” chúa sơn lâm và hình thức mặc nhiên công cử “ông Bạch” là Sơn quân. Lệ hàng năm, kiếng một con heo sống được xem như “đổi tờ cử”, mang ý nghĩa xác nhận rằng, Sơn quân vẫn được dân làng tôn trọng, hãy hộ độ dân làng, đừng gây hại[32].

Những bản làng người Mường ở miền tây Thanh Hóa, kéo dài từ vùng Thạch Thành lên đến Quan Hóa, Mường Lát, ngoài việc thờ cúng tổ tiên, thần rừng, thần núi, thì họ còn cúng Ông Hổ tượng trưng cho thần rừng[33]. Tại Quảng Ngãi có câu chuyện bạch hổ và đôi rắn khổng lồ, một người già nằm mơ thấy một con hổ trắng đến bảo rằng “Ta là bạch hổ coi ngó xứ này nay ta giao giấy tờ trông coi đình lại rồi từ nayvào núi tu hành, không coi đình và xứ này nữa”. Từ đó dân làng cúng đầu heo không bị mất như ngày trước[34]. Người Tà Ôi cũng có tục thờ Thần hổ (Giàng avó). Trong hệ thống thú rừng của người Tà Ôi, con hổ được coi là con vật có sức mạnh nhất. Hổ được người Tà Ôi coi như vị thần bảo hộ cho làng, việc bắt được hổ theo quan niệm của người Tà Ôi được ví như món quà tặng của thần rừng.

Thần hộ môn[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng Hổ đá ở sân Đền IA, Hiệp Hòa, Bắc Giang
Tượng hổ tại Chùa Long Hổ ở Đài Loan
Đình thần An Châu ở huyện Châu Thành, An Giang, trước đình có tượng hổ
Đình thần Tấn Mỹ ở Cù lao Giêng, huyện Chợ Mới, An Giang có bố trí cặp mãnh hổ gác đình

Trong tín ngưỡng dân gian, Hổ là loài vật linh thiêng, là kẻ thù của các tà thần, nên thường được hiện diện như những vị thần linh canh cửa các ngôi đền. Hình tượng hổ tượng trưng cho sức mạnh của trần gian, đại diện cho các thần linh ở dưới mặt đất[35]. Chúng được tôn thờ, sùng bái và gọi một cách trân trọng là ông, ngài, cậu, chúa. Thần hổ uy linh và đầy huyền bí đã đi vào đời sống tâm linh của người Việt, trở thành nhân vật được thờ cúng ở rất nhiều điện, đền, phủ[9]. Người ta cũng sử dụng hình ảnh con hổ để trấn giữa tại các lăng mộ của các bậc vua chúa, danh nhân. Ở phương vị này, loài hổ không được vị trí độc tôn thờ phụng (thờ chánh) mà là những con vật thờ phụ, thờ theo những bậc công danh, tiền hiền, thánh nhân, khiến nó có nét giống với các động vật được phụng thờ khác như chó (tục thờ chó đá) và ngựa (tục thờ Ngựa).

Thời nhà Trần ở Việt Nam bắt đầu xuất hiện tượng hổ trong chùa. Theo tín ngưỡng, hổ tượng trưng cho vị thần bảo vệ, trấn giữ các phương chống lại mọi tà ma, đảm bảo cho cuộc sống phát triển, như tượng hổ ở bệ đá tam bảo (chùa Ðại Bi, Hà Tây), chạm khắc trên kẻ (chùa Sơn Ðồng, Hà Tây), hai bên tam quan (chùa Long Tiên, Quảng Ninh). Tượng con hổ đá sớm nhất từ thời Trần với con hổ được thể hiện trên chiếc nhang án tại chùa Xuân Lũng, Phú Thọ, đặc biệt thời này có Tượng hổ đá tại lăng Trần Thủ ĐộVũ Thư, Thái Bình là một trong những công trình mỹ thuật tiêu biểu thời Trần về hổ[36][36], ngoài ra có lăng vua Hiến Tông, hổ chạm ở bệ đá tại chùa Quế Dương (Hà Tây cũ). Trong các lăng mộ đời nhà Trần, điêu khắc đá chủ yếu là tượng người, tượng thú chầu và làm thần canh giữ cho thế giới vĩnh hằng của vua chúa[37].

Thời hậu Lê con hổ xuất hiện ở lăng mộ Lê Lợi (Lam Kinh), đó là con hổ ngồi dưới dạng rụt cổ, vai u, làm nhiệm vụ canh gác và giữ của cho người chết. Tượng Hổ liên quan đến câu chuyện trước khi sinh Lê Lợi ở khu vực Thọ Xuân có con Hổ đen thường quanh quẩn trong các xóm làng, không bắt lợn và cũng không dọa nạt ai cả. Sau khi Lê Lợi chào đời thì Hổ đen biến mất. Hổ đen ấy tượng trưng cho “bản mệnh” phi thường và quyền lực của một đế vương có công cứu nhân độ thế thoát cảnh bạo tàn của quân Minh ở thế kỷ XV[36]. Lăng mộ của Ngô Quyền cũng có tấm bình phong có hình con hổ, tuy nhiên có giấy lên tranh cãi về tấm bình phong này vì theo thiết kế, con hổ này không có tư cách con hổ và nó giống như một con báo lai chó sói và nham nhở trông như một con quỷ[38][39][40].

Người dân đã thần thánh hóa hổ, cho nó một sức mạnh thiêng liêng diệt trừ được ma quỷ, trong quan niệm dân gian hổ là vị chúa cai quản rừng núi, hình tượng hổ biểu tượng cho sức mạnh thiêng liêng, diệt trừ tà ma, trấn giữ các phương, là thần linh canh cửa ở các ngôi đền. Có hình hổ trấn giữ ở ngưỡng cửa là tà ma không dám xâm nhập. Trên bức bình phong tại cổng các đền chùa, người ta thường đắp con hổ đang bước xuống những bậc đá gập ghềnh. Với tư thế đó, hổ là hiện thân của âm cung, biểu hiện cho sức mạnh thế giới Diêm Vương và kiểm soát linh hồn khách hành hương. Trong đạo Mẫu, Quan Ngũ hổ được thờ ở hạ ban, Ngũ Hổ là tất cả các thần linh thuộc năm phương của thế nhân[35] Quan ngũ hổ (hay Quan hổ) gồm 05 vị được vẽ 05 ông hổ màu sắc khác nhau “Kim, mộc, thủy, hỏa, thổ”:

  • Đông Phương giáp ất mộc đức Thanh Hổ thần quan: Thanh hổ (màu xanh) trấn phương Đông (mộc khu)
  • Nam Phương bính đinh hỏa đức Xích Hổ thần vương: Xích hổ (màu đỏ) trấn phương Nam (hỏa khu)
  • Trung ương mậu kỷ thổ đức Hoàng Hổ thần quan: Hoàng hổ (màu vàng) trấn khu Trung tâm (địa khu)
  • Tây Phương canh thân kim đức Bạch Hổ thần quan: Bạch hổ (màu trắng) trấn phương Tây kim khu)
  • Bắc Phương nhâm quý thủy đức Hắc Hổ thần quan: Hắc hổ (màu đen) trấn phương Bắc (thủy khu)

Thần Hổ vừa là huyền thoại vừa là hiện thân của vẻ đẹp dũng mãnh, hiểm ác vì thế hổ linh được chạm trổ trên các lăng mộ, nhang án, nó được in trên hoa văn gạch ở các móng chùa, đền, miếu cổ xưa với một mô típ đẹp uyển chuyển, nhẹ nhàng và có tính thiêng liêng. Ngoài việc mô tả chạm trổ đá, gỗ và in hoa văn Thần Hổ trên gạch, không ít ở các cổng đền, miếu, bệ thờ, án gian trong gia đình đều chạm khắc, hoặc đắp Hổ phù nhô ra, miệng há to dữ tợn xung quanh răng nanh đâm ra như một cái hang. Ở nhiều nơi, ở những nơi này, ngôi đền nào cũng có đắp tượng hổ ở cửa vào, coi như Thần tướng gác đền và thần tướng này cũng được khách đi lễ thắp hương, khấn vái, chẳng hạn như người dân lập miếu thờ hổ ở vùng Mỹ Phước, Long Xuyên, An Giang.

Trung Quốc và cả Việt Nam là xứ sở không có sư tử do đó, trong lịch sử xa xưa thì hổ hay còn gọi là cọp được tôn làm con vật thượng thủ của loài thú, thay vì sư tử như các xứ có sư tử. Ở Việt Nam, hổ được xếp vào nhóm hộ môn thú (những con thú canh gác nhà cửa, lăng mộ, đình, chùa, miếu mạo) hay còn gọi là môn thần (thần canh cửa), là một trong những con vật được tạc trong các khu lăng mộ người Việt. Người Việt không sử dụng các tượng đá sư tử để trấn yểm và để tạo nên sự thiêng liêng, hùng tráng cho không gian này. Nếu cần có một con vật hung dữ, người Việt nghĩ ngay đến hổ/cọp và hầu như trong suốt lịch sử phát triển của lăng miếu của họ, hổ là con vật oai phong nhất, không gì thay thế được[41].

Trung QuốcViệt Nam, vai trò thần hộ môn của hổ được thể hiện qua hình tượng Hắc Hổ huyền đàn trong Đạo giáo được thờ trong các đền thờ Đạo giáo, và tiêu biểu là người ta có bức tranh Huyền đàn trấn môn để thờ giữa cửa ngỏ. Người Nam Bộ còn có tục lệ vào ngày mồng ba Tết Nguyên đán phải dán trước cửa nhà một mảnh giấy đỏ có vẽ hình cọp để trấn giữ tà ma, yêu quái, điều xui rủi xảy đến trong gia đình mình[42], vào ngày mồng ba Tết Nguyên đán, sau khi cúng xong, người ta thường dán trước cửa nhà một mảnh giấy hồng điều có vẽ hình cọp với dòng chữ Hán “Sơn Lâm đại tướng quân” với lòng mong muốn là hổ sẽ trấn giữ không cho những thứ nhiễm độc vào nhà.

Trong dân gian Việt Nam không có tục thờ Môn Thần, nhưng dùng linh vậtlinh phù để trợ giúp, chó là con vật thân thuộc hằng ngày chuyên canh giữ nhà cửa, cho nên con chó đá là một linh vật ngày xưa được người Việt đặt nơi chùa miếu. Ở Trung Hoa không dùng chó đá mà dùng sư tử đá Trung Quốc, nơi điện, miếu thường đặt một cặp sư tử hai bên cửa ra vào, còn ở Việt Nam ngoài chó đá, người dân cũng sử dụng một linh vật khác là con hổ chứ không phải sư tử, những vị thần thường cưỡi trên lưng hổ, nơi những ngôi đình làng ngày xưa trên tấm bình phong đặt phía trước hay đắp nổi hình con hổ để đuổi tà ma, tranh dân gian Đông Hồ cũng có loại vẽ hình một con hổ (độc hổ) hoặc năm con hổ (ngũ hổ), để người dân dán trước cửa nhà trừ tà, tương tự như bức tranh Huyền Đàn Trấn Môn.

Theo dấu chân Nam tiến của những người đi trước, những linh vật mới cũng xuất hiện như một thế lực trong tín ngưỡng của người dân tại vùng đất mới. Cọp trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam là thế lực nguy hiểm của thiên nhiên, đe dọa con người trong quá trình mở đất. Tuy nhiên, cọp cũng là con vật có nghĩa, có tình như trường hợp con hổ báo ơn người đã nuôi dưỡng mình, hình tượng con cọp xuất hiện nhiều tại các ngôi đình, các điểm thờ cúng. Trong tín ngưỡng thờ cúng linh vật, người Việt luôn chú trọng giữ gìn những yếu tố thuần Việt để đời sau tiếp nối, đó là nét đẹp nhân văn, thể hiện tinh thần dân tộc để những linh vật thuần Việt trở thành niềm tự hào của văn hóa, là cơ sở, là niềm tin để tìm về với những linh vật đại diện cho văn hóa Việt Nam[43].

Thần hộ pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh nữ thần Durga đang cưỡi hổ

Trong Ấn Độ giáo, Hổ là vật cỡi của nữ hung thần Durga trong cuộc chiến chống lại ác quỷ Parvati, bà cỡi trên con hổ dữ dằn trong thế dáng đe dọa[2], Hổ cũng là vật cưỡi của thần Shakti, của năng lượng thiên nhiên mà Siva đã không phục tùng và ngược lại, đã chế ngự Choc, Dana, Crad, Gues, Kall, Lecc, Ogrj. Trong Ấn Giáo ở miền Nam Ấn Độ thì hổ là bằng hữu của vị thần Ayyappan[44] Trong tranh tượng đạo Hinđu, da hổ khoác trên thần Siva là chiến quả của vị thần này. Một tích truyện thần thoại về Shiva khi đến thăm các Rishi, họ bèn thả ra một con hổ dữ để xé xác Shiva nhưng ông dễ dàng dùng móng tay lột lấy tấm da con cọp và choàng lên cổ mình làm tấm khăn choàng.

Trong Phật giáo, hổ còn là vật cưỡi của Văn Thù Bồ Tát. Vị Quan Âm Diệu Thiện cũng từng được một con cọp trắng xông ra giải cứu và cõng mang đến chùa Hương. Hổ cũng là vật cưỡi của các thần Đạo giáo như Trương Thiên Sư, Triệu Nguyên Soái (tranh bộ Tứ Đại nguyên sư: Tranh thờ các dân tộc phía Bắc Việt Nam), Huyền Đàn trấn môn (tranh Đông Hồ), Thổ Địa (trong bộ Tứ trực Công tào: Tranh thờ các dân tộc phía Bắc Việt Nam, và tranh tượng Ông Địa Nam bộ).

Cọp đen còn là vật cưỡi của Thần Tài, người ta thường vẽ ông cưỡi cọp đen. Người Hàn Quốc có bức họa thần núi (Sansindo) vẽ cảnh thần núi ngồi tựa hổ hay cưỡi trên lưng hổ, trong những bức tranh của hội họa Hàn Quốc, hổ lại xuất hiện bên cạnh một cụ già đó chính là thần núi và hổ là loài hầu cận. Ở đây, hổ là phương tiện chuyên chở của các thần, đặc biệt ở bộ Tứ trực Công tào cho thấy hổ là phương tiện chuyên chở trên mặt đất của Thổ Địa và cũng là thần hộ vệ, hộ pháp.

Người dân địa phương ở Trà Bồng có tục lập am thờ con hổ, họ thờ Bạch Hổ sơn quân hay còn gọi là ông hổ đi tu, đây là tùy tướng thân cận nhất của Thiên Y A Na, theo truyền khẩu, vào dịp lễ cúng Thiên Y A Na, cứ đến khoảng 2 đến 3 giờ sáng, cũng là lúc Bạch Hổ sơn quân xuất hiện, hay mỗi lần khấn xin hiện hình là đêm đó Bạch Hổ sẽ xuất hiện[45]. Hổ cũng là thần hộ pháp trong Đạo Cao Đài vì biểu tượng con cọp tượng trưng năm Bính Dần (1926) là năm Khai Đạo Cao Đài, với kiến trúc trên cao có tượng Phật Di Lặc ngồi trên lưng cọp và tòa sen, cụ thể trong các Thánh thất như: Tòa Thánh Tây Ninh, Thánh thất Sài Gòn, Thánh thất Đa Phước hay Thánh thất Đà Lạt nằm ở Phường 11 của Đà Lạt. Đôi Bạch Hổ–Hắc Hổ vốn được coi là vệ sĩ, đệ tử của Thầy Thím và được thờ tại Miếu ông Hổ trong Dinh Thầy Thím.

Ác thần hung thú[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Hổ vồ người
Sự thờ phượng hổ còn xuất phát từ nỗi sợ của con người

Tín ngưỡng thờ hổ còn xuất phá từ nỗi sợ hãi loài hổ, sự ghê sợ những gì do hổ gây ra cho con người vì hổ bản chất là một dã thú hung dữ và là loài thú ăn thịt, săn mồi. Nhiều sự kiện đã đi vào văn hóa dân gian của các nước như một nỗi ám ảnh khiếp đảm đến mức nhiều vùng miền có tục thờ hổ vì sợ bị hổ dữ làm hại. Về mặt tự nhiên, hổ là động vật chuyên ăn thịt, do đó con người không tránh khỏi sẽ trở thành con mồi của chúng khi nguồn thức ăn khan hiếm hoặc khi con hổ bị thương không thể săn mồi. Thực tế hổ là một trong những loài động vật tấn công con người nhiều nhất.

Trong các loài thú dữ, hổ là loài thú được con người sợ hãi, thờ cúng, kỵ húy nhiều nhất[46]. Xuất phát từ việc sợ hãi nên nhiều người không dám gọi thẳng tên mà gọi chệch đi vì sợ ngài hổ giận và tìm cách trả thù[9]. Nỗi sợ hãi đặc biệt là do khiếp sợ oai linh thần hổ, người dân miền sơn cước luôn thờ cúng chúa sơn lâm[47][48][49] Từ tính chất này người ta cho loài hổ là một mãnh thú có sức mạnh kinh khủng và theo quan niệm dân gian thời ấy thì nó có cả những khả năng diệt trừ ma quỷ, yêu quái vì vậy, loài hổ được người dân tôn thờ[8]. Thực tế thì loài báo hoa mai mới là những kẻ thường liều lĩnh đột nhập vào khu dân cư đến tấn công vật nuôi.

Quan niệm[sửa | sửa mã nguồn]

Con người thường rất sợ hổ như loài thú hung dữ này khi họ phải lên rừng núi để khai thác gỗ, đốn củi, đốt than, khai thác trầm kỳ, mây, tre, cây thuốc, lấy mật ong hay nhà ở gần núi, nhất là vào thời xưa. Những dân vùng sơn cước thường sợ, tôn sùng hổ, khi đi rừng không dám nhắc đến hổ, hoặc nói trại tên đi. Tại những nơi thâm sơn cùng cốc, từ xa xưa, dân sơn tràng, dân đi hái củi, muốn bình yên khi đi vào rừng phải nhớ xách theo vài ba cân thịt bào bạc nhạc hoặc một cái đầu lợn để cúng “ông”, để rồi khi đã no nê “ông" sẽ chui vào một hang tối, hoặc nằm dài ở một bờ suối để ngủ mà quên cả việc rình mồi. Không những con người lập miếu thờ cọp, gọi cọp là Sơn Thần, Sơn Quân Chúa Sơn Lâm mà còn kỵ húy, kiêng kỵ tên chính thức nên gọi tránh đi và bao giờ cũng có chữ Ông, chữ Ngài đứng trước để tỏ ý tôn trọng hay thành kính.

Hổ về bản chất là kẻ săn mồi, chúng vẫn là ác thú hại người, chúng nổi tiếng với việc ăn thịt người khi có cơ hội

Việc thờ hổ do sợ hãi xuất phát từ nỗi sợ hãi động vật hay hội chứng sợ động vật (Zootopia) của loài người khi ám ảnh quá mức biến thành nỗi sợ mãn tính về một động vật nào đó, trong đó, hổ đã trở thành những biểu tượng của sự ghê rợn. Sự ám ảnh về loài hổ còn hằn sâu trong tâm khảm con người theo một cách vô thức, khi người ta đi vào một khu rừng rú hoang vắng thì có cảm giác sợ hãi, hình ảnh loài hổ vồ người đã hằn sâu vào tâm trí nhiều người nên khi trông thấy hổ giữa rừng già, nếu không phải là người có kinh nghiệm đi rừng thì sẽ bị hốt hoảng.

Trong môi trường sống nhiều bất trắc, con người phải đối đầu với nhiều loài động vật hung hãn, ghê sợ, đe dọa đến tính mạng, sự sinh tồn, phải liên tục chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt, trong đó thú dữ (mà đại diện là loài hổ dữ) từ rừng về phá hoại mùa màng, giết hại gia súc. Tâm lý sợ hãi những loài động vật có quyền uy đã tác động trực tiếp đến việc tôn sùng, lễ bái động vật của con người, ddo đó, việc phụng thờ thần hổ chính là một cách giải tỏa tâm lý, tâm linh[8].

Nỗi sợ và tục thờ hổ của người bản địa châu Á được người châu Âu ghi chép, Người Pháp cho biết người An Nam gọi loài hổ là “ông hổ” hoặc “ông cọp” vì họ có một nỗi sợ hãi mang tính mê tín dị đoan. Họ thờ cúng và quỳ lạy trước loài hổ với niềm tin rằng sự kính trọng của mình sẽ khiến loài vật này giảm bớt những cuộc tấn công vào con người. Và khi hổ rời bỏ các cánh rừng để tấn công vào làng mạc của con người thì người dân An Nam dường như chỉ phản ứng thụ động và yếu ớt trước sự tấn công của loài vật mà họ tôn thờ. Các loại vũ khí thô sơ tỏ ra vô hiệu vì hổ quá khỏe và tinh khôn. Bẫy sập được đánh giá là rất hiệu quả nhưng rất hiếm khi được dùng vì người dân quan niệm rằng linh hồn của những “ông cọp” bị chết sau khi dính bẫy sẽ ám họ[50].

Những bản làng người Mường ở miền tây Thanh Hóa, kéo dài từ vùng Thạch Thành lên đến Quan Hóa, Mường Lát, ngoài việc thờ cúng tổ tiên, thần rừng, thần núi, thì họ còn cúng Ông Hổ, họ sợ thần hổ, không dám vào rừng lấy que củi, và không chặt phá rừng. Rừng là chốn hổ thần ở, nên không ai dám kinh động. Chỉ có thợ săn, bất chấp tính mạng mới dám mò vào rừng. Nhưng những người vào rừng ăn cắp của rừng nếu không nghèo đói thì cũng gặp tai họa là do thần hổ trừng phạt. Dù có quan điểm coi hổ là kẻ thù truyền kiếp vì đã có nhiều người trong dòng họ bị hổ ăn thịt, nhiều người dù có mối thâm thù với hổ, nhưng vẫn phải thờ hổ trong miếu, những mong loài hổ sẽ tha mạng cho con cháu hay bị hổ ăn thịt. Những câu chuyện kinh dị về hổ thần đã ám ảnh cuộc sống của người dân đến mức họ chẳng dám đặt chân vào rừng, hoặc có đi vào thì cũng rón rén.

Ngay cả trước khi săn hổ người ta hay tổ chức cúng tế vì sợ hổ hóa thành ma sẽ trả thù cho gia đình, dòng họ của người nào đã giết hổ, đây là một cách cúng thế để giúp con hổ bị chết siêu thoát và không còn trả thù vì hổ được biết đến là hay trả thù và thính tai. Kể cả đến nay, đối với những người hành nghề giết mổ hổ, lóc xương, nấu cao hổ cốt thì họ vẫn duy trì tập tục cúng bái trước mỗi lần hành sự (không như việc mổ trâu, bò, gà, lợn). Những người thợ trước khi nấu cao hổ thì người ta thường có nghi lễ cúng bái, có người còn mời thầy cúng về cúng vì nếu không sẽ bị lừa lọc, vỡ nợ, tán gia bại sản hoặc rơi vào vòng lao lý, đi tù vì ông hổ sẽ không cho sống đàng hoàng[51].

Về việc bài trí tranh hổ trong nhà, theo phong thủy, thì những vật phẩm hình hổ chỉ nên đặt ở những không gian công cộng để phát huy công lực trấn yểm cho cả cộng đồng mà không nên bài trí trong gia đình. Hổ là con vật có uy lực, không thể bị thuần hóa và coi như vật nuôi vì nuôi hổ trong nhà sẽ có nguy cơ rất lớn (“dưỡng hổ di họa”), đồng thời nó còn bị coi là hung thú nên khi hổ xuống núi vào nhà thì sẽ hại người. Do đó không nên bài trí hổ trong phòng ngủ, nhất là phòng ngủ vợ chồng, nếu trong nhà treo bức tranh con hổ mà đầu hổ hướng vào trong được coi là đại hung, treo tranh thêu hình con hổ cũng sẽ khiến những người sống trong nhà có tâm trạng bất an và nhà thường có chuyện buồn, những người làm kinh doanh nên kiêng kỵ không nên treo tranh hổ vì khiến việc kinh doanh không thuận lợi[52].

Mộc Tinh[sửa | sửa mã nguồn]

Một con hổ đang ẩn mình trong rừng xanh, hổ là động vật săn mồi mai phục, giỏi ngụy trang, do đó con người đồng nhất chúng với rừng rậm, ẩn dụ một thiên nhiên chưa được chế ngự.

Con hổ luôn đe doạ đến đời sống con người nên một số địa phương đã có tục thờ thần hổ. Tục này xuất xứ từ làng Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Hổ là ác thú được người kinh sợ đến độ lập đền thờ, hy sinh nhân mạng để tế lễ mỗi cuối năm, như tục thờ Thần Hổ, làng Ngọc Cục, huyện Đường An, tỉnh Hải Dương. Theo Phạm Đình Hổ thì qua tục giết người tế Thần Hổ nhắc đến thần Xương Cuồng có ghi vào sử sách như Mộc Tinh trong Lĩnh Nam Chích Quái. Tục tế Thần Hổ này có từ xa xưa trước Tây Lịch, khi quân nhà Tần của Nhâm Ngao và Triệu Đà mới lấn chiếm và đô hộ đất Văn Lang và mãi đến Từ năm Canh Thân 1800 trở về sau thói ấy mới bỏ.

Tục lệ tế thần Xương Cuồng hằng năm vào ngày Ba Mươi Tết được cho là có từ thời Văn Lang. Theo sách Lĩnh Nam Chích Quái, người Văn Lang gọi Mộc Tinh là Xương Cuồng ám chỉ loài thú dữ là cọp và Mộc Tinh là thú dữ, ám chỉ hổ, Thần Xương Cuồng có nghĩa là hành động một cách bạo ngược, tàn ác, không thể trấn áp được, đó chính là Thần Hổ. Dân phải lập đền thờ, hàng năm đến ngày 30 tháng chạp, theo lệ phải mang người sống tới nộp, mới được yên ổn. Mộc Tinh là hình ảnh cọp, cọp được đồng hóa với rừng núi, là tai họa của rừng núi, cọp là hình ảnh bí hiểm của rừng núi, hòa mình với cỏ cây, xuất hiện bất thường về đêm, có nhiều linh khiếu, khiến con người đồng hóa rừng thiêng với hùm thiêng, là ẩn dụ một thiên nhiên chưa được chế ngự[53].

Lĩnh Nam Chích Quái còn thuật chuyện Nhâm Ngao bị thần Xương Cuồng tức giận vật chết, Đại Việt sử ký toàn thư cho rằng Nhâm Ngao phạm thổ thần bị bệnh chết, còn Lĩnh Nam Chích Quái cho rằng bị thần Xương Cuồng tức giận vật chết. Lời lẽ tuy có khác, nhưng nội dung chính yếu thì giống nhau, điều này cho thấy thần Xương Cuồng là thổ thần có nhiều quyền năng, có thể vật chết người, kể cả là những vị tướng soái cầm quyền phương Bắc. Thần Xương Cuồng là Thần Hổ mà người Văn Lang sợ hãi và trọng vọng, làm lễ tế hằng năm vào ngày Ba Mươi Tết, từ phong tục cổ sơ này, đã có vào thời các vua Hùng, mà con hổ được lý giải có tên gọi là Ông Ba Mươi cho đến ngày nay[53].

Ma trành[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Ma trành
Một cô gái đang hóa trang thành hổ, tương truyền hổ hại người thì có thể sai khiến linh hồn con người nhập ma (quỷ nhập tràng) để phục vụ cho chúng

Cuối đời nhà Lê còn thêm truyện Trành Quỷ Hiển Linh về thần hổ có tính cách mê tín, tức là chuyện về Ma Trànhquỷ hiển linh, linh hồn người bị hổ ăn thịt biến thành tinh của hổ, thường dẫn đường cho hổ đi bắt người, khi có dịp lại hiện ra thành hình người. Trành là linh hồn người bị hổ ăn thịt biến thành tinh của hổ, thường dẫn đường cho hổ đi bắt người, khi có dịp lại hiện ra thành hình người, cọp khi đã ăn thịt người nào đó, thì vong hồn của nạn nhân ấy lại bị cọp khống chế để mách bảo những điều xấu tốt cho cọp, làm cho những con cọp này trở nên tinh quái đặc biệt. Chuyện Ma Trành được chuyển thể những tiểu thuyết đường rừng như Thần Hổ (1937), Ai hát giữa rừng khuya (1942) của Tchya hay Truyện Đường Rừng (1940) của Lan Khai[53].

Thần hổ có nơi gọi là ma khái, hoặc hùm tinh. Ở Trung Quốc có thành ngữ chữ Hán "vị hổ tác trành" nghĩa là làm ma cho cọp. Ngoài ra trong niềm tin của một số dân tộc miền núi thì ma trành cũng được ghi nhận. Người Mường vùng Thạch Thành tin rằng, khi ai đó bị hổ ăn thịt, sẽ biến thành ma trành vất vưởng ở nhân dân. Ma trành thường dẫn dụ người sống để hổ ăn thịt, thì mới được siêu thoát, vì nỗi sợ mơ hồ ấy, mà người dân không dám đến những nơi có người bị hổ vồ[54]. Người MôngSơn La lại có tục xếp chín lớp đá đè lên ngôi mộ của người đã khuất, bởi họ sợ con ma sẽ hóa thành hổ dữ, bắt hết người thân, trâu , lợn của bản làng, vì thực tế hổ cũng thường hay đào mộ, moi xác người chết[55].

Ma trành còn được thể hiện qua chuyện thần Bạch Hổ hiển linh trên núi CấmAn Giang. Trên núi Cấm xuất hiện bầy hổ trắng hung dữ đã làm hại hàng trăm người dân vào rừng kiếm củi, lấy gỗ, làm nương sinh sống. Một vị tu sĩ lập am thờ trên núi Cấm thì đàn hổ trắng chỉ còn một con hổ lớn sinh sống trên núi, được thu phục, vào con đường tu hành, mất hết thú tính, trở nên một con vật hiền lành. Nhưng những oan hồn bị đàn hổ trắng giết hại không được siêu thoát, cứ vất vưởng trên chốn trần gian biến thành lũ ma xó, ma trành. Bọn ma quỷ này giữ thù cũ, âm mưu hại Bạch Hổ. Một ngày, bên ngoài am xuất hiện hàng chục người lạ mặt từ bên kia biên giới sang, lăm lăm vũ khí gầm gào đòi giết Bạch Hổ[56]

Từ trong hang, Bạch Hổ vụt xuất hiện trước mắt mọi người, chúng ào tới kẻ chém người bắn tên độc vào mình Bạch Hổ, con thú bị thương trở nên hung dữ giơ cao móng vuốt vồ tới tấp đám người lạ mặt, làm hàng chục người chết và bị thương nhưng con thú cũng đã bị thương nặng vì tên độc và chết ngay sau đó. Tuy vậy, những oan hồn ma quỷ đang trỗi dậy, kích động lòng hận thù giữa những gia đình bị hổ trắng giết hại từ xưa tới nay vùng lên, trút mối hận lên đầu Bạch Hổ, dù Bạch Hổ đã chết nhưng bọn ma quỷ kia còn mượn hồn nó để nhập vào những con thú khác mà tiếp tục quấy nhiễu mọi người[56]

Sau đó, nhà sư đã tìm một đệ tử mà truyền cho cách trấn ếm các hồn ma, người đệ tử đang ngủ bỗng thấy một bầy cọp trắng, cọp vàng xuất hiện, đuôi chúng ngoe nguẩy đi quanh chỗ người này nằm, rồi sau đó năm bảy người từ ngoài đi vào, nắm tay nhảy nhót trước bàn thờ vong, hoan hỉ phục tùng, và đùa giỡn với gia đình Bạch Hổ. Người đệ tử thu dọn bàn thờ, đem chiếc đầu lâu Bạch Hổ, nanh cọp cùng mấy tấm bài vị trở về am của mình lập trang thờ. Dân chúng vùng Thất Sơn cho là Bạch Hổ đã đắc đạo thành thần, nên luôn luôn tôn kính và đặt tên nơi hang động trước đây Bạch Hổ sống là Điện Ông Hổ. Vùng Năm Non Bảy Núi từ đó yên tĩnh hẳn, không ai còn nghe nói đến những chuyện hồn ma bóng quế hay thú dữ xuất hiện, nhưng những chuyện về sự linh thiêng của Thần Bạch Hổ thì dân địa phương và người hành hương vẫn nhớ[56].

Thành tinh[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Ma mèo
Một con hổ với cặp mắt xanh biếc, đối với những người mê tín, đây là dấu hiệu của một con hổ thành tinh chuyên hại người

Người Việt Nam còn có quan điểm rằng hay tín ngưỡng rằng những con mãnh thú quá hung hãn, mạnh khỏe khác thường là đã thành tinh, có linh hồn. Thông thường, loài người vẫn rất sợ những loài thú to lớn hung ác, nên thờ cúng cũng là một cách để tạ lỗi cùng mãnh thú, những ngôi miếu có thờ phượng thú linh sẽ giúp dân làng trừ tà, trấn yêu, diệt quỷ[57] trong số đó, hổ là loài vật nguy hiểm nhất,hay trả thù con người, những con cọp ba chân cũng là hình tượng thường xuất hiện trong các giai thoại mãnh thú thành tinh lúc xa xưa[58], đặc biệt là những con hổ trắng khi đã ăn thịt người thì sẽ hung hãn và hung tợn hơn bất cứ loài thú nào[59].

Người dân Mường Mõ bao đời nay thờ hổ, tôn kính hổ như thần linh, ở đây núi cao vực sâu thêm huyền bí vì những truyền kỳ về hổ[47]. Người Mông tuy là thợ săn lão luyện, nhưng họ lại rất sợ hổ và ma, kể từ khi hổ loanh quanh ở bản Tốc Tát thì chẳng mấy ai dám vào rừng nữa, thậm chí, họ không gọi là con hổ, mà kính cẩn gọi là "ông Hổ"[60] Ở vùng Sơn La, đồng bào dân tộc ở đây họ rất sợ hổ và họ gọi là ông hổ, chứ không dám gọi là con hổ[61]. Người dân ở bản Nà Tông đồn rằng, hổ là loài nhớ dai, biết trả thù, người Tày ở đây đều tin điều đó, nên phải lập ngôi đền thờ cúng sơn thần, thờ cúng cả loài hổ, để chúng không phá phách, trả thù, từ khi lập đền thờ, tuyệt nhiên không có con hổ nào về bắt người, giết thú nữa[62].

Tại vùng vùng núi Tiên Cảnh và các vùng xung quanh đó như Tiên Hiệp, Tiên Lộc, Tiên Châu, ngày xưa gọi chung là trấn Thăng Bình, tại đây, hổ không chỉ kiếm ăn trên rừng mà còn về tận thôn làng, gây nên bao tai họa và cả nỗi khiếp đảm. Nỗi sợ hổ từ đó trong dân chúng khắp vùng ngày càng tăng lên và vì ám ảnh bị hổ dữ giết hại, gọi là hổ chúa thành tinh nên nhiều gia đình đã phải lũ lượt kéo nhau bỏ xứ ra đi. Nỗi sợ hãi đã khiến người dân Tiên Cảnh tôn sùng loài ác thú này như thần thánh, họ có phong tục cúng thần rừng, vị thần họ tin rằng nắm giữ bổn mạng của cả vùng đất này, đại diện cho thần rừng, không phải loài nào khác mà chính là hổ dữ là vị chúa sơn lâm đầy quyền uy[63]. Ở Kon Tum có thờ hổ vì khi bạch hổ đã ăn thịt người thì nó càng hung tợn, càng dữ hơn bất cứ loài thú ác nào[64].

Thần hổ xám[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Hùm xám
Ở một số nơi trên lãnh thổ Việt Nam, hùm xám được coi là Thần Hổ, là những con vật đã thành tinh do ăn thịt quá nhiều người, chúng là nỗi ám ảnh của cư dân bản địa

Ở vùng Thanh Hóa, người địa phương và người Mường còn lưu truyền câu chuyện Thần hổ xám ăn thịt người ở Thanh Hóa là một huyền thoại về oai linh thần hổ ở vùng vùng Thạch Thành[65] Với người dân ở vùng đất này, thần hổ vẫn là một thứ gì đó ám ảnh khủng khiếp với cuộc sống của họ[54]. Người dân Mường ở miền Tây Thanh Hóa ở Thạch Thành đặc biệt người dân còn lập miếu thờ một con hổ gọi là Thần hổ xám khổng lồ hung dữ, chuyên ăn thịt người, người dân còn đồn rằng, năm nào không cúng hổ thần, mùa màng sẽ thất bát, lúa trồng chẳng thành hạt, cây cối chẳng chịu trổ hoa[66].

Người Mường còn tin rằng nó sống lâu ngàn tuổi và có thể biến hóa khôn lường[67], hổ thành tinh có thể sống vài trăm tuổi, những con hổ đã ăn thịt trên 100 người, thì nó đã thành tinh và người Mường gọi nó là hổ thần. Hổ hễ ăn thịt một người, thì trên tai hổ sẽ có một vết đỏ, tượng trưng cho một linh hồn. Những linh hồn bị con hổ ăn thịt sẽ đi theo nó, chịu sự sai khiến của nó. Khi trên tai loài hổ đã có 100 vết đỏ, thì con hổ đó đã thành tinh. Khi hổ đã thành tinh, thì màu lông vàng sặc sỡ đặc trưng của loài hổ sẽ biến thành màu xám xịt, nhìn rất hung dữ, ghê rợn đó cũng chính là lúc nó trở thành chúa các loài hổ trong rừng[68] Một thần hổ thường có số lượng nốt đỏ trên tai ứng với số người mà nó ăn thịt và màu lông của nó xám hơn, mắt đỏ hơn, thân thể lực lưỡng hơn.

Người ta cho rằng con cọp thành tinh ở cánh rừng Thạch Thành là loài “thiên lý nhĩ”, tức là nó có thể nghe được ngàn dặm, nên cúng tế ở đâu nó cũng biết để tìm đến thưởng thức đồ dâng, vì sợ “thiên lý nhĩ” của con cọp thành tinh này, mà chẳng ai dám mạo phạm, nói xấu hổ thần, bởi người bản xứ tin rằng, hễ nói xấu, thì hổ thần ắt xuất hiện ăn thịt. Ở vùng rừng thẳm, người ta cho rằng con hổ bị thương sẽ biến thành con hổ dữ, hay bắt người. Hổ thương càng nặng thì càng dữ dằn. Đặc biệt, nếu hổ bị thương bởi con người, thì cả đời nó sẽ tìm cách ăn thịt người. Khi đã ăn thịt người quen mùi, nó không ăn thứ gì khác ngoài con người. Hổ là loài nhớ dai, thù lâu, nên nó sẽ trả thù đến tận cùng, đến tàn khốc[69].

Khái hạm[sửa | sửa mã nguồn]

Khi lưu dân đến khai phá đất Nam Bộ, việc thờ hổ được xem như một nhu cầu thiết thực đối với đời sống tâm linh, nên thời bấy giờ ở Nam Bộ có rất nhiều miếu thờ hổ. Có nơi thì đúc thành tượng hổ uy nghi, có nơi thì thờ tranh ngũ hổ, quanh năm khói hương nghi ngút. Đối với người miền Tây thì những câu chuyện về hùm beo, rắn khổng lồ vẫn luôn là đề tài hấp dẫn, loài cọp dữ, loài vật hấp dẫn chỉ đứng sau rắn hổ mây khổng lồ trong những câu chuyện đường rừng, nhằm khắc họa lại một phần cuộc sống sông nước miền Tây thời xưa.

Ở miền Nam Việt Nam, người ta chia hổ thành hai hạng là cọp bạch (tức cọp hiền) và hạm hay khái là những con cọp dữ chuyên hại người

Một quan niệm phổ biến nơi dân gian Nam bộ là người ta phân biệt hổ ra hai loại "cọp" và "hạm". Cọp là loại hổ trên trán nó có chữ "Nhâm" đó là "hổ thần", không bao giờ ăn thịt người, hổ thần được thờ là bạch hổ (cọp trắng). Còn Hạm là từ dùng để chỉ những con hổ ăn thịt người, đó là thứ cọp đã thành ma quỷ, thành tinh. Trong tâm niệm người dân quá sợ cọp nên dân Cà Mau không khi nào dám gọi thẳng là con cọp hay con hổ mà phải cung kính gọi là “ông Thầy”, “ông Hổ”, hoặc “hai Cọp”, “khái”, hoặc “Hương quản cọp”.

Người ta cũng cho rằng, cọp là chúa sơn lâm với khả năng nghe được tất cả những lời nói của dân chúng trong vùng, bất cứ ai nói lời xúc phạm đến cọp thì đều bị cọp trừng trị, dân gian đã gán cho cọp những thuộc tính "siêu đẳng" hoặc thần thánh, hoặc ma quỷ. Trong dân gian, nhiều nơi lập am, miếu thờ những con hổ hung dữ hại người hoặc những con hổ được truyền miệng là linh thiêng. Theo họ, nếu cung kính thì cọp sẽ để cho yên ổn làm ăn, còn nếu bất kính thì sẽ bị cọp trừng trị ngay.

Ở vùng sông nước miền Tây, lại có đình, đền, miếu thờ ông cọp hay ông cả cọp và thay vì thờ thần thánh, người ta lại khói hương nghi ngút, khấn vái thành kính loài vật được cho là thú dữ, sợ hãi và tôn kính cọp, nên người dân lập đình, miếu thờ cọp hằng năm làm heo cống nạp, cầu được bình an, không bị loài hổ trả thù[70][71] một số dòng họ còn đổi cả họ vì kinh sợ hổ bắt người để trả thù mà lập miếu thờ phụng cầu an[72]. Ở miền Tây Nam Bộ, việc phải “nhờ đến ông Hổ chọn Hương Cả” của Đình đã phản ánh một ký ức kinh hoàng về sự tác oai tác quái của hổ đối với đời sống những cư dân thời bấy giờ[73].

Cơ sở của tín ngưỡng thờ Hổ ở Nam bộ nói chung và miền Tây Nam bộ nói riêng gắn với buổi ban đầu đi mở đất, mở cõi của những cư dân người Việt đầu tiên trên vùng đất này, một trong những lực lượng thiên nhiên hoang dã, rùng rợn nhất là mà con người phải đối chọi là hổ. Với các đặc điểm về sinh học (bộ mặt hung dữ gớm guốc, lưỡi thè lè đỏ lòm, mắt tròn to sắc lạnh, móng vuốt sắc lại ăn thịt người), hổ trở thành một nổi ám ảnh của người dân mỗi khi phải đối mặt. Trong điều kiện thời bấy giờ con người gần như bất lực, bó tay trước sức mạnh của hổ. Họ sợ hãi, kiêng dè và phải gọi chúng bằng Ông và thờ cúng chúng trong các đình miếu[73].

Cà Mau ngày trước Cọp nhiều, người dân chống cự không lại nên phải dùng lễ vật (gồm heo sống, bò sống nguyên con) để cúng tế cọp, cầu hòa để được yên ổn làm ăn. Tại vùng Thới Bình, tỉnh Cà Mau có câu chuyện dòng họ Huỳnh có hai người bị hổ moi tim, vì sự cố bị cọp ăn thịt năm xưa nên người dân đã đổi toàn bộ họ Huỳnh thành họ Phan và lập miếu thờ ông cả cọp (cọp ba chân) hằng năm làm heo cống nạp, cầu được bình an, con hổ huyền thoại này bị vướng bẫy heo rừng của thợ săn, và để thoát thân nó đã cắn bỏ một cái chân và sau đó về tấn công trả thù dân làng[74].

Vùng đất Bình Phước trước còn hoang vu, rừng rậm có nhiều thú dữ, đặc biệt là cọp. Chúng thường xuyên xâm phạm đến con người và phá hoại vật nuôi của cư dân trong xóm làng. Từ đó, tín ngưỡng thờ thần Hổ xuất hiện, nhằm tạo niềm tin bình an yên ổn cho cư dân buổi đầu khai hoang lập ấp và biểu hiện qua hình thức cúng hổ, nếu ai vi phạm lệ tục này thì bị cọp về móc họng chết[31]. Ở vùng đất An Giang trước người ta kinh sợ vì cọp ở nhiều, cọp Hổ Cứ, Tòng Sơn luôn đe dọa và làm ảnh hưởng đến sinh hoạt của nhân dân, họ phải cất miễu thờ “Ông Hổ” trước đình và mỗi lần cúng đáo lệ Kỳ Yên, làng phải dành nguyên cái đầu heo sống để dâng cho ông Hổ. Đêm đến thì ông Hổ về nhận cái đầu heo, nếu không làm như thế thì dân làng phải bị nạn “hổ giảo”[75].

Hình thức thờ phượng[sửa | sửa mã nguồn]

Hổ được cộng đồng hay cá nhân, hộ gia đình nhiều nơi thờ phượng thông qua nhiều hình thức đa dạng như: dành một không gian tín ngưỡng để thờ cúng như đền, miếu, đình, chùa, bàn thờ tại tư gia. Hổ còn được thờ thông qua hình thức cúng tế các lễ vật dâng lên cho hổ, được vẽ tranh để thờ; gắn liền với thờ Mẫu, cổ tục bầu Ông và người ta còn mê tín sử dụng các bộ phận của hổ làm bùa chú để hộ thể (bùa hộ mệnh). Những hình thức này biểu hiện như:

Không gian thờ[sửa | sửa mã nguồn]

Bàn thờ Thần Hổ ở Đình Chí Hòa tại Thành phố Hồ Chí Minh
Đình Cô Giang
Tượng thờ Bạch Hổ trong Đình Cô GiangĐà Lạt, ngôi đình thờ các linh vật thuần Việt gồm hổ (thờ chính diện) và chó đá (hai bên).
Bàn thờ hổ trong tư gia của người Hoa

Tín ngưỡng dân gian thờ cúng tự nhiên có một vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân, trong đó, phải kể đến tín ngưỡng thờ động vật, cụ thể là tín ngưỡng thờ Hổ. Theo quan niệm dân gian, hổ là vị “chúa tể sơn lâm”, cai quản vùng rừng núi. Rải rác trên khắp Việt Nam đều có bàn thờ hoặc miếu thờ thần Bạch Hổ, với các tên gọi: “Sơn quân chi thần”, “Sơn quân mãnh hổ”, “Sơn lâm chúa xứ” hay “Sơn lâm đại tướng quân[76]. Trong tiềm thức dân gian, “ông ba mươi” là tên gọi đầy uy linh, quyền kính trong những gian thờ, đình, chùa, miếu mạo. Miếu Sơn quân là một mô thức nhất định trong cơ cấu kiến trúc cổ, được dựng lập ngay trong khuôn viên các ngôi đền, đình, miếu, mộ[32].

Thông thường, loài người vẫn rất sợ những loài thú to lớn hung ác, nên thờ cúng cũng là một cách để tạ lỗi cùng mãnh thú. Những ngôi miếu có thờ phượng thú linh sẽ giúp dân làng trừ tà, trấn yêu, diệt quỷ[57]. Biểu hiện của tín ngưỡng thờ cọp thường thấy nhất là dưới dạng miếu nhỏ hoặc các bình phong ở đình làng. Một số nơi ông Hổ được thay thế bằng các phù điêu đắp nổi hình sư tử. Trên các bình phong này là hình đắp nổi chúa sơn lâm (thường màu vàng), từ trên núi bước xuống trông rất oai vệ, Một số đình thay vì là các bình phong ở trước đình là các tượng hổ[77]. Ở Nam bộ còn có dạng tồn tại khác về cọp là miếu thờ cọp. Phần lớn các đình làng ở Nam bộ đều có miếu thờ, tượng thờ ông Hổ. Các đình làng, chùa, miếu ở Nam Bộ đều có ban thờ thần Hổ[77].

Các đình làng ở Nam bộ phần lớn đều có miễu thờ thần hổ, ở về phía trái sân đình, với tước “Sơn Lâm chúa tể”[78]. Trên bức bình phong tại cổng các đền chùa, người ta thường đắp một con hổ đang bước xuống những bậc đá gập ghềnh. Với tư thế đó, hổ biểu hiện cho sức mạnh của thế giới Diêm Vương. Người ta còn thờ ngũ hổ để tượng trưng cho năm phương: hoàng hổ ở giữa gọi là trung phương, xích hổ là phương nam, lục hổ là phương đông, bạch hổ là phương tây và hắc hổ là phương bắc. Tất cả đều mang ý nghĩa cầu mưa và cầu cho mọi sự sinh sôi, phát triển[79].

Trong kiến trúc Đình làng Nam Bộ thì có Bình phong nằm chính giữa phía trước sân đình, mặt bình phong thường đắp nổi hoặc vẽ cảnh cọp vàng (hoàng hổ) đứng bên gộp đá lởm chởm, có một cây cổ thụ gie cành lá; hoặc cảnh long mã chở cái phù đồ, hoặc cảnh long hổ hội (cọp dưới đất ngước lên nhìn rồng đang bay ẩn trong mây nhìn xuống); cốt để biểu thị âm dương hòa hợp. Sân đình Hai bên đàn thường là các miễu thờ cọp (Chúa xứ Sơn quân). Hay còn có bàn thờ Hội đồng ngoại (gồm các vị thần sau: Mục đồng, Hậu thổ, Bà chúa Ngọc, chúa Ngung, Chúa Xứ, Ngũ hành nương nương, Táo quân, Cọp, Cá Voi).

Miếu thờ Cả Cọp thường ở gần đình, có nơi thờ cốt tượng hoặc hộp sọ cọp chết rũ. Có nơi thờ bài vị với các danh hiệu: Sơn Quân chi Thần, Lý Nhĩ Đại tướng Quân, Sơn Lâm Hổ lang chi Thần, Hội đồng Hương Thôn chi Thần, Mãnh Hổ Đại tướng Quân, Ngũ Hổ Đại tướng Quân, Hổ phụ húy Phạm Văn Thích, Hổ mẫu húy Trần Thị Hà Sơn Quân Chúa Tể Mãnh Hổ Lý Nhĩ chi Thần. Các đình làng ven rừng còn tòng tự thêm: Mộc Trụ Dương Thần (Thần gốc cây còn sót lại sau khi khai hoang), Thanh U Bạch Nha chi Thần (Thần rừng xanh răng trắng), Ác Lang chi Thần (Thần sói dữ), Tam đầu nhà lang, Tứ đầu nhà cầm (sói ba đầu, chim bốn đầu)[77].

Tín ngưỡng thờ cúng thần hổ trong các ngôi đình, đền, miếu là một trong những nét đẹp văn hóa mang tính nhân văn của người Việt có mặt ở mọi nơi trên đất nước Việt Nam. Duy trì tín ngưỡng này không chỉ giữ nét tín ngưỡng có giá trị lịch sử và văn hóa mà còn là sản phẩm tinh thần gắn liền với sự phát triển của một vùng đất, từ quá trình định cư và cộng cư. Hình thức tín ngưỡng này còn thể hiện lòng biết ơn của cộng đồng cư dân trước việc thiên nhiên đã dung chứa con người từ những ngày đầu mở đất, đây cũng là một nét đẹp văn hóa truyền thống của các dân tộc sinh sống ở Việt Nam[80].

Ngoài ra, bên cạnh việc thờ phụng hổ trong những không gian công cộng của cộng đồng thì trong nhiều hộ gia đình (tư gia), người ta thường thờ thần Bạch Hổ, hoặc thần Ngũ Hổ, tức là năm thần Hổ năm sắc. Bàn thờ thường lập một nơi riêng, nhiều khi là ở một chiếc bàn xây ngoài sân, hay chiếc miếu xây ở ngoài vườn đối với những gia đình ở gần chân núi. Cũng có những nơi vào tối 30 Tết, người ta thường dùng vôi trắng vẽ hình hổ phục ở 4 góc sân nhà nhằm trừ đuổi tà ma, quỷ quái, cầu cho mọi người được khỏe mạnh, bình an, chăn nuôi, trồng trọt đều hanh thông, phát đạt.

Trường hợp khi thờ chung với thần Mễ (thần thóc gạo), người ta đã sắm một bức tranh thần hổ dán dưới chân bịch gạo, có khi thì chạm khắc thành một tấm phù điêu, chuyển thành hương án, khu thờ này vẫn đặt dưới gầm tranh thần hổ. Thần hổ có khi được thờ một con, theo ngũ hành mà tô màu hoặc là tranh ngũ hổ với năm ông ngồi theo phương vị trung tâm và bốn phía. Hình thức này rất đơn giản, khi chỉ là một gian thờ nhỏ, vẽ rồng phượng trên tường và một bát hương, khi là một cây hương nhỏ, bát hương ở trên và thần hổ đắp bằng phù điêu phía dưới[81].

Cúng tế[sửa | sửa mã nguồn]

Việc cúng tế thần Hổ được thể hiện qua việc dâng lên cho Hổ những lễ vật và thực hành các nghi lễ tôn nghiêm. Hình thức này diễn ra ở nhiều nơi, trong nhiều cộng đồng người. Việc thờ cúng thần hổ luôn được phối hưởng vật phẩm thờ tự mỗi khi có lễ là để nhớ đến công lao các bậc tiền nhân. Đây cũng là một nét đẹp văn hóa truyền thống góp phần bổ sung vào kho tàng văn hóa dân tộc Việt Nam[80].

Lễ vật[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ vật cúng Hổ
Đồ lễ cúng tùy vùng và tùy tâm, nhưng các món chính gồm thịt lợn được thái vuông to (do hổ thèm thịt) và trứng sống (là vật tụ linh hồn).
Lễ cúng hổ trong miền Nam còn dâng thủ vĩ (đầu heo) và phủ lên nhành lá

Với niềm tôn kính, ngoài việc thờ cúng tổ tiên, nhiều gia đình người Việt còn thờ “ông ba mươi”. Vào những ngày rằm, mùng một hoặc lễ chạp, ngoài hương hoa, còn cúng một miếng thịt heo sống trên bàn thờ “ông” hổ. Trong ngày Tất niên, người ta thường làm hai mâm cỗ, một mâm cúng gia tiên trong nhà và một mâm cúng thiên địa ở khoảng sân trước nhà trong đó, một số cộng đồng lấy con hổ là vật thờ thì gọi là cúng Ông Ba Mươi (cùng thời điểm với 30 Tết). Cúng Thần Hổ cũng cúng vào những ngày sóc vọng hoặc trong nhà có công việc gì cáo với gia tiên. Việc thờ cúng thần Hổ ngoài trầu rượu phải cúng mặn phải dùng thịt sống hay trứng sống làm đồ lễ.

Trong việc thực hành thờ đạo Mẫu ở Miền Bắc. Lễ vật tiến cúng lên các vị thần linh, lễ vật này tuỳ theo tâm của mỗi người nhưng cũng phải theo một quy định chặt chẽ trong đó phải có trứng, thịt sống cho ban Ngũ Hổ. Hổ được nâng tầm thành con vật linh thiêng nhưng dù vậy trong ý thức dân dã thì hổ cũng được đồng nhất với chúa Sơn lâm, nên người ta đem thịt sống tới cúng như để thoả mãn một nhu cầu đời thường của cuộc sống tự nhiên[35]. Khi cúng hổ trong đạo Mẫu nên đem trứng sống tới cúng ở ban này có nghĩa như đưa linh hồn của các kiếp đời đã qua đến đây để cầu sự bảo trợ của sức mạnh thiêng liêng này, trứng được coi là vật tụ linh hồn[35].

Đồ lễ dâng cúng trong thục thờ Mẫu để bài bản gồm thường gồm 5 lễ vật: Một miếng thịt lợn sống (phần vai), thái vuông to, khía thành 5 phần mỏng không đứt; Năm quả trứng sống; muối; gạo; một chai rượu. Đến nay, việc sắm sửa lễ vật có thể đơn giản hay phức tạp, do quan niệm của mỗi người. Người thì cho rằng đi lễ thành tâm, có thể dâng hoa quả, trầu cau, bánh kẹo, rượu, chè thuốc. Người cầu kỳ thì chuẩn bị đồ lễ chu đáo, cẩn thận theo đúng sở thích của ngài Hổ. Một số khác có quan điểm thực dụng, dâng ngài rất nhiều đồ lễ cao sang, đắt tiền, tất cả đều tùy tâm[35].

Tuy nhiên, trong các nghi lễ chính thức của đạo Mẫu, thủ nhang, thanh đồng hầu thánh vẫn giữ đúng quy luật dâng đồ lễ cho ngũ hổ gồm thịt khía năm miếng, trứng năm quả, gạo, muối, tiền vàng. Trong những đàn lễ lớn của tứ phủ, ngoài đồ lễ trên, thanh đồng, thủ nhang còn sắm sửa một mâm cơm canh khao ngũ hổ, năm chén rượu trắng. Họ tin rằng, các ngài (trong đó có thần Hổ) sẽ về chứng đàn lễ, phù hộ cho canh đàn khóa lễ được thập toàn viên mãn. Bên cạnh đồ lễ, đồ mã cũng được chuẩn bị cầu kỳ, cẩn thận, gồm năm hình ông hổ được đan từ những thanh nứa, với năm màu sắc. Đồ mã lễ xong được đem ra hóa (đốt) để các ngài chứng tâm cho chủ lễ[9].

Hổ trắng là biểu tượng của thần chữa bệnhthần Tài, có một thời được các lương ynhà buôn thờ[77] và trong một số hoàn cảnh đặc biệt Thần Hổ trắng còn là biểu tượng của thần chữa bệnh và thần tài của một số gia đình hiện nay đang buôn bán phát lộc, thường tôn thờ ông Hổ. Hàng ngày đèn nhang, lễ vật bằng trứng sống đều đặn, coi đó như linh vật trong tâm thức, tín ngưỡng dân gian. Vào những ngày rằm, mùng một hoặc lễ chạp, ngoài hương hoa, những người lớn tuổi còn cúng một miếng thịt heo sống trên bàn thờ ông Hổ.

Người ta cũng thường cúng hổ bằng gạo, Thần hổ tượng trưng cho thế lực dưới đất, đối lập với con rồng tượng trưng cho thế lực trên trời. Trời đất giao hòa, âm dương quân bình, tất mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, tổ tiên thần Mễ (thóc gạo) và thần hổ được thờ cúng trong cùng một chỗ là thể hiện của một tín ngưỡng thiết thực. Ngay từ khi làm bịch thóc người ta đã sắm một bức tranh thần hổ dán dưới chân bịch, có khi thì chạm khắc thành một tấm phù điêu[81].

Ở Miền Nam, người xưa tin rằng “ông Ba Mươi” rất linh nghiệm nên có tục cúng đầu heo vào các dịp cúng đình. Thời trước, các ông hương chức cũ đều đem một cái đầu heo đến trước miếu thờ ông hổ trong các dịp cúng đình. Điều kỳ lạ là sau khi tàn nhang, người ta quay ra chỗ cúng thì không còn thấy cái đầu heo nữa. Sau này, hiện đại hơn, người dân vẫn giữ tục cúng heo nhưng không để nguyên nữa mà xẻ ra thành thịt, nhiều năm trở lại đây, chuyện mất đầu heo trong các lễ cúng không diễn ra[78]. Ở miền Nam, về lễ cúng đầu heo thường có nhành cây che lên.

Truyền thuyết về cọp ở địa phương trong miền Nam về một lão nông khi đem cơm ra ruộng cho công cấy, thấy một ông Cọp nấp ở bìa rừng, nó cầm lên để xuống nhiều lần một nhánh lá cây che mặt để nhìn ra đám công cấy ngoài ruộng. Chờ Cọp bỏ vào rừng, ông lão nhặt cành lá ấy đưa lên nhìn xuyên qua đó ngó ra đám công cấy thì thấy trong đám thợ cấy có một người biến dạng thành con heo và đoán chắc người có dạng heo khi nhìn qua cành lá ấy sẽ bị cọp vồ, dù đã cố sức che chắn, bảo vệ nhưng đến một đoạn đường, ông Cọp nhanh như chớp không biết ẩn từ đâu phóng ra vồ đúng người ấy tha đi mất.

Truyện kể này, xác tín rằng ông Trời không cho phép cọp bắt người ăn thịt, nó chỉ được bắt thú vật để sống. Riêng những người có số phận phải bị cọp ăn thì cọp nhìn qua cành lá sẽ thấy hình dáng họ biến thành heo. Kẻ ấy, cọp được phép ăn thịt. Từ đó, lệ cúng heo (hay đầu heo) cho cọp thường phải bẻ một nhánh lá cây đậy lên. Cọp đến thụ hưởng lễ vật cầm nhánh lá ấy, để nhìn và xác định đó đúng là heo thì cọp mới ăn. Đó là cổ tục từ xưa, nay không còn thực hành nữa, chỉ thấy tục lấy mỡ chài phủ kín đầu con heo cúng Bạch Hổ[28].

Đối với những người nấu cao hổ cốt hay làm thit hổ, xuất phát từ việc hổ là con vật được coi là chúa sơn lâm và được nhiều nơi người dân đưa vào đền, miếu để thờ, theo quan niệm khi dùng hổ làm thuốc trị bệnh cứu người thì cũng phải được sự đồng ý của vong hồn "Ông Hổ". Vì vậy, trước khi mang xương hổ đi làm sạch, người chủ nấu cao phải để bộ xương của hổ xếp theo đúng hình hài trên một chiếc bàn phủ vải điều và bày ở giữa sân. Lễ vật dâng lên cho Hổ gồm có một chiếc thủ lợn, đuôi lợn để sống và có hương nến cẩn thận. Trước đó, người chủ phải trai giới ít nhất là bảy ngày, đồng thời không được sát sinh bất cứ con vật nào. Việc cúng lễ được tiến hành trước khi mặt trời mọc, trong thời gian hành lễ, đàn bà con gái không được tới gần[82], những người nấu cao hổ duy trì tập tục cúng bái trước mỗi lần hành sự (không như việc mổ trâu, bò, gà, lợn).

Các vùng[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều người dân sơn tràng vào rừng thường xách theo cân thịt bèo nhèo để dâng cho hổ, thỏa cơn đói khát của chúng để chúng không vồ người

Bình Phước trước đây, hàng năm vào các dịp lễ, người dân trong xã thuộc Bình Phước đều phải bày các vật phẩm cúng thần hổ, gồm trà rượu, nhang đèn, thịt heo sống, trứng gà, trứng vịt sống. Dân làng phải làm lễ bầu Ông rồi cúng cho ông Cả Cọp một cái thủ vị và dâng tờ cử chức Hương Cả. Đến cuối thế kỷ XIX, tục lệ này được bãi bỏ. Một số nơi, tục lệ này vẫn được duy trì, duy trì thường xuyên vào các tiết xuân, hạ, thu, đông, tại đền Trần Hưng Đạo thường tổ chức lễ cúng lớn vào mồng 3 tháng 3, ngày 20 tháng 8 và dành một khoảng không gian trước đền để cúng thần hổ, tạo niềm tin bình an cho nhân dân trong vùng[31][80].

Hằng năm, ở đình khi diễn ra lễ cúng tế, tại bàn thờ thần Hổ ở Biên Hòa-Đồng Nai thường được cúng bằng thịt heo. Có những nơi, người ta tin rằng, vào ban đêm, thần Hổ sẽ về hưởng và đem một tờ sớ khác cho làng xóm[83]. Nhiều thế hệ tại miếu Cọp Bạch ở Phú Yên lần lượt trông coi và cúng tế miếu Ông Cọp vào những ngày rằm, mùng một và đặc biệt là hai lễ cúng lớn vào dịp tiết thanh minh tháng 3 với lễ vật đồ chay vào tiết lập thu tháng 8 với lễ vật heo, , vào tiết thanh minh (tháng 3 âm lịch) và lập thu (tháng 8 âm lịch), rất nhiều người dân địa phương và khách hành hương về miều Cọp Bạch ở Phú Yên dự cúng. Khi thì cúng chay, khi thì cúng heo, . Vào tiết thanh minh, (tháng 3 âm lịch), khách thập phương về viếng và cúng miếu rất đông. Những người lớn tuổi ở địa phương sẽ đảm trách việc cúng, tế lễ, cáo trờ đất[84].

Người dân Dùi Chiêng, Quảng Nam tổ chức lễ cúng “ông Trùm” (hổ) vào ngày mồng 7 tháng Giêng hằng năm, họ làm heo, gà để dâng lên ngài. Sau khi cúng xong, dân làng phải để lại nguyên cái đầu heo trên bàn thờ để hổ ra ăn phong tục này là do hổ có sức mạnh lớn và họ cũng rất tôn sùng con vật này. Còn phần thịt heo, thịt gà, cơm, rượu, mọi người cùng tề tựu ăn uống, vui chơi. Sau khi dân làng về, thường thì cái đầu heo đó được hổ ra tha về núi để ăn. Sau này khi hổ ít dần, đầu heo được để đây 3 ngày, nếu hổ không ra ăn thì người dân mới được mang về nhà. Do vậy mỗi tối người cai quản miếu thường mang đầu heo về nấu lại cho khỏi hỏng, sáng mai lại tiếp tục mang lên bàn thờ miếu. Do sống chủ yếu nhờ rừng nên mỗi khi đến tháng giêng, khu dinh thờ chật kín người đến thắp hương, hội làng để chuẩn bị vào năm làm rừng mới[85][86].

Chiều ba mươi Tết người dân ở Cần Thơ cũng bày lễ vật ra sân để cúng ông Hổ chung với lễ cúng Tất Niên. Lễ vật gồm chè, xôi, que, hột, tợ, thêm một con gà trống luộc nguyên con hai chân tréo ngược ra sau lưng, có cả một xấp giấy hồng đơn in hình ông Cọp trông dữ dằn. Chủ gia thành tâm cầu xin Sơn Lâm Chúa Tướng thương tình đi nơi khác làm ăn, đừng về làng gây tai họa. Còn ngày Mồng Bốn Tết sau khi cúng đốt giấy tiễn đưa ông bà, cúng Ông Hổ xong, thường dán trước cửa nhà tờ giấy hồng điều in hình cọp màu đen với lòng tin là Ông Ba Mươi sẽ trấn giữ nơi cửa, không cho tà ma đột nhập vào nhà hại người[87]. Còn miếu thờ cọp được cúng bằng một con heo trắng và xôi bánh trong các dịp Kỳ Yên[25]

Nghi thức cúng tế trong Lễ Thượng Điền đình Bình Thủy Cần Thơ có Lễ Tế Sơn Quân: Sau Lễ Tôn Vương là Lễ tế Sơn Quân tức lễ cúng ông Hổ được thực hiện ở miếu Sơn Quân bên phải chính điện. Đội nhạc lễ mở đầu buổi lễ tế bằng một chầu nhạc dâng Thần, tiếp theo là lễ bái của trưởng đình, phó đình và các vị chức sắc cao niên. Cuối cùng, vị Hương văn đọc sớ và đốt sớ, xem như kết thúc nghi thức Lễ tế Sơn Quân[87]. Trong khi tế lễ có đoạn: "Cao nhai chủ tể lý lâm quân bách thú độc tôn chi vị. Sơn đầu tối dã thinh xuất thái bình quần cầm chủ tể phụng hoàng độc tôn chi vị. Tạm dịch: Trên sườn núi cáo chỉ có một mình ta làm chúa tể, sửa trị cả trăm ác thú trong rừng.Trên chót núi có tiếng kêu thái bình chỉ có chim phụng hoàng xuân làm chúa tể loài chim"[25].

Dân tộc[sửa | sửa mã nguồn]

Con hổ được nhiều dân tộc miền sơn cước thờ phụng để mong đừng làm hại khi đi vào rừng khai thác sản vật thiên nhiên.

Người Khơ mú là một dân tộc thiểu số sống ở miền Tây của Nghệ An thuộc Việt Nam, dân tộc này tự coi mình thuộc họ Rvai (hổ) và họ có nghi lễ cúng ma nhà (Hrôigang) Một tập quán ăn sâu vào tình cảm và tiềm thức của người Khơ mú. Trong các hội hè, các nghi lễ người hóa trang giống như hổ. Họ diễn lại các động tác của vật tổ của dòng họ vào dịp tết Nguyên đán, hội hè với ý thức tự nhắc nhở và giáo dục những người trong cộng đồng rằng mình là người họ hổ.

Với quan niệm hổ là tổ tiên của mình, người Khơ mú thuộc họ Rvai kiêng không động tay vào hổ, không săn bắt, giết, ăn thịt hổ. Khi gặp hổ chết, người Khơ mú khóc than thật sự như tổ tiên mình qua đời. Khi còn sống, người ta kiêng đắp chăn sặc sỡ như lông hổ, khi chết, người ta đặt bên cạnh người chết một chiếc chăn giống màu lông hổ, để hồn được siêu thoát, trở về với hổ, có nghĩa là về với tổ tiên. Người ta tin rằng khi chết đi, họ sẽ hóa thành kiếp hổ[9][88].

Người Tà Ôi có tục thờ đầu hổ xuất phát từ niềm tin rằng hổ sẽ báo mộng cho người ta biết làng sắp gặp chuyện chiến tranh, mất mùa, có dịch bệnh. Các điềm báo xấu đó thông qua giấc mộng đến với người trong làng. Hàng năm, người ta vẫn đến tiến hành thăm nhà mồ có đầu hổ. Trong các thôn của xã Nhâm chỉ có làng Nhâm I còn có tục thờ thần hổ, làng Ka Linh, Tà Kêu trước đây ở Lào cũng có tục này.

Hàng năm khi người Tà Ôi tiến hành tổ chức ăn năm mới, hay cúng khánh thành nhà rông, thần hổ đều được chia phần, khi tuốt lúa mới phải thổi cơm dành phần cho thần hổ ăn. Người Chu RuLâm Đồng cũng cúng cho hổ vào tháng hai hàng năm, người Chu Ru còn cúng Yang Wer. Đó là một cây cổ thụ gần làng và được coi là một nơi ngự trị của một vị thần có nhiều quyền phép. Họ thường làm những hình nộm như đầu voi, đầu cọp, đầu , đầu trâu bằng gỗ hoặc bằng củ chuối, với đồ ăn, thức uống mang tới gốc cây Yang Wer để cúng.

Còn có tập quán đi săn Hổ của người Sán Dìu, thường tổ chức đi săn vào dịp nông nhàn, dịp đầu xuân mới hoặc khi phát hiện được con thú lớn là Hổ đi kiếm ăn. Nếu bắn được con Hổ to thì đem về nhà người trực tiếp bắn trúng để làm thịt, và cúng báo mời tổ tiên về ăn mừng để cầu xin tổ tiên phù hộ độ trì cho lần sau đi săn bắn được nhiều con Hổ và an toàn hơn. Sau khi cúng xong, họ lấy thịt Hổ ra để chia phần cho người trực tiếp bắn trúng được riêng một vai, đầu và bốn chân.

Số thịt còn lại chia đều cho những người đi săn, nếu ai có chó săn đi cùng thì được thêm nửa phần của người đi săn. Nếu bắn được Hổ nhỏ thì họ sẽ không chia phần, mà chỉ mang về nhà người trực tiếp bắn trúng, làm thịt, không phải cúng tổ tiên rồi liên hoan một bữa vui vẻ, chúc mừng nhau lần sau sẽ săn được một con Hổ to hơn. Nếu săn được con Hổ và dịp dầu xuân thì người ta tin rằng năm ấy sẽ có sức khoẻ như Hổ, và luôn gặt hái được nhiều thành công, may mắn[89].

Truyền thuyết người Mường kể rằng, người Mường đến định cư ở vùng Thạch Thành này đã mấy trăm năm. Khi đó, vùng đất này chỉ có rừng già, khỉ vượn và là lãnh địa của cọp, người Mường nơi đây đã xâm phạm đến lãnh địa tôn nghiêm của cọp, nên cọp mới báo thù mà giết hại nhiều người, từ xưa đến nay, một số họ tộc người Mường ở vùng đất này vẫn thờ một con cọp, mà trong suy nghĩ của họ, nó là con cọp đã thành tinh. Nhiều gia đình xưa kia còn kinh sợ đến nỗi đặt hương án để thờ con hổ đó với niềm tin rằng, hễ thờ nó, nó sẽ không làm hại, thậm chí còn phù hộ cho làm ăn, cày cấy được phát đạt, dễ dàng.

Trước kia mỗi năm bốn lần, đủ bốn mùa, các bản làng người Mường đều phải sắm trâu, , hoặc ít nhất cũng phải là , lợn, đem vào rừng cúng tế. Họ dựng ban thờ bằng tre, cắt tiết mổ gà, bày cả xôi thịt, rượu ngon cúng bái. Thầy cúng làm xong phận sự, thì lễ vật là trâu, bò, dê, lợn sẽ được cột vào gốc cây, rồi mọi người kéo về làng. Từ cánh rừng nơi bày lễ cúng bái, tiếng gầm vang lên từ cánh rừng hoang thẳm, tĩnh mịch, khiến tất thảy đều sở hãi. Tiếng trâu, rống thảm thiết rồi tắt lịm sau một cú đớp rung chuyển núi rừng. Sớm hôm sau, dân bản kéo vào rừng, chỉ thấy còn cặp sừng trâu, bò, hoặc vài mẩu xương lợn, họ cho rằng Hổ thành tinh đã về thưởng thức lễ vật. Năm nào dân bản cúng bái đầy đủ, thì không có ai mất mạng, còn không cúng thần hổ, thì mạng người phải thế.

Tranh thờ[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh Ngũ hổ hàng trống

Không phải đền phủ nào cũng có tượng các vị thần linh để thờ, mà thường được thay thế bằng các bức tranh thờ dân gian, đó là những bức tranh được vẽ đơn giản, bằng chất liệu tự nhiên. Bố cục của tranh thờ không tuân theo luật viễn cận mà thường tuỳ theo chủ đề, hay địa vị của nhân vật mà người nghệ nhân sẽ thể hiện mức độ to nhỏ khác nhau, nhằm gây ấn tượng cho người xem tranh. Năm màu sắc chính: xanh, vàng, đỏ, trắng, đen, là ngũ sắc theo quan niệm ngũ hành, ngũ phương. Với bố cục chặt chẽ, đường nét, màu sắc sinh động, đã làm cho “Ngũ Hổ” trở thành một trong những bức tranh dân gian đạt giá trị nghệ thuật cao Bên cạnh những đồ thờ được bày ra[35].

Xuất phát từ tục thờ hổ, thần thánh hóa loài vật này, các nghệ nhân dân gian cũng xây dựng biểu tượng hổ qua nhiều chất liệu, trong đó hình thức tranh thờ đóng vai trò quan trọng, đặc biệt là ở Việt Nam. Nhưng mẫu tranh được biết đến nhiều nhất là tranh Ngũ hổ của phố Hàng Trống (Hà Nội), ngoài ra còn tranh Đông Hồ. Trong tín ngưỡng dân gian có nhiều tranh để thờ hổ như Hắc hổ, Bạch hổ, Độc hổ, Ngũ hổ. Tranh Ngũ hổ còn gọi là tranh Ông Năm Dinh, tượng trưng cho năm vị thần tướng ngự trị ngũ phương (năm phương trời), được vẽ thành năm màu[8]:

  • Hoàng hổ tướng quân (màu vàng) trấn nhậm trung tâm/Trung khu (hành Thổ): Một con hổ màu vàng trấn nhậm chính giữa trung tâm
  • Hắc hổ tướng quân (màu đen) trấn nhậm phương Bắc/Bắc khu (hành Thủy): Một con hổ màu đen trấn nhậm phương Bắc
  • Bạch hổ tướng quân (màu trắng) trấn nhậm phương Tây/Tây khu (hành Kim): Một con hổ màu trắng nằm trấn nhậm hướng Tây
  • Xích hổ tướng quân (màu đỏ) trấn nhậm phương Nam/Nam khu (hành Hỏa): Một hổ màu đỏ sậm nằm trấn nhậm phía Nam
  • Thanh hổ tướng quân (màu xanh) trấn nhậm phương Đông/Đông khu (hành Mộc): Một con hổ mày xanh nằm trấn giữ hướng Đông

Trong Đạo giáo Việt Nam thì các pháp sư Việt Nam từ Bắc chí Nam còn thường hay thờ các thần Ngũ Hổ bằng bức tranh con hổ hay Quan Lớn Tuần Tranh và hai con rắn Thanh XàBạch Xà quấn trên xà nhà trước bàn thờ. Tranh dân gian Đông Hồ còn có bức vẽ Huyền Đàn Trấn Môn, vẽ hình một vị Thần mặc áo xanh, cưỡi trên lưng một con cọp màu đen, cũng được gọi là Hắc Hổ Huyền Đàn hay Huyền Đàn Nguyên Soái. Trong hệ thống Đạo giáo được phong là "Như ý Chánh nhất Long hổ Huyền Đàn Chân quân", cai quản các Cát thần lo việc giúp người lương thiện. Ngày xưa tranh được dán nơi cửa chính ra vào của ngôi nhà. Huyền Đàn Trấn Môn thực chất được sử dụng như một lá bùa (linh phù), có công năng trấn giữ cửa nẻo, ngăn ngừa tà ma.

Quan niệm[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh Ngũ hổ
Tranh Ngũ hổ

Trong quan niệm dân gian Việt Nam, hổ cũng tượng trưng cho sức mạnh. Dân gian đã thần thánh hóa hổ, cho nó một sức mạnh linh thiêng diệt trừ được ma quỷ. Bởi vậy, hình tượng con hổ đã trở thành phổ biến trong nghệ thuật dân gian Việt Nam, được vẽ thành tranh thờ cúng ở các đền, điện, đình, miếu[19]. Theo truyền thống có từ xa xưa, tranh ngũ hổ là bộ tranh dân gian thường được treo ở gian thờ chính diện của ngôi nhà. Không trưng trên bàn thờ gia tiên như những bức tranh ngũ quả, tranh ngũ hổ thường treo ở bàn thờ dành riêng cho “ông Ba mươi”, dưới bàn thờ thần thánh hoặc thờ Phật.

Trong tục thờ, có gia đình thờ tranh ngũ hổ; có gia đình chỉ thờ một ông. Những người thờ phụng “ông” hổ đều tin rằng có một sức mạnh siêu nhiên phù hộ cho gia trạch bình an, loại trừ tai nạn. Tục thờ này bắt nguồn từ một cuộc sống nguyên thủy, khi con người còn sống trong điều kiện săn bắt, hái lượm hoặc giai đoạn đầu của cuộc sống nông nghiệp, thì hổ chính là sức mạnh thiên nhiên gần gũi và là tai họa đối với con người, do đó phải thờ hổ[8] Ở nhiều gia đình người Việt ngày nay vẫn treo tranh thờ ngũ hổ như một lá bùa trấn tà ma. Tranh hổ thường được treo chính giữa gian thờ hoặc dưới ban thờ thần thổ công. Khi treo tranh luôn phải chú ý đến địa điểm, tránh treo gần nơi ăn ngủ, tốt nhất là thẳng gian chính điện. Một số gia đình kỵ treo tranh thờ riêng một thần hổ, đó phải là Hoàng hổ mới an thịnh, nếu không phải thờ ngũ hổ.

Theo quan niệm dân gian, ngũ hổ có thuật biến hóa khôn lường. Ngoài việc thờ hổ để cầu sức khỏe, bình an, trong tín ngưỡng tâm linh, người ta còn cầu cho vạn vật sinh sôi nảy nở theo quy luật trời đất. Từ xưa dân ta đã cho rằng thần hổ trấn bốn phương, bốn cõi, có uy quyền trong tay, vạn vật có sinh tồn được hay không là do ngài phán quyết. Việc thờ thần hổ còn ngụ ý mong cho gia đình sung túc, mạnh khỏe, tai qua nạn khỏi, hưng thịnh, vật nuôi trong nhà được vỗ béo, có thể thấy, hổ có vị trí, vai trò rất đặc biệt trong mọi mặt đời sống xã hội[9].

Tác phẩm hội họa dân gian tiêu biểu nhất vẽ về hổ mang tính cộng đồng thuộc về dòng tranh dân gian Hàng Trống. Tranh Hàng Trống khắc họa hình tượng ngũ hổ, còn được gọi là tranh ông Năm Dinh. Hình tượng ông Năm Dinh sau được kết hợp độc đáo trong bản điện thờ tín ngưỡng tam, tứ phủ với đủ phong cách thể hiện[9], tranh ẩn chứa nhiều thông điệp của nền văn hóa cổ phương Đông, “Ngũ hổ” là đặc sản của dòng tranh này[90] Năm 1971, bộ tranh dân gian Ngũ Hổ được công ty tem Việt Nam, thuộc tổng công ty bưu chính, chọn in và cho cho phát hành rộng rãi. Kể từ đó, bộ tranh Ngũ Hổ trở thành bộ tem quý đối với các nhà chơi tem[88]

Bức tranh hội đủ 5 sắc màu tượng trưng của ngũ hành, tương ứng với từng thế, dáng của hổ. Theo tín ngưỡng xưa, trong nhà treo tranh ngũ hổ vì năm con hổ tượng trưng cho các vị thần trấn giữ 5 hướng: Đông, Tây, Nam, Bắc và Trung tâm. Theo thuyết Âm dương Ngũ hành thì hành thổ là sự quy tàng của bốn hành kia trong chu kỳ vận động của Ngũ hành. Đó là nguyên nhân cho việc tạo màu trong tranh thờ ngũ hổ, là nguyên nhân để hổ vàng đứng giữa và lớn hơn cả. Việc bố trí màu sắc của từng con hổ xung quanh hổ vàng cũng có lý, khác với tranh ngũ hổ của làng tranh Đông Hồ, màu sắc của năm con hổ được bố trí theo quan hệ tương khắc, thì ngũ hổ của Hàng Trống lại thể hiện sự tương sinh giữa các hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.

Trên đầu hổ vàng, dưới mặt trời đỏ rực rỡ có 7 chấm trắng là hình tượng của chòm đại hùng tinh. Chân hổ vàng trấn lên một miếng phù có ghi “pháp đại uy nỗ”. Hai bên hổ vàng: bên phải có 5 thanh kiếm, bên trái có 5 lá cờ lệnh. Hình ảnh của cờ lệnh và kiếm trong tranh ngũ hổ thể hiện sức mạnh của thiên nhiên trong quy luật vận động của vũ trụ và sự tương tác với trái đất. Hỗ trợ cho khí phách của ngũ hổ là những đám mây vần vũ huyền ảo được vẽ ở phía trên và phía dưới là 2 tảng núi cách điệu đối xứng cho 2 ngài hổ đứng, gợi cảm giác về một lá bùa chú vì thế treo tranh ngũ hổ cảm thấy yên tâm vì được che chở[90].

Bố cục[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ tranh tượng Ngũ hổ có màu sắc tương hợp với ngũ sắc (theo quan niệm Ngũ hành) trấn giữ ngũ phương phổ biến trong các dinh phủ, đền thờ thuộc tín ngưỡng thờ Mẫu ở Bắc bộ cũng là biện sự từ tính năng dũng mãnh và hung dữ của hổ, chúng không chỉ bắt nguồn từ tín niệm “Tứ phương tứ thần” của Đạo giáo nói trên mà tuồng như là phiên bản của tổ chức quân đội là ngũ đội hay năm đội/toán quân thiện chiến gọi là Ngũ hổ. Chỉnh thể “ngũ phương” gồm tứ phương và trung tâm/trung ương: Tâm điểm trung ương này là thiên đỉnh, hàm nghĩa là trục vũ trụ nên nó có tầm quan trọng vượt trội[19].

Tranh Ngũ hổ Hàng Trống vẽ năm con hổ được bố cục đông đầy, cân đối trên mặt giấy. Mỗi con một dáng vẻ, con thì đứng, con thì ngồi, con cưỡi mây lướt gió, từ dáng dấp đến ánh mắt, chòm râu, vẻ mặt cùng khí thế toàn thân đều toát lên sức sống mãnh liệt của loài chúa sơn lâm, làm bật lên sức sống nội tại của nhân vật, thể hiện sức mạnh của loài mãnh chúa với khối thân chắc khỏe, dáng ngồi, thế đứng đường bệ, oai phong, đặc biệt những chiếc đuôi như đang ve vẩy, uốn vồng lên để đập xuống đất hoặc bật chồm lên. Mắt hổ như hừng hực nội lực của loài mãnh chúa, lột tả rõ nét sự oai hùng, lẫm liệt[9][90]. Từ tư thế, dáng dấp, nét mặt, ánh mắt, màu lông, chòm râu của hổ đều được ước lệ, cách điệu hóa nên đã tạo cho các bức tranh ngũ hổ có bố cục hài hòa, vững chải.

Tranh thờ hổ được thể hiện bằng những nét vẽ mang phong cách ước lệ, ẩn chưa những thông ti huyền bí của tín ngưỡng dân gian, từ ánh mắt, thế đứng, cách đặt chân. Bức tranh hội đủ năm sắc màu tượng trưng của ngũ hành mà “ông” hổ màu vàng uy nghi ở giữa tượng trưng cho Thổ, còn xung quanh là bốn ông với bốn màu khác nhau mà theo thuyết âm dương thì Thổ là sự quy tàng của bốn hành kia trong chu kỳ vận động của ngũ hành. Nếu so sánh với nghệ thuật vẽ tranh ngũ hổ của Trung Quốc là hình ngũ hổ có màu xanh lá cây và màu vàng, trán có hình bát quái, đứng thành vòng vây quanh đồng tiền, thì tranh ngũ hổ Việt Nam vẽ năm con hổ với năm màu tượng trưng cho trung tâm và bốn hướng với bố cục cân đối[19].

Màu sắc[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh Ngũ Hổ được thờ trong nhiều gia đình ở Việt Nam

Ngoài hình dáng oai phong đường bệ, năm con hổ này có với năm màu nhất định tượng trưng cho ngũ hành. Màu sắc trong tranh Ngũ hổ là một thế giới hòa sắc, lộng lẫy, uy linh. Nhưng nó vẫn được khu biệt với năm màu: xanh, đỏ, trắng, vàng, đen trên năm nhân vật. Ở phương trung ương này thuộc hành Thổ, biểu thị là Hoàng hổ[19]. Đồng thời, từ các màu ngũ sắc, các nghệ nhân còn trang trí thêm màu kim nhũ, ngân nhũ nên các tranh Ngũ Hổ tạo huyền bí, lóng lánh và trang nghiêm, tranh Ngũ Hổ vừa đậm chất dân gian, vừa huyền ảo, độc đáo[88] Ngoài 5 màu chính (ngũ sắc), nghệ sĩ dân gian còn điểm thêm bạch kim hoặc hoàng kim, làm cho các bức tranh thêm rực rỡ.

Theo thuyết ngũ phương, ngũ hành của Trung Hoa, người xưa quan niệm, tranh Thanh Hổ tướng quân thuộc Mộc khu, Bạch hổ tướng quân thuộc Thủy khu và Hoàng hổ tướng quân thuộc Địa khu. Cũng theo quan niệm “ngũ phương”, “ngũ hành”, người nghệ sĩ dân gian Việt Nam đã sử dụng bảng màu ngũ sắc để thể hiện từng vị thần hổ. Con hổ ngồi chính giữa bức tranh được vẽ vờn bằng màu vàng, tượng trưng cho hành Thổ; thanh hổ, con hổ được vẽ bằng màu xanh là tượng trưng cho hành Mộc, ứng với phương Đông; bạch hổ được vẽ bằng màu trắng, là hành Kim ứng với phương Tây; xích hổ được vẽ bằng màu đỏ, là hành Hỏa ứng với phương Nam; hắc hổ được vẽ bằng màu đen, là hành Thủy ứng với phương Bắc[8].

Bộ tranh dân gian “Ngũ hổ tướng” tuy hư cấu nhưng cũng dựa một phần vào sự kiện có thật. Ngoài hổ vàng hay hổ khoang vàng là màu đặc trưng, trong thiên nhiên, đôi khi con người cũng gặp những cá thể hổ màu trắng hay hổ đen. Đây là hiện tượng “bạch biến” hay “hắc biến” của nhiều loài thú rừng. Màu đen do sắc tố đen (hắc tố) trong lông hình thành. Nếu toàn bộ lông bị sắc tố này chi phối, hổ sẽ có màu đen tuyền. Nếu toàn bộ sắc tố này bị hủy, lông sẽ có màu trắng. Còn hổ xanh hay hổ xám cũng được cho là có thật, hổ đỏ (là màu vàng sậm đỏ) là do người ta thêm thắt vào cho hoàn chỉnh bộ ngũ hổ, sắc tố màu xanh hay màu đỏ rất hiếm ở các loài thú, hiện mới chỉ thấy ở loài khỉ[91].

Thờ Mẫu[sửa | sửa mã nguồn]

Tục thờ hổ còn gắn liền với các tín ngưỡng khác, đặc biệt là tín ngưỡng thờ Mẫu. Tranh hổ được phổ biến nơi các đền điện thờ Thánh Mẫu hay Đạo Mẫu gọi là Đồng Cốt. Ở Miền Bắc, có tục thờ Bà Chúa Thượng Ngàn nơi rừng núi, Mẫu Thoại nơi sông nước, Bà Liễu Hạnh ở đồng bằng, thần Thiên Y A Na ở Huế, Bà Đen, Bà Chúa Sam ở Nam Bộ tất cả đều chung gốc gác là tục thờ Thánh Mẫu thời nguyên thủy. Rải rác phía Bắc có nhiều đền thờ Thánh Mẫu. Nơi bàn thờ thứ ba thừơng thờ Hổ gọi là “hạ ban” vì thờ dưới đất[13] (người Huế gọi hổ là ông Hạ ban), trong tín ngưỡng nguyên thủy, không riêng gì ở Việt Nam, tục thờ cọp như một phúc thần, và thờ Thánh Mẫu có thể phát triển song hành rồi gặp nhau qua hình tượng con hổ trong các chi nhánh của Đạo Mẫu.

Việc phụng thờ thần hổ trong điện thờ đạo Mẫu Việt Nam được thể hiện rõ nét Ban thờ thần hổ trong điện thờ mẫu. Trong điện thờ đạo Mẫu Việt Nam, thần hổ được thờ cúng với tư cách là một sơn thần, có ban thờ riêng với một số nghi thức, nghi lễ đặc trưng[9]. Việc thờ Thần Hổ gắn với việc thờ Mẫu trong dân gian là một lệ tục tín ngưỡng văn hoá tâm linh đã trải qua nhiều mốc thời gian cho đến ngày nay vẫn đang tồn tại bóng dáng ở những ban thờ Mẫu, ở chùa, đền và miếu[92].

Ý nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng Hổ mẫu và hổ nhi được thờ ở Thái Lan ở Wat Tham Suea

Ý nghĩa của việc phụng thờ thần hổ trong điện thờ đạo Mẫu Việt Nam được thể hiện qua việc phụng thờ thần hổ không phát triển độc lập mà tồn tại song hành cùng với các tôn giáo, tín ngưỡng khác, đặc biệt là tín ngưỡng thờ mẫu. Sự hiện diện của ngài hổ trong điện mẫu đã khẳng định uy quyền, sức mạnh của các vị thần tự nhiên trong hệ thống bách thần của người Việt. Hổ đã đi vào tâm thức dân gian với sự cung kính, tôn sùng bởi quyền năng trừ tà, ban phát tài lộc, công danh cho mọi người[9].

Tín ngưỡng thờ mẫu tam, tứ phủ về bản chất là sự tôn sùng quyền uy nữ thần, vai trò người phụ nữ, người mẹ. Tượng pháp trong điện thờ miền Bắc sắp xếp theo trật tự không gian từ cao xuống thấp. Trong đó, trung điện thờ các chư vị thiên thần, nhân thần. Hạ điện thờ ngũ hổ. Thanh xà, bạch xà cuốn trên xà ngang thuộc tầng cao nhất của điện. Có thể thấy, thần hổ giữ vị trí nhất định trong điện thờ đạo Mẫu, thể hiện sự cân bằng giữa hai miền thiên phủ, địa phủ, góp phần trấn an cho cửa điện[9].

Sự phối thờ độc đáo trong điện thờ mẫu là kết quả của tín ngưỡng đa thần của người Việt, khẳng định vai trò, sức mạnh và sự khuất phục của muôn thú trước quyền uy của thánh mẫu. Hình tượng ngũ hổ tiêu biểu cho sức mạnh toàn năng, có thể cứu độ, giúp đời, trấn yên bản điện. Ngũ hổ được coi là bộ hạ đắc lực của thánh mẫu trong việc trừ tà ma, ngoại đạo. Việc phụng thờ ngũ hổ đã thể hiện đầy đủ yếu tố hoà hợp trong quy luật vận động của thuyết âm dương. Năm ông hổ biểu thị cho sức mạnh của dòng nam thần[9].

Bài trí[sửa | sửa mã nguồn]

Bạch hổ (hổ trắng) trong tranh Hàng Trống

Phủ Chúa Sơn Trang được đặt bên phải phủ chính. Chính giữa phủ Chúa là ban thờ Đệ Nhị Thượng Ngàn, hai bên là ban thờ Chầu Bé, Chầu Lục. Hạ ban Chúa Đệ Nhị là sự hiện diện của Ngũ Hổ-năm dinh quan lớn. Ngũ Hổ cai quản bốn phương và trung tâm, là linh vật quyền uy, là thần chiến trận, cứu giúp các chiến tướng trong trận mạc. Việc thờ Ngũ Hổ nhằm tạo thêm uy lực cho thế giới Mẫu hay đúng hơn đó là một biểu hiện của xu hướng hội nhập các thần linh dân dã vào hệ thống tín ngưỡng dân gian nổi trội này.

Trong điện thờ đạo Mẫu, ban thờ ngũ hổ đặt dưới điện thờ công đồng. Một số nơi tách riêng ban ngũ hổ như đền Mẫu Ba Cây (Sơn Tây), đền Mơ Táo (Hà Nội), đền Cửa Ông (Quảng Ninh). Một số đền, phủ thờ mẫu khác lại đặt ban ngũ hổ phía dưới động sơn trang như phủ Tây Hồ (Hà Nội), đền Cô bé Tân An (Lào Cai), đền Đồng Bằng (Thái Bình). Ban ngũ hổ thường được bài trí giống như một hang động lớn, có những phiến đá nhấp nhô, tạo thế của hang núi, mang dáng dấp huyền bí. Đây chính là nơi ngự trị của thần hổ, thường thờ tranh hoặc tượng. Nếu thờ một ngài, người phụng thờ phải xem bản mệnh, tìm hiểu căn mệnh hợp ngài hổ nào mới thờ riêng[9].

Trong ban thờ, cần sắp xếp vị trí theo hướng mà các ngài trấn giữ, tuân theo quy luật ngũ hành: hoàng hổ (màu vàng-hành thổ) ở vị trí chính giữa ứng với trung ương chính điện, thanh hổ (màu xanh-hành mộc) ứng với phương Đông, bạch hổ (màu trắng-hành kim) ứng với phương Tây, xích hổ (màu đỏ-hành hỏa) ứng với phương Nam, hắc hổ (màu xám đen-hành thủy) ứng với phương Bắc. Hình tượng ngũ hổ không chỉ tượng trưng cho ngũ hành với mối quan hệ tương sinh, tương khắc trong vũ trụ mà còn để thể hiện quyền uy của mỗi vị thần trong phép nhà thánh. Trong đó, hoàng hổ tướng quân giữ vai trò trưởng trung cung, có nhiều quyền phép, trấn giữ điều lệnh các phương là vị lãnh chúa cao nhất, thâu tóm mọi uy quyền, quyết định âm phù dương trợ cho dân gian[9].

Không có lịch cúng lễ riêng biệt đối với việc phụng thờ thần hổ, mà đan xen trong các ngày lễ lớn của tín ngưỡng thờ mẫu: ngày sóc, vọng, tết âm lịch, lễ hội. Ở các điện thờ tư nhân, việc thờ thần ngũ hổ có quy luật rất chặt chẽ. Đối với những người căn cao số nặng, khi mở phủ, mở điện, cần bố trí giống như trên cửa điện mẫu, bắt buộc phải có ban ngũ hổ. Những gia đình khá giả có thể thờ tượng, gia đình điều kiện chưa cho phép có thể bốc bát hương, treo ảnh thờ an vị. Ngũ hổ thờ trong điện có thể là tranh thờ, tượng thờ, hoặc vẽ trực tiếp trên hạ ban của điện thờ[9].

Hầu đồng[sửa | sửa mã nguồn]

Một nghi lễ hóa trang hổ ở Pulikkali của Ấn Độ

Trong thờ Mẫu, nghi lễ đặc trưng và quan trọng nhất là lên đồng (hầu đồng). Hầu đồng là một trong nghi lễ thờ tam, tứ phủ cũng có giá đồng hầu ngũ hổ. Nghệ thuật miêu tả lại sức mạnh thần hổ thể hiện rất rõ trong nghi lễ này[9]. Rất ít người hầu được quan hổ, khi hầu thường làm động tác như phun lửa, nhai bó hương đang cháy, quỳ ngậm hương gật đầu lễ, làm động tác hổ ngồi, hổ vồ mồi, nhai đĩa sống, đập vỡ đĩa, dấu mặn rạch lưỡi, phun rượu thánh trừ tà, đập trứng sống, ăn thịt sống, ngậm dầu phun lửa. Hầu ông Hổ thường không thay khăn áo, chủ yếu là khăn phủ diện che mình, ngài về không sang tai. Người ta thường ít hầu ông Hổ, vì hầu ông rất nặng ít người hầu được.

Trong nghi lễ, thần linh giáng bóng nhiều lần vào các ông đồng, bà đồng, theo thứ tự từ cao xuống thấp. Giá hầu ngũ hổ được xếp vào giá cuối cùng. Rất hiếm người hầu giá ngũ hổ, đó phải là người chịu căn cao bóng nặng của ngài mới được phép hầu. Người có căn mệnh hầu ngũ hổ là người hay nằm mơ bị hổ vồ, ăn thịt, hoặc bị ngã xuống núi, thấy nhiều cảnh chém giết, cảm giác trong người mệt mỏi khi khám bác sĩ không phát hiện ra bệnh. Hoặc khi về các nơi thiêng làm lễ tại ban thờ thần hổ mặt đỏ bừng, có biểu hiện kỳ lạ như vồ thịt sống, trứng sống để ăn, chui vào ban thờ hổ ngồi trong trạng thái mất kiểm soát.

Khi đến giá ngũ hổ ghế đồng, hợp vị thần hổ nào sẽ hầu vị đó, mặc sắc phục phù hợp, phía sau có thêu hình thần hổ cai mệnh. Con đồng phải vật lộn trên điện mất khoảng 10-20 phút chỉ để làm các động tác như gầm gừ, khuôn mặt hết sức dữ tợn, tay chân tạo dáng như thế hổ vồ, thường nhai đĩa sành. Chỉ người có căn mệnh mới thực hiện được động tác cào xuống đất, bọt mép tràn ra, đôi mắt mở to, miệng há rộng, hai hàm răng nghiến chặt. Ông hổ khi lên nhập vào giá con đồng ban phát lộc cho dân, thường lấy răng để cắp lộc phát cho từng người. Có những giá hầu, ông hổ ăn luôn cả trứng sống, thịt sống, cắn vỡ vụn chén rượu, đĩa để thị uy sức mạnh[9].

Xác Đồng lên vai hổ là một màn khó khăn, căng thẳng. Trong nghi lễ thờ mẫu có Động tác lên vai hổ “Trùm khăn đỏ (phủ diện) lên đầu, rồi tập trung, lấy tay che mắt, bỗng nhiên thấy hai vai chĩu nặng; con đồng lấy tay xoa mặt, xong chống tay xuống đất trong tư thế hổ ngồi, rồi gầm thét. Người tham dự biết rằng Thần Hổ đã giáng. Lập tức họ rót rượu vào bát rồi đốt. Con đồng nhúng tay vào, xoa mặt với rượu nóng. Nhìn lên điện thờ, đồng lại gầm thét. Người dự mang đến bó hương, đồng đốt hương và cắn vào ngọn lửa đang cháy. Sau đó có người mang đến đĩa dầu lửa và đốt lên. Con đồng cắn vỡ đĩa sành, mồm miệng đầy dầu lửa, và cứ thế lập lại nhiều lần.

Cho đến khi cử tọa yêu cầu ngưng, để biểu diễn việc trừ tà và cho thuốc. Cuối cùng "Thần Hổ thăng”. Tạo không khí cho vai Thần Hổ, có nhạc đệm sênh phách, đờn ca bài hát chầu văn đặc biệt Ngũ Hổ luyện văn liên quan đến hổ gồm: “Trên thượng thiên có năm tướng hổ, luyện người về để độ vạn dân. Phật ban cho phép đại uy linh. Có phen hống động thiên đình, Giương nanh ra vuốt quỷ tinh bạt hồn. Có phen tướng xuống Diêm môn, Tà ma cũng phục, Phạm Nhan thu hình. Xuống Thủy Tinh các tòa cũng phục,Năm ông đều lại tót lên non. Khi thời biến ra hổ thần,Hiện ra hổ tướng nhãn tinh sáng lòe”.

Bùa chú[sửa | sửa mã nguồn]

Việc tôn sùng hổ còn được thể hiện thông qua các hình thức mê tín là bùa chú, ở đây vị thế tâm linh của con hổ được thể hiện khá rõ nét qua hai loại bùa chú, đó là bùa hộ mệnh là các loại bùa chú bảo vệ cho con người, xua đuổi ta mà, ở loại bùa này, hổ hiện thân là phúc thần chuyên bảo vệ cho con người. Ở loại thứ hai là bùa ngải, là những loại bùa hại người, được sử dụng từ thành phần có nguồn gốc từ hổ, ở góc độ này hổ hiện thân là ác thú hại người bằng việc bùa ám.

Bùa hộ thể[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều người mê tín cho rằng hổ là biểu trưng cho sức mạnh của đại ngàn, sống nơi rừng già, ăn thức quý, uống nước rừng, sống trong rừng sâu nên hấp thụ được linh khí của đất trời, bất cứ cái gì trên thân thể con hổ đều được cho là có khả năng trừ tà.

Sự sùng bái đến mức mê tín dị đoan thông qua việc sử dụng các bộ phận của hổ đem theo bên mình để tạo niềm tin như bùa hộ thân, bất cứ cái gì trên thân thể con hổ đều được cho là có khả năng trừ tà, đắt giá nhất là những cái vuốt hay răng nanh hổ. Người ta thường làm chiếc nanh hoặc vuốt hổ, hoặc răng hổ bịt vàng bạc hoặc chiếc vuốt làm bằng sứ, kim loại cho trẻ con đeo để trừ tà ma, ngay từ lúc lọt lòng, trẻ con đã được đeo cái buà hộ mệnh ấy hoặc người lớn cũng đeo cho đẹp và tỏ ra oai vệ, nhu cầu săn lùng và đeo nanh vuốt hổ để thỏa nguyện mọi ước mong tiền tài, danh vọng, sức khỏe đã trở thành niềm tin, nhu cầu của nhiều người[93].

Người Campuchia khi giết hổ thường lấy nanh hổ đánh bóng bán làm vật trừ tà[94][95]. Người HoaBắc Giang thường đeo vòng đeo tay bằng kim khí có đính móng hổ để hộ mệnh, trừ đuổi vía độc hay làm hại trẻ em[96]. Người Sán Dìu đem bộ da Hổ đem phơi khô, nhồi trấu vừa làm vật trang trí trong nhà, vừa làm bùa hộ mệnh vì bộ da là dáng hình và linh hồn con Hổ còn quanh quẩn, vừa để bảo vệ mọi người may mắn về sức khoẻ và an toàn cho các thành viên trong gia đình, ít khi gặp ốm đau và bệnh tật[97] Xương hổ hay còn gọi là cao hổ cốt (khi được điều chế) nếu được dùng để gối đầu thì ngủ yên không chiêm bao thấy những sự ghê sợ, hoặc treo lên giữa cửa nhà sẽ trừ được ma quỷ.[98][99][100][101][102], nhiều người Nam Bộ còn tin rằng ông cọp bảo vệ trẻ con, khi trẻ bị bệnh chỉ cần vuốt râu ông Cọp thì sẽ khỏi[42].

Theo quan niệm của những người dân sơn tràng thì trong rừng con hổ là loài vật hùng mạnh và rừng thiêng nhờ có hổ dữ, nó là loài vật có linh tính[103] và có linh khí nên trong bán kính gần 1 km, không có con vật nào dám bén mảnh đến, kể cả giống chó săn cũng không có con nào dám đến gần[104]. Nhiều thợ săn tin rằng hổ là loài vật có tánh linh hay có linh tính có thể nhận biết hơi người, tránh các loại bẫy[105] Trong rừng có cọp thì ma người, ma trâu, voi phải sợ hổ sống, mà nó không sợ ai khác vì nó có giác quan nên am hiểu và giao du với cõi âm. Nó gầm ghè, trấn áp đuợc ma quỷ. Người trần không thấy được ma quỷ nên nhiều lúc bị chúng tấn công. Còn hổ dường như thấy rõ, nên ma quỷ phải khúm núm[93].

Nhiều người tin rằng sở hữu nanh vuốt hổ sẽ trừ tà ma, quy phục được thú dữ, xua đuổi được quỷ ám

Người ta quan niệm rằng, hổ là chúa tể của rừng xanh nên hội tụ đủ sức mạnh thiên nhiên, hổ là biểu trưng cho sức mạnh của đại ngàn, sống nơi rừng già, ăn thức quý, uống nước rừng, sống trong rừng sâu nên hấp thụ được linh khí của đất trời, đeo nanh vuốt hổ thì càng hưởng nhiều đặc ân của thần linh, trời đất[93]. Hổ càng già thì nanh càng lớn và uy lực của nó càng mạnh, sở hữu được chiếc nanh hổ tinh đã ăn thịt nhiều người sẽ không sợ con vật hung dữ nào[106], các loài chó sói, gấu, rắn hổ chúa khi nhìn thấy bóng vía là chúng sẽ quỳ xuống, việc đeo móng hổ còn giúp chủ nhân tránh bị tà đạo, ma quỷ làm hại, đạn bắn không trúng, tạo phong cách ngầu[107].

Móng hổ cũng là vật bùa là vì con hổ trước khi giết con mồi bằng bộ hàm thép thì nó cần những chiếc vuốt chụp và bấu chắc vào không cho nó trốn thoát[100][101][102][108]. Trẻ con hay người lớn đeo nanh cọp trước ngực sẽ tránh được phong hàn, gió độc, nanh cọp tên bắn không thủng, đạn ghim không chết, đi rừng gặp thú dữ nào cũng không sợ chúng tấn công. Ở Đà Lạt trước đây, binh lính, sĩ quan cả người Kinh lẫn người Thượng thường đeo móng cọp để tránh bị tà ma hãm hại và khi ra trận tiền tên bắn không trúng, đạn ghim không thủng, chỉ cần chơi cái nanh cọp này thì ma trêu quỷ ghẹo gì cũng hết.

Nhiều người thường đi tìm nanh cọp để phòng thân, và tạo nó thành món hàng trang sức độc đáo. Nhiều thư tịch cổ và từ tự sự, ngoài tác dụng trấn trừ tà ma, khu phong bài chướng khí, ngày trước nhờ nanh vuốt mà các chiến binh rừng xanh tránh được họa đao thương. Những chiến binh người Chơro kể chuyện nhờ chùm nanh hổ bảy cái đeo cổ mà khi lâm trận, mũi tên, hòn đạn của kẻ thù không bao giờ chạm được vào người. Nanh vuốt hổ có tác dụng khu phong, trấn quỷ trừ tà, mang lại nguyên khí, tài lực cho người đeo nó[109]

Tục đeo nanh thú xuất phát từ các bộ tộc xa. Cũng có nhiều dân tộc dùng nanh vuốt thú này để thờ cúng, cầu mong những lần săn bắn tiếp theo sẽ thu hoạch được nhiều chiến lợi phẩm hơn. Khi giết được con thú, thợ săn sẽ bẻ nanh của nó xỏ dây đeo cổ để đánh dấu chiến tích của anh ta[109] Tục đeo nanh vuốt thú rừng xuất phát từ một số người dân tộc thiểu số ở Việt Nam ngày xưa, họ coi đó là bùa hộ mệnh giúp tránh thú dữ, gặp may mắn trong săn bắn và tôn thêm vẻ uy nghiêm, mạnh mẽ của con người trước thiên nhiên hoang dã. Việc đeo hay sở hữu nanh thú rừng chủ yếu xuất phát từ niềm tin tâm linh và tín ngưỡng dân gian[110]. Việc sở hữu những chiếc răng nanh, móng vuốt như để thể hiện đẳng cấp và họ coi đó là một món đồ đem lại may mắn, có thể hóa giải những tai ương trong cuộc sống[100].

Theo quan niệm này thì đeo nanh vuốt sẽ đem lại may mắn, nắm bắt thời cơ, tránh được những điềm gở, giải trừ ma quái, bệnh tật, bảo vệ linh khí, trừ tà, tránh được tà ma, bệnh tật và may mắn trong kinh doanh, buôn may, bán đắt, đeo những món đồ trang sức từ nanh vuốt thú rừng sẽ gặp thời vận, thịnh vượng, đem lại may mắn, chủ nhân có khả năng nhìn thấu suy nghĩ người khác, hay khi đeo chúng trên người sẽ giúp chủ nhân thâu tóm thời vận, may mắn, thịnh vượng, tránh được tà ma, bệnh tật. Mỗi người tìm mua nanh vuốt thú rừng với những mục đích khác nhau nhưng đa phần họ đều gắn cho nó những quyền năng vô song như đạn bắn không trúng, tránh được tai họa, buôn may bán đắt, thuốc chữa bệnh nan y. Trẻ con tránh được phong, kẻ trộm không lo bị chó sủa cản đường hay gia chủ phát giác, tên bắn không ghim, đạn găm không thủng và không bị các loài thú dữ khác tấn công bởi người ta nói rằng, nanh vuốt thú rừng đã được “yểm bùa”. Vì niềm tin tâm linh ấy mà nhiều người săn lùng cho được để vừa làm “bùa hộ mạng” vừa làm vật đeo trang trí.

Bùa ngải[sửa | sửa mã nguồn]

Râu cọp (hổ tu) là thành phần của trò chơi ngải của các thầy phù thủy ma giáo, râu hổ cắm vào búp măng tre có thể chế thành ma thuốc độc hại người như bùa chú của những người Mường ở Thanh Hóa. Những thầy cúng bùa chú thường thờ thần ếm, thần bùa trong nhà, mỗi thầy ếm bùa phía ngoài vườn thường có một gian thờ nhỏ, trong đó có thờ một con sâu to như cái cán dao, không hóa bướm, thức ăn chủ yếu là xác động vật. Phân của con sâu này rất độc, được kết hợp với nhựa cây sui lấy trên rừng trộn lẫn, hỗn hợp chất độc đó được tẩm vào khăn, áo, mũ, ai ngấm phải chất độc trên sẽ ốm, yếu mà không thấy nguyên nhân gây bệnh, lâu dần sẽ chết, không có thuốc chữa. Con sâu đó được sinh ra từ râu của con cọp, nên mỗi khi đi săn được cọp, các thợ săn lập tức phải đốt ngay bộ râu cọp đi kẻo nó lại rơi vào tay thầy bùa[111].

Nèm bùa có nhiều loại, nèm cá không ảnh hưởng đến người đi nèm, còn nèm thú sẽ có ảnh hưởng không tốt đến bản thân người săn được thú, khi nèm được bất cứ loại thú rừng nào cũng đều phải chia đều cho cả bản ăn xem như san sẻ nghiệp chướng của mình cho mỗi người gánh một ít. Nếu nèm được thú rừng có linh khí thuộc loại trung bình như hươu, nai tương ứng với nó sẽ có một con vật nuôi trong nhà như chó, mèo sẽ phải chết theo, nếu nèm được những con vật có linh khí mạnh như hổ, báo thì vật hy sinh “mạng đổi mạng” có khi lại chính là người trong gia đình thầy nèm thú do vậy nèm săn thú ít được người Mường sử dụng[111].

Một loại ngải khác có tên khá kinh dị là Huyết nhân ngải. Loại ngải này mọc trong các khu rừng có thú dữ. Muốn tìm được Huyết nhân ngải, phải đợi vào đêm, khi ngải ửng lên màu đỏ như máu mới có thể nhìn thấy và nhổ được vì ban ngày lá cây màu xanh như bình thường. Hoa của loài ngải này nhỏ li ti và có màu đỏ như những giọt máu. Tương truyền, loài hổ báo sau khi ăn thịt những người tuổi Dần sẽ bỏ lại quả tim của nạn nhân, từ quả tim bỏ lại đó sẽ mọc lên Huyết nhân ngải. Khi nhổ loài ngải này, phải đọc thần chú, luyện để nó hội đủ khí âm dương trong hàng năm trời. Củ của Huyết nhân ngải nếu đem ngậm một lát nhỏ sẽ giúp nhịn đói 1 tuần mà sức lực không suy giảm. Ngải này giúp người dùng có thần giao cách cảm, đoán biết được những sự kiện nghìn trùng xa cách[112].

Loại Huyết ngải độc thần tướng tại chùa Angkor Vat (Đế Thiên) theo truyền thuyết có một con cọp trắng đã tu luyện thành tinh thường xuyên vào làng chùa Đế Thiên bắt người ăn thịt. Thợ săn đánh bẫy nhưng tất cả đều bị cọp vồ chết. Vào một đêm sư cả nằm mộng gặp một vị thần cho biết, ở một địa danh có tên T'ruong Cua Lo ở phía đông bắc, một tiều phu bị cọp vồ ăn thịt nhưng chừa lại trái tim, dân làng chôn trái tim nơi cửa làng, sau đó sau nơi ngôi mộ trái tim mọc lên một cây chỉ có hoa màu máu chuyên ăn thịt người đó là Neap Pen nếu tìm cây đó về luyện thành thuốc độc để diệt trừ cọp dữ, kể cả những thế lực khác gây họa cho dân làng[113].

Có một chàng trai mồ côi cha mẹ do cọp trắng vồ tin lời nguyền giết cọp trả thù cho cha mẹ, tìm đến một địa danh có tên là Bor Trak gặp dân làng chỉ cho anh tìm đến ngôi mộ có cây hoa máu. Bor Trak là một địa danh thuộc miền Trung Việt Nam tương truyền là Bố Trạch, Quảng Bình. Anh đem cây Neap Pen về chùa Đế Thiên luyện vị thuốc độc trị cọp (gọi là Khalamay). Sau đó, anh đứng trên chảng 3 cây trước đầu gió dụ cọp. Khi con cọp đánh hơi người tiến tới, thanh niên dùng móng tay búng chất bột xuống mặt cọp, vừa thét to những lời nguyền rủa con cọp (lời nguyền rủa ấy trở thành một phần câu chú độc sát của các pháp sư hiện nay khi sử dụng Khalamay). Cọp bị say thuốc chạy quáng quàng vào rừng cắn nát nhiều gốc cây to rồi chết. Anh này không đốt chết cây mà lén đem về một vùng núi sâu ở Campuchia trồng[113].

Lễ bầu Ông[sửa | sửa mã nguồn]

Hổ được suy tôn làm chủ của làng thông qua tục lệ bầu ông
Đình thần Bình ThủyCần Thơ là nơi diễn ra lễ Tế giang sơn và cúng hổ

Các tỉnh Nam Bộ nhiều nơi kể về cổ tục Bầu Ông Cọp làm Hương cả của làng (gọi là tục Bầu Ông) theo đó, từ thời khai hoang đến tận cuối thế kỷ XIX, các làng ấy không ai dám đứng ra nhận chức Hương cả, bởi theo sự xác tín rằng kẻ nào cả gan như vậy tức thì bị cọp ăn thịt ngay. Chuyện cử cọp làm Hương Cả là một cách biểu hiện của việc thờ cọp. Đây là tín ngưỡng thờ cọp như vị thần bảo hộ cộng đồng, một tín lý bắt nguồn từ thực tế của lưu dân thời khẩn hoang ở vùng đất mới[28], do sợ cọp mà họ lập miếu thờ sơn quân chi thần, thờ Chúa xứ sơn lâm, thờ Thần Hổ và bầu cọp làm Hương Cả của thôn làng và “mô típ “Ông Cả Cọp” là một mẫu đề dân gian được hình thành từ tâm thức tôn trọng lề luật đã có từ trước, một giao ước của con người với thiên nhiên để cùng tồn tại[25].

Nam Bộ ngày trước nhiều người sợ cọp nên mỗi làng chỉ cử đến Hương chủ, vì chức Hương cả phải nhường cho cọp (tục lệ này có ghi trong Minh điều hương ước ban hành năm 1852), các làng quê Nam Bộ thường có tập tục cử cọp giữ chức Hương cả của làng, không ai trong các thôn làng được giữ chức vụ này cả, chỉ giữ chức vụ thứ nhì, tức chức Hương chủ[77] Đến nay tập tục Bầu Ông vẫn còn duy trì trong chương trình lễ cúng Kỳ Yên ở đình làng tại một số thôn xã, mặc dù, ở các làng từng có tập tục bầu cọp làm Hương Cả đã bỏ điều kiêng kỵ này từ đầu thế kỷ 20. Nay, tục cúng Cả cọp vẫn còn nhưng chỉ nhằm cầu an cho bá tánh.

Tục lệ này xuất phát từ những câu chuyện huyền kỳ theo Mộtip Ông Cả Cọp, là một môtip rất phổ biến trong nhiều truyện kể ở Nam Bộ từ miền Đông đến miền tây Nam bộ như: Ông Cả cọp (Bà Rịa-Vũng Tàu, Đồng Nai), Ông Cả cọp Mỹ Điền (Tiền Giang), Ông cả cọp (Bến Tre) để giải thích một tập tục thờ cọp phổ biến trong buổi đầu đi khai phá khi con người phải thừa nhận những sức mạnh của tự nhiên, mà cọp là một đại diện tiêu biểu[77] Truyện giải thích tập tục tôn cọp làm chức Hương Cả và lệ cấm kỵ không bầu cử bất cứ một người nào trong thôn làng nắm giữ chức vụ này.

Vì Cọp là hương chức đứng đầu, nên hàng năm, tùy theo đình chọn ra một ngày để làm lễ "Bầu ông", thường là vào dịp cuối năm hay trước khi tổ chức lễ Kỳ yên đình lang, dân chúng tổ chức lễ Bầu Ông với lễ gồm cúng một con heo trắng, kèm theo một tờ cử hương chức. Tờ cử có nội dung cả làng cử cọp làm chức Hương Cả (với nhiệm kỳ một năm), được đặt trong một cái ống tre ở một địa điểm cố định, đêm ấy, cọp về ăn sạch cái đầu heo và đổi "tờ cử" cũ, nhận "tờ cử" mới đem vào rừng. Nếu thôn làng có người nào cả gan đứng ra làm chức Hương Cả thì sẽ bị cọp vồ chết ngay. Cổ tục này được ghi nhận rộng rãi trên khắp miền Nam Việt Nam.

Trên thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Tín ngưỡng thờ Hổ được ghi nhận ở nhiều vùng lãnh thổ ở châu Á, trong đó tục thờ hổ chủ yếu được tìm thấy ở vùng Viễn Đông của Nga (tập trung ở Siberia), ở bán đảo Triều Tiên (nhất là ở Hàn Quốc), ở một số vùng thuộc Trung Quốc, nhiều nơi của Ấn Độ, nhiều quốc gia Đông Nam Á đặc biệt là ở Việt Nam.

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng hổ trong một ngôi chùa Phật giáo Trung Hoa

Tại Trung Quốc, tập tục sùng bái và thờ cúng hổ cũng bắt nguồn từ khu vực hổ thường xuyên hoạt động, sau đó lan rộng trong phạm vi đại lục Trung Hoa. Một số dân tộc thiểu số vùng Hắc Long Giang đều có tín ngưỡng thờ thần hổ. Tín ngưỡng này khởi nguyên từ rất nhiều truyền thuyết hay về hổ như truyền thống của dân tộc A Khắc Đằng Bộ, hay dân tộc Hách Triết đều cho rằng khai tổ của họ là hổ vì vậy họ phải thờ cúng hổ, tôn sùng hổ như là một vị thần tối cao, mà không được săn bắt hổ lấy thịt, lấy da như các dân tộc khác, đây cũng có thể là tập tục sùng bái vật tổ xuất hiện rất sớm ở thời kỳ viễn cổ.

Trong các dân tộc thiểu số vùng Tây Nam Trung Quốc, mối quan hệ giữa người dân tộc Di với hổ là nổi bật nhất. Người Di gọi hổ đực là La Pha, hổ cái là La Ma. Họ không chỉ coi số mệnh của mình như số mệnh của hổ mà còn tính hổ ở vị trí đầu tiên của 12 con giáp và tự coi dân tộc mình là dân tộc hổ. Họ cho rằng, người chết nếu không hỏa táng thì rất khó đầu thai làm hổ. Nhiều dân tộc ở vùng Vân Nam Trung Quốc cũng có tục sùng bái và thờ cúng hổ. Họ có nhiều truyền thuyết về người kết hôn với hổ sinh ra hậu thế là các dân tộc và dòng họ. Vì vậy, họ tôn sùng hổ là tổ tiên và tự xem mình là con cháu, là hậu duệ của hổ. Họ thờ thần Bạch Hổ, và coi việc bị hổ ăn thịt là điềm lành, như vậy là được lên tiên.

Con hổ còn là con vật tổ của những dân tộc khác nhau, Hổ là con vật tổ theo tín ngưỡng Bái vật tổ (Tôtem) của dân tộc miền tây Trung Quốc thời xa xưa, vùng đất Sở Hùng, Xuyên, Điền ở Vân Nam Trung Quốc từ xưa đã thịnh hành tín ngưỡng Tôtem thờ vật tổ là con hổ, là nơi tập trung tín ngưỡng thờ hổ của Trung Quốc. Dân tộc ở những vùng này phần lớn là hậu duệ của người Nhung Địch cổ (người Phương cổ) như: Di tộc, Bạch tộc, Thổ gia tộc, La Hủ tộc, Na-xi tộc, Li-su tộc, hiện họ vẫn còn giữ lại tín ngưỡng và tập tục thờ hổ. Vào thời hoang sơ cổ, người Phương cổ thờ hổ ở vùng Thanh Hải, Cam Túc, Thiểm Tây sống bằng chăn nuôi du mục khi vào đến Trung Nguyên, bộ tộc hổ của vùng Hoa Bắc đã chung sống với các bộ tộc thờ rồng.

Hổ nguyên là tín ngưỡng của dân tộc miền Tây của Trung Quốc, theo từng bước chân di cư, hòa hợp dân tộc, dần dần lan truyền đến phương đông. Lộ Sử-Quốc danh kỷ có ghi chép: Vào thời Thương Chu, Hổ tộc là một tộc lớn, họ phân bố ở khắp vùng Giang Hoài, Hồ Nam, Tứ Xuyên. Nước Hổ Phương lúc đó là nước Từ phương, nay là vùng giao hội giữa Giang, Hoài, Tô, Hoản ở phía nam Từ Châu, đó là người Từ thuộc vùng đất chủ yếu của Hổ tộc thời xưa. Những chạm trổ chủ yếu trên đồ đồng thời kỳ Thương chu là đầu hổ và mặt thú. Nhiều dân tộc ở vùng Hồ Nam, Hồ Bắc, Tứ Xuyên Trung Quốc cũng có những truyền thuyết về vị thần khai tổ hổ và tinh quân Bạch Hổ thần linh đã kết duyên với người và sinh ra bảy dòng họ lớn. Bên cạnh đó, nhiều địa danh ở các vùng đất này cũng được lấy tên hổ như núi Bạch Hổ, suối Bạch Hổ.

Người Hán là một tộc người đông nhất ở Trung Quốc, cũng có tục tôn thờ hổ. Họ tôn hổ làm môn thần. Hàng năm, vào ngày 30 tháng Chạp, người Hán thường dán hình vị thần này lên cánh cửa để cầu phúc lành cho năm mới và trấn áp ma quỷ. Phong tục này đã xuất hiện ở Trung Quốc từ rất lâu, vào khoảng gần cuối thời Chu và thịnh hành nhất là vào thời Hán. Trong dịp tết Nguyên tiêu ở Trung Quốc lại có tục đố đèn, còn gọi là Đăng Hổ. Người giải đoán được câu đố được gọi với cái tên “Săn hổ” hoặc “Đánh hổ”. Đây cũng là một hoạt động lễ hội trong dịp tết liên quan tới hổ, mang đậm tính văn hóa của người dân Trung Hoa[19]. Trong tiếng Trung Hoa, chỉ có chuột và hổ mới được gọi tên một cách kính cẩn bằng cách gắn thêm từ “lão” phía trước: lão thử (cụ chuột) và lão hổ[114].

Những sọc vằn trên trán hổ có hình chữ Vương (王), ngụ ý rằng hổ sinh ra có sứ mệnh là vua của muôn thú

Hổ có nhiều tên gọi khác nhau, mỗi tên gọi có ý nghĩa nhất định về mặt văn hóa, tâm linh. Trong chữ Hán, chữ hổ (唬) bao gồm bộ khẩu đứng trước chữ hổ có nghĩa dọa, hù, làm cho sợ[9]. Người Trung Hoa quan niệm rằng những vết sọc trên trán của hổ liên tưởng đến chữ (chữ Vương), theo tiếng Trung Quốc có nghĩa là vua do đó người dân nước này tin rằng con hổ sinh ra vốn dĩ đã là vua, chữ vương trên trán hổ được hội họa Trung Hoa cũng như Hàn Quốc khai thác rất nhiều. Tranh thờ thần hổ của người Trung Quốc thường có vẽ hình bát quái ở trán của linh vật này. Có nơi hình linh vật hổ để thờ còn được vẽ thêm thanh kiếm ngậm ở miệng như một nét nhấn có giá trị tăng thêm sức mạnh trấn giữ yêu ma, bảo vệ cuộc sống bình yên cho gia đình, cho dòng tộc[19].

Bên cạnh đó, trong văn hóa Trung Hoa, hổ là loài vật có thực được tôn lên ngang hàng với rồng (long) một con vật trong tưởng tượng biểu tượng cho sức mạnh của trời đất, người Trung Hoa có câu mô tả sự sóng đôi giữa hai loài này. Ở Trung Quốc rồng là biểu tượng cho vua chúa, vương quyền, phượng hoàng biểu tượng cho hoàng hậu thì hổ biểu tượng cho các vị tướng và đại diện cho quân đội, coi đây là biểu tượng chống lại ba đại họa của một gia đình như hỏa hoạn, trộm cắp và ma tà. Người Trung Hoa cũng suy tôn con vật linh Hổ gọi là: Thần Thái Tuế cứu nhân độ thế: Hổ cứ Sơn Lâm phù xã tắc, vật linh Hổ từ đó được lan truyền vào các ngôi đình, đền, chùa, miếu, thể hiện thế lực, sức mạnh, áp đảo[24].

Những vết lông vằn vện trước trán nó rất giống với chữ Vương 王,với ý nghĩa là vua. Điều này có thể thấy rõ trong hầu hết phim hoạt hình của Trung Quốc và Hàn Quốc: đều vẽ chữ 王 trước trán hổ. Đặc biệt, là tập tục dùng mũ đầu hổ để đội đầu cho trẻ con Trung Quốc. Chiếc mũ này có con mắt tóe lửa, cái tai lúc lắc và ký tự chữ Vương 王. Mũ đầu hổ thật là dấu vết truyền thống của kỷ nguyên thờ cọp. Một cách sớm hơn, ở xã hội nguyên thủy cổ xưa, giai đoạn chế độ mẫu hệ, con người thờ thú vật vì khả năng đặc biệt của nó và mối quan hệ của nó với các loài vật khác, là nguyên nhân việc thờ vật tổ đã tồn tại[2].

Tượng hổ trong một ngôi chùa của người Hoa

Mũ mang đậm nét sáng tạo, sự khéo tay của người phụ nữ nông thôn Trung Hoa. Giống như tên gọi, mũ đầu hổ rất giống đầu con hổ thật. Nó được làm dành riêng cho trẻ em. Và trong mắt của người hiện đại, mũ đầu hổ đẹp đẽ được đánh giá như là một tác phẩm nghệ thuật quý hiếm. Mũ với ý nghĩa cầu xin phúc lành và dùng cọp để đánh lạc hướng, ngăn trở sự chú ý của nó đến khí lực và sự đáng yêu của con trẻ. Mũ đầu hổ thường được làm bằng vải flanen đỏ và sự kết hợp với mảnh vải vàng, trắng, đen ở mắt và mũi. Con mắt và mũi cọp được thêu bằng chỉ màu. Ở phần giữa phía trên là chữ Vương 王, được thêu bằng chỉ đen trên vải trắng.

Mũ được phân chia thành nhiều loại theo hình dạng: mũ hổ đơn, mũ hổ đôi và mũ sư tử-hổ.Ngày nay, mũ đầu cọp rất khó tìm thấy ở thành phố hiện đại. Nó là di vật giúp chúng ta hình dung phần nào về hoạt động thủ công của người phụ nữ ngày trước và giờ đây chỉ còn là ký ức tuổi thơ của lớp người lớn tuổi. Ngày nay, mũ đầu cọp rất khó tìm thấy ở thành phố hiện đại. Mũ đầu hổ được dùng hằng ngày trước 1980, nhưng nay nó bị loại bỏ và chỉ còn tồn tại như là di vật của nền văn hóa dân gian, nó là di vật giúp hình dung phần nào về hoạt động thủ công của người phụ nữ ngày trước [2].

Trong thuật luyện đan của Đạo giáo cũng như khoa phong thủy, hổ (Bạch hổ) đối lập với rồng (Thanh long) và mô thức cân bằng trong Đạo giáo và Phong thủy là “tả long hữu hổ” (rồng ở bên trái, hổ ở bên phải). Ở thuật luyện đan, Bạch hổ là khí tiên thiên là chân diên (chân khí nguyên dương, tinh tiên thiên), do nó chứa đựng khảm ly nên ví cho Ô tinh, vì nó hung ác hay vồ người nên ví cho Bạch hổ. Bạch hổ là Khảm, là Hỏa, là Khí, là phương Tây, là Hồn, là Dương tức biểu thị một yếu tố tích cực, tinh lực đối lập với yếu tố ẩm ướt thụ động.

Trong khoa phong thủy/địa lý Bạch hổ (Tây) cùng Thanh long (Đông), Chu tước (Nam) và Huyền Vũ (Bắc) thành bộ “Tứ phương tứ thần”. Bạch hổ là chòm “thất tinh” ở phương trời phía Tây (Khuê, Lâu, Vĩ, Mão, Chủy, Sâm, Tất) họp thành hình dạng con hổ. Vì ở phía Tây ứng với hành kim trong Ngũ hành nên có sắc trắng – gọi là Bạch hổ. Đạo giáo thường dùng “Tứ phương tứ thần” làm thần hộ vệ. Riêng chức trách của Thanh long và Bạch hổ là canh gác các sơn môn đạo quán. Đó là cặp tượng rồng xanh và hổ trắng (Tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ) thường thấy ở các đền miếu của người Hoa và đình miếu người Việt. Riêng do thuộc tính dũng mãnh của loài hổ, nên tượng hổ cũng được bố trí ở mồ mả hay tích hợp với đồ hình Bát quái tạo thành bùa trấn trạch để trừ ma quỷ, yêu nghiệt[2] Ở đây, hổ đóng vai trò của thần giám hộ hay phúc thần, thần hộ mệnh một cách rõ nét.

Theo cung hoàng đạo của người Trung Quốc, con hổ là biểu tượng thứ 3 trong cung hoàng đạo. Đây là biểu tượng của sự can đảm. Người Trung Quốc cổ xưa tôn sùng đấu sĩ dữ tợn, không biết sợ hãi này và coi đây là biểu tượng chống lại 3 đại họa của một gia đình như hỏa hoạn, trộm cắp và ma tà. Người ta quan niệm rằng, vào ngày đầu của năm mới, sẽ rất tốt nếu mọi người vui vẻ, tươi cười và kiềm chế giận dữ, cãi vã hay chỉ trích người khác. Theo văn hóa truyền thống, hổ cũng là biểu tượng của sự may mắn. Hổ, cùng với những con vật mang lại may mắn khác như Long (rồng) và Kỳ Lân có yếu tố bảo vệ cho người Trung Quốc. Trong khi hầu hết những con vật may mắn trong văn hóa Trung Quốc đều là giả tưởng thì con hổ là con vật có thật trong cuộc sống. Trong tâm thức của người dân Trung Quốc, con hổ dũng mãnh, hữu ích và rất đẹp, những con hổ gần như đã rất hoàn hảo[115]

Hổ góp mặt trong lĩnh vực phong thủy với biểu tượng cho quyền lực, công danh, sự thăng tiến trong kinh doanh. Hổ dùng tiếp khí cho các cát tinh Lục Bạch, Bát Bạch, bổ trợ cho bản mệnh người tuổi Dần, dùng để trấn yểm khi nhà bị phạm vào cấm kỵ[9]. Tượng Rồng và tượng Hổ là sự kết hợp giữa hai thế lực lớn trong vũ trụ (Âm và Dương). Trong thuật xem phong thủy, thường tượng Rồng, tượng Hổ được chọn sử dụng. Hai vật phẩm này từ xưa đến nay được ưa chuộng, chúng tượng trưng cho sự cân bằng quyền lực, được dùng để làm vật trấn yểm trong gia đình. Tượng hổ là biểu tượng của quyền uy, sự thăng tiến, để chống lại với việc quyền lực bị điều khiển bởi một phía (vì rồng là đại diện lâu đời cho quyền lực của hoàng gia), tượng hổ phải luôn tấn công để giảm bớt sức mạnh của rồng, đưa thế giới vào trạng thái cân bằng.

Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Một tượng hổ được thờ ở Bắc Triều Tiên

Hổ, con vật to lớn, có sức mạnh khủng khiếp trong số 12 con giáp và cũng được người dân Triều Tiên sùng bái tôn thờ. Dân cư ở bán đảo Triều Tiên cũng coi hổ là con vật linh thiêng, oai phong, có sức mạnh to lớn, vì vậy họ cũng thờ cúng hổ để cầu mong sự phù hộ và bảo trợ cho cả gia đình trong công việc làm ăn và sức khỏe [19]. Trong đó, lịch sử và văn hóa Hàn Quốc, hổ vừa được dân gian xứ Hàn tôn làm thần giám hộ, sơn thần (Sangoon), hổ vừa là biểu tượng của uy dũng và quyền lực, giúp con người tránh được vận hạn và đem đến cho họ nhiều phúc lộc.

Ở Hàn Quốc con hổ là giống vật thiêng biểu tượng cho điềm lành và là loài vật gần gũi. Hình tượng con hổ ảnh hưởng rất sâu đậm trong văn hóa Hàn Quốc, nó mang hơi hướng thần thoại vẫn tồn tại trong cuộc sống con người Hàn Quốc cho đến ngày nay với tư cách là Thần giám hộ của đất nước này, Hổ là giống vật nhân từ bảo vệ con người khỏi tai ương, tượng trưng cho lòng dũng cảm và sức mạnh. Tuy là loài dũng mãnh, hung tợn trong thế giới động vật hoang dã nhưng trong quan niệm dân gian Hàn Quốc, hổ vẫn là loài vật thân thiết với con người. Hình tượng hổ được đưa vào đời sống hàng ngày và tôn là linh vật bảo vệ cho loài người[116].

Tấm bùa ở Hàn Quốc thường mang hình hổ vì đây là con vật biểu trưng của tinh thần dũng mãnh tạo cho người ta niềm tin tâm linh về sự an lành, được bảo vệ khỏi mọi điềm gở trong đời sống. Ngày xưa, người ta thường treo chuỗi xương hổ trước cửa hay cổng nhà để xua đuổi khí xấu. Khu lăng mộ của vua cũng là nơi người ta nhận ra sự hiện hữu của hổ, linh vật hộ vệ, che chở cho con người khỏi mọi tai ương. Tượng hổ tạc bằng đá nằm ngay phía trước mộ xuất phát từ quan niệm xưa cho rằng hổ có thể bảo vệ lăng mộ, chốn yên nghỉ cho linh hồn vua chúa.

Tính chất linh thiêng của hổ còn được thể hiện trong lễ cầu mưa. vừa là ác thú, vừa là thần hộ mệnh. Có hình hổ trấn giữ ở ngưỡng cửa là tà ma không dám xâm nhập. Người Hàn Quốc đặc biệt thần phục loài hổ trắng, Người dân tin rằng khi cầm theo bùa bạch hổ thì được bảo vệ khỏi mọi rủi ro, và dân gian cho rằng hổ là loài vật át được khí vận xấu nên họ hay mặc áo in hình hổ để có được sự khởi đầu tốt đẹp cho năm. Choi Nam-seon khẳng định linh vật của dân tộc Hàn là con hổ. Ngày nay, Hổ còn là biểu tượng quốc gia của Hàn Quốc. Sự tôn sùng hổ được phản ánh qua phim ảnh, rõ nét nhất là bộ phim Hổ chúa (năm 2015).

Ấn Độ[sửa | sửa mã nguồn]

Ấn Độ, hổ còn đóng vai trò là kẻ gác đền trong rừng già, canh giữ châu báu

Tại Ấn Độ, hổ cũng là một con vật được tượng trưng cho sức mạnh, có thể trấn áp được ma tà quỷ quái, vì vậy, để biểu tượng cho quyền lực, các vị lãnh chúa thường trang trí một tấm da hổ trong phòng hoặc ngồi trên một tấm da hổ khi tiếp khách. Trẻ em con nhà giàu có thường hay đeo một chiếc răng hổ như một loại bùa phép để lấy khước tránh ma tà và tăng thêm sức mạnh. Đàn ông đeo thêm răng hổ trên cổ như sự biểu tượng của nam tính, sức khỏe và lòng dũng cảm[19] Dân địa phương ở Sundarbans (một nơi nằm giữa miền Nam Bangladesh và bang Tây Bengal của Ấn Độ) sùng kính chúa sơn lâm hơn nỗi kinh hoàng về loài động vật giết người này.

Hổ là mối đe dọa tiềm tàng cho người dân sống ở Sundarbans, mỗi năm, có chừng 30 người bị đoạt mạng bởi hổ. Ở đây, họ vẫn đang thờ cúng Dakshin Rai, Dakshin Rai được tôn sùng là Hổ Thần, là một vị thần linh được sùng kính ở Sundarbans. Hổ thần cùng với lâm thần Bon Bibi được cho là người bảo vệ rừng già - nơi nương náu của cư dân bản địa. Trước khi vào rừng săn các sản vật, những người đi khai thác mật (“ăn ong”) và ngư dân phải làm lễ dâng cúng tại một trong nhiều ngôi miếu thần, nhằm hy vọng ra khỏi rừng bình an. Mặc dù sự sùng kính loài hổ có gốc gác từ một sự mê tín, nhưng nó không quá lung linh mà chỉ để tạo ra niềm tin bình an.

Bất chấp các vụ tấn công, người Sundarbans vẫn sùng kính loài hổ, tôn chúng làm thần linh Vì tôn sùng hổ thần thế nên mặc dù thấy bạn bè và người thân bị lâm nguy trước mắt mình, nhưng người Sundarbans vẫn không mảy may có tư tưởng ghét hổ. Họ biết định mệnh của mình cột chặt với loài mèo lớn: hổ bảo vệ rừng già, rừng già lại bảo vệ con người. Sau nhiều thế hệ sống chung với “chúa sơn lâm”, người dân Sundarbans hình thành niềm tin rằng không có nỗi e sợ nào trong cộng đồng vững mạnh của họ. Bức tượng hổ thần Dakshin Rai được điêu khắc đầy oai vệ. Sau tất cả, rốt cuộc loài hổ Sundarbans dù rất hung dữ, song vẫn là người bảo vệ cho dân cư chốn này[117].

Hổ cũng được bộ tộc thổ dân Soliga tôn thờ, người Soliga xem loài thú này như vị thần đáng tôn thờ của họ, họ sùng bái hổ như thần thánh. Ở địa phương này, không hề xảy ra vụ xung đột nào giữa người Soliga với hổ hay bất cứ vụ săn bắt hổ nào. Họ còn là những người chăm sóc và bảo vệ hổ, người dân địa phương này rất ưu ái loài hổ. Ngoài ra, những người sống ở Khu Bảo tồn Hoang dã Bor là những người địa phương theo đạo Hindu do đó tin rằng hổ là con vật chở Durga là một trong những nữ thần quan trọng nhất trong đạo Hindu vì thế dù thường gặp rắc rối với hổ như đã có vài người, và một số thú nuôi, đã bị hổ vồ chết nhưng những vụ việc như thế vẫn không khiến cho người dân có thái độ thù địch loài hổ[118].

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Hổ còn được tôn thờ và là hình tượng phổ biến đầy ấn tượng trong đời sống dân gian của người Việt với tục thờ hổ hay thờ thần hổ ở nhiều vùng miền. Dù ở miền Bắc, miền Trung hay miền Nam đều có tục lệ thờ Thần Hổ như một biểu tượng của con vật dũng mãnh, uy linh tượng trưng cho sức mạnh có khả năng trấn giữ cửa ải ngũ phương. Trên phương diện này hổ đã hoá thành vật linh thiêng với những cái tên trong huyền thoại dân gian. Không chỉ người Việt, một số đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam cũng có tục thờ hổ[88].

Việt Nam thuộc vùng ngữ hệ Nam Á, có đặc thù riêng về môi trường phù hợp cho sự phát triển của loài hổ. Sự phong phú về tên gọi thuần Việt và lịch sử lâu đời của loài hổ trong tiến hóa cũng như trong hệ 12 con giáp là yếu tố rất quan trọng để xác định lịch sử Nam Á. Ít nơi nào con hổ mang nhiều tên gọi như ở Việt Nam. Điều đó chứng tỏ vị trí quan trọng của nó trong đời sống văn hóa của người dân. Trong số các tên gọi nêu trên, tên được dùng phổ biến ở các vùng nhiều nhất là hổ. Trong dân gian, người ta còn gọi hổ là: Hùm, cọp, ông kễnh, ông hầm, ông ba mươi, bà um về vị trí của hổ trong rừng, người ta còn gọi nó bằng "Chúa sơn lâm" uy quyền, sau đó được nhấn mạnh thêm là "Chúa tể sơn lâm" hoặc "Chủ tể Sơn lâm"[11].

Người Việt tôn thờ cọp mà không thờ sư tử, giữa hai con vật này có sự khác biệt trong quan niệm về tôn thờ. Đối với người Việt, sư tử là linh vật trang trí trong các công trình tín ngưỡng, tâm linh với vị thế là canh giữ công trình. Hổ là động vật bản địa của Việt Nam do vậy ở một chừng mực nhất định, hổ là loài động vật phổ biến hơn trong tâm thức cùa cộng đồng người dân. Sư tử không phải là động vật bản địa và hình tượng con sư tử được du nhập vào Việt Nam do sự giao thoa văn hóa, trong khi đó, việc thờ cọp được nảy sinh như một nhu cầu tất yếu trong quá trình đấu tranh chống lại điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, ngoài ra, trong tín ngưỡng thờ Mẫu từ lâu đời ở Việt Nam thì “Quan Ngũ Hổ” cũng trở thành một bộ phận hữu cơ gắn bó với các đối tượng khác trong tín ngưỡng này.

Trong tiềm thức[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tiềm thức người dân Việt Nam, hổ là con vật đầy uy linh và gắn liền với rừng núi, được thờ phụng ở nhiều nơi

Trong tiềm thức và tín ngưỡng dân gian Việt Nam, hổ hay ông ba mươi là tên gọi đầy uy linh, quyền kính trong những gian thờ như đình, đền, chùa, miếu mạo, miễu, thờ tại tư gia, hổ được coi là con vật linh thiêng, bởi thế mà danh xưng của nó cũng được thần thánh hóa bằng những cái tên như ngài, ông. Hình tượng “Hổ” được tôn thờ chính là một bước phát triển mới trong nhận thức về thế giới quan, nhân sinh quan của cộng đồng người Việt, trở thành một nét văn hóa.

Trong tự nhiên cuộc sống nguyên thuỷ xa xưa, rừng cây chật đất, người và thú dữ sống lẫn bên nhau, người săn thú, nhưng thú cũng ăn thịt người, một trở lực lớn đối với con người, thú dữ cũng được tôn làm thần thờ. Tín ngưỡng dân gian của người Việt thờ rất nhiều hiện tượng cũng như loài vật trong tự nhiên, với tâm niệm “vạn vật hữu linh”, “có thờ có thiêng”. Những hiện tượng ẩn chứa sức mạnh trong tự nhiên hay những loài vật có sức mạnh đe dọa đến đời sống con người, khiến con người sợ hãi là họ sẽ thờ tự. Việc thờ Thần Núi, Thần Hổ cũng bắt nguồn từ tâm niệm đó[87].

Xếp hàng thứ ba trong mười hai chi, cọp (Dần) là một hình tượng đa nghĩa, phức tạp trong tâm linh người Việt: vừa là ác thú, vừa là thần hộ mệnh. Từ thờ thần Hổ Cọp là ác thú được người kinh sợ đến độ lập đền thờ, hy sinh nhân mạng để tế lễ mỗi cuối năm, như tục thờ thần Hổ ở làng Ngọc Cục ở Hải Dương[13] nhưng mặt khác, cọp lại là phúc thần được vẽ tranh thờ để trừ tà yểm quái. Trong văn hóa Việt Nam tồn tại hai quan điểm song song về hổ, một quan điểm văn hóa đề cao và sùng kính sức mạnh, vẽ đẹp, sự khôn lanh của loài hổ đồng thời một quan điểm sợ và khinh gét, bài trừ vì những nổi ám ảnh do hổ gây ra.

Nhưng nhìn chung thì quan điểm văn hóa thứ nhất luôn thắng thế, trong tâm lý người Việt xưa, cọp lại được xem là phúc thần, được vẽ trên nhiều tranh thờ, nhất là miền Bắc, tranh Hắc Hổ có tác dụng diệt trừ quỷ Phạm Nhan thường đột nhập vào phòng người phụ nữ đang ở cữ để ám hại trẻ sơ sinh. Trong tâm lý người dân phía Nam cũng có niềm tin cọp là phúc thần[13]. Nhiều gia đình có tục thờ “ông ba mươi” như một cách để cầu công danh, mang lại sự may mắn[8].

Hổ là ác thần được biết đến qua tục giết người tế thần Hổ hay thần Xương Cuồng có ghi vào sử sách như Mộc Tinh trong Lĩnh Nam Chích Quái. Tục tế thần Hổ này có từ thời xa xưa trước Công nguyên, phong tục cổ sơ này, đã có vào thời các vua Hùng, khi quân nhà Tần và Triệu Đà lấn chiếm và đô hộ đất Văn Lang[53]. Cho dù phong tục hy sinh nhân mạng để tế thần Hổ là đơn lẻ, thì nỗi sợ cọp, kinh hãi hùm thiêng vẫn là một tâm trạng có thật, kèm theo tư tưởng mê tín. Cọp không còn là ác thú hăm dọa loài người và thần Hổ không còn là ám ảnh. Nhưng trong tâm lý, con người vẫn giữ một hình ảnh kỳ bí nào đó về chúa sơn lâm, về bộ lông tráng lệ, oai phong lẫm liệt, và hành tung bí ẩn. Vẫn còn một không khí hoang đường, u minh.

Ở Nam bộ Việt Nam, vào thế kỷ trước cọp nhiều vô kể. Chúng sống rải rác ở khắp nơi, ở các cánh rừng ngập mặn tại các cửa của sông Tiền, sông Hậu, kể cả những nơi đã được khai hoang khá sớm, như Sài Gòn, Mỹ Tho, Bến Tre, Vĩnh Long. Những con cọp ở miền Nam rất táo tợn. Chính vì quá khiếp sợ nên người dân miền Nam khi khai hoàng phải tìm cách diệt cọp. Nhưng khi diệt cọp xong người ta lại lập miếu thờ cọp. Điều này cho ta thấy sự phức tạp trong tâm lý của các lưu dân và đồng thời cũng cho thấy tín ngưỡng thờ cọp đã có từ buổi đầu khai hoang, lập ấp. Đây là hiện tượng người Nam Bộ thờ cọp, họ sợ cọp nên thờ, gọi cọp là “Sơn quân chi thần”, nhưng khi cọp đến phá phách nương rẫy, đe dọa đến tính mạng của con người thì họ cũng sẵn sàng tổ chức đánh đuổi cọp đi, hoặc giết cọp, giết xong lại lập miếu thờ[119].

Các vùng miền[sửa | sửa mã nguồn]

Loài hổ hiện diện trên khắp cả nước Việt Nam, từ miền đồng bằng Bắc Bộ cho đến miệt vườn sông nước miền Tây
Đình thần Vĩnh Phước
Tòa đình chính của Đình thần Vĩnh Phước tại Sa Đéc, Đồng Tháp, kiến trúc đình có bố trí cặp hổ vàng để trấn giữ.

Người Việt Nam kính sợ hổ, gọi hổ bằng Ông Ba Mươi, ông cọp, ông hổ, ông khái, ngài, chúa tể sơn lâm, chúa sơn lâm, chúa tể rừng xanh, mãnh hổ rừng xanh, mãnh chúa sơn lâm, mãnh hổ, nhưng tùy địa phương, tùy sinh hoạt, quan hệ giữa người và hổ không đồng nhất ở các vùng miền. Trong tâm lý người dân Miền Bắc và Miền Nam, cách tiếp cận với con cọp, hay Thần Hổ, có phần khác nhau. Tuy rằng ở đâu cũng sợ cọp, kiêng dè nhưng dường như người dân Bắc Bộ kinh sợ cọp hơn người dân Đồng bằng sông Cửu Long. Phía Bắc, từ đồng bằng lên mạn ngược, có nơi sùng bái hùm thiêng, thờ phụng đến mê tín vào phương Nam, hình tượng sùng bái mê tín hổ mờ nhạt hơn phía Bắc, người dân Miền Nam cũng sợ cọp, nhưng chỉ là nỗi sợ hãi cụ thể, vật chất mà không sùng tín[13].

Ở Việt Nam nói chung và ở Nam Bộ nói riêng, khi mà cộng đồng người Việt từ khu vực miền Trung di cư vào đây theo quá trình mở rộng lãnh thổ về phương Nam, đây vốn là vùng đất hoang sơ và rất hiểm trở. Một trong những biểu hiện cho sự hiểm trở và hoang sơ chính là sự hiện diện của loài cọp. Truyền thuyết về sự hóa thân của Phạm Nhĩ để biến thành ông Ba Mươi là một phương thức lý giải cho sự tôn sùng của mình dành cho loài động vật này[120][121]. Khi con người phải đương đầu với những khó khăn gì, những hiểm họa từ gì thì sẽ có xu hướng tôn sùng, e dè trước nó và sự tôn thờ hổ là điển hình, tại một số địa phương thì hổ trở thành ông Hương cả là một chức quan ở Nam Bộ hay sự sắc phong các danh hiệu “Sơn quân chi thần”, “Sơn quân chúa xứ”, “Sơn quân mãnh hổ”.

Việc thờ thần Hổ ở ngoài Bắc đã mờ nhạt, chỉ còn là thờ Ngũ Hổ gắn với ngũ phương ngũ thần của Đạo giáo. Nhưng ở những miền đất mới khai phá nam Trung Bộ và Nam Bộ, ý niệm thần linh về loài thú dữ đã từng sát hại gây trở ngại bước tiến của con người còn khá đậm nét. Mối hiểm nguy từ con hổ ngay từ thời gian đầu vào khẩn hoang vẫn còn để lại dấu ấn và hiện hữu cho đến ngày nay thông qua những địa danh ở Nam Bộ. Dần dần về sau này, khi mà điều kiện môi sinh của con người đã dần được định hình, hổ không còn hiện diện một cách công khai như trước, song, con người vẫn còn giữ được sự tôn trọng của mình loài động vật này.

Không chỉ trên các tỉnh Tây Nguyên và vùng núi dọc các tỉnh ven biển miền Trung Việt Nam được ghi nhận là có nhiều hổ mà trong các thế kỷ trước cả miền Nam từ Đồng Nai, Bà Rịa xuống đồng bằng sông Cửu Long đến mũi Cà Mau vẫn còn cọp, rắn lớn, cá sấu và các loài thú lớn hoang dã sinh sống đông đúc. Lưu dân đến lập nghiệp phải đối diện với những hiểm nguy khi tranh giành môi trường sống. Trong các thú, người dân rất sợ và kính nể “ông cọp”. Ngày nay vẫn còn các đền thờ “ông cọp” ở nhiều tỉnh, làng quê miền Nam với hình ông cọp ngay trước đền.

Nhiều ngôi đình miếu ở nam Trung Bộ và Nam Bộ còn thờ thần Hổ với những tước vị Sơn quân (vua núi), Hương cả (anh cả hương ấp), Bạch nha hổ lang chi thần (thần hổ lang răng trắng). Rất nhiều ngôi đình miếu ở Nam Bộ, trên tấm bình phong giữa sân đình, tạc hoặc vẽ hình hổ. Tại một số đình, chùa ở Nam Bộ vẫn còn cho khắc hình tượng hổ lên trên các tấm bình phong đặt ngay trước cổng của công trình với mục đích là hù dọa các ông Ba Mươi không dám đến quấy phá dân làng. Đây là biểu hiện của sự phức tạp trong nhận thức của cư dân khi vừa tôn thờ cọp nhưng cũng đồng thời phải bắt buộc đối đầu để có được cuộc sống bình yên.

Cùng với rắn, hổ là một trong hai hình tượng con vật trung tâm trong truyện kể dân gian một số dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam. Trong tín ngưỡng thờ con vật của các dân tộc, con hổ xuất hiện phổ biến và là nhân vật chính trong tiểu loại truyện cổ tích loài vật, hổ còn xuất hiện với vai trò là nhân vật trợ giúp thần kỳ. Xuất hiện phổ biến, hình ảnh con hổ và con rắn đã tạo ra những dấu ấn riêng có trong truyện kể các dân tộc minh chứng cho tín ngưỡng coi trọng và thờ cúng các con vật ở một số dân tộc. Các dân tộc tiêu biểu như dân tộc Thái, Tày, Mường từ lâu vẫn duy trì một số tục thờ các con vật trong đó có hai loài hổ và rắn với một niềm tin thiêng liêng về sự phù trợ tốt lành cho đời sống con người[122].

Điều này khá tương đồng với văn hóa của khu vực Tây Nam Bộ khi các câu chuyện của nhân dân địa liên quan đến hai lớp tín ngưỡng thờ Hổ và tín ngưỡng thờ Rắn. Buổi ban đầu đi mở đất, xuất hiện lớp tín ngưỡng đầu tiên là thờ thần tự nhiên (Cọp và Rắn) do các cư dân đến khai phá tạo nên. Hổ, rắn, cá sấu (ba loài nguy hiểm nhất) trở thành những đối tượng mà họ vừa cầu thân, thờ cúng vừa đấu tranh, chinh phục để tồn tại. Hổ gợi nhắc về vị thần núi, chúa sơn lâm thì hình tượng rắn lại gợi nhắc về vị thủy thần là hai vị thần quan trọng bậc nhất trong thần điện của người Việt và cặp biểu tượng Núi-Nước (Sơn-Thủy), Âm-Dương được tái hiện qua hai hình tượng Hổ-Rắn, những huyền thoại về ông Hổ, về đôi Rắn Thần vẫn còn trong tâm thức người dân[73].

Miền Bắc[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng Bạch Hổ đường thờ ở Hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội

Nền văn hoá Ðông Sơn cách đây trên dưới 2500 năm đã để lại nhiều đồ vật trong đó có tượng hổ. Hổ hiện diện rất sớm trong nghệ thuật điêu khắc Việt Nam từ thời văn hóa Đông Sơn có niên đại khoảng thế kỷ VII trước Công nguyên đến thế kỷ I sau Công nguyên. Tượng Hổ được đúc trên mặt trống đồng tìm thấy ở di chỉ Lãng Ngâm (Gia BìnhBắc Ninh). Trong 3 dao găm khai quật ở làng Vạc (Thanh Hóa) thì có hai trường hợp tạo hình Hổ. Dao găm dài 22,2 cm có cặp Rắn đỡ Hổ và dao găm dài 27,5 cm có cặp Hổ đỡ Voi được tạc trên cán đồ vật tùy thân của người xưa[36].

Với tín ngưỡng cổ sơ, tượng ngũ Hổ được đặt thờ ở một số phủ thờ, đền miếu tượng trưng cho Âm-Dương, Ngũ hành là những những quy luật vận động và thành tố vật chất của Vũ trụ[36]. Ngày nay, tại miền Bắc Việt Nam, từ đồng bằng lên mạn ngược, nhiều nhà còn sùng tín vào Tranh Hổ. Việc tồn tại dai dẳng tục thờ thần Bạch Hổ trong người Việt cũng như nhiều dân tộc sống ở miền núi phía Bắc Việt Nam một mặt phản ánh tín ngưỡng nguyên thủy từ rất xa xưa, đồng thời phản ánh tàn dư tôn sùng loài vật này gắn với sự phát triển của Đạo Giáo vốn xuất hiện ở Việt Nam chậm nhất là vào khoảng đầu công nguyên[27] tại đây hình tượng hổ trong Đạo Mẫu, phổ biến trong dân gian; trước tiên là qua tranh thờ, loại tranh Hổ sản xuất ở Hàng Trống tại Hà Nội, sau là qua vai Hổ khi nhập vào đồng cốt[13].

Miền Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Loài hổ gắn với miền Tây sông nước, ẩn dụ một thiên nhiên khắc nghiệt trong thời kỳ đầu con người chưa khai phá
Miễu thờ cọp bên sân Đình thần Mỹ Phước, Long Xuyên, An Giang

Trong quá trình Nam tiến, cư dân từ miền ngoài vào khai khẩn vùng đất hoang Nam bộ đã gặp không ít khó khăn. Nơi đây ngày xưa là chốn rừng xanh thú dữ hoành hành, đặc biệt là hổ. Ở Nam Bộ, cọp là con vật rất được người dân kiêng nể, tôn sùng xem là biểu hiện của quyền lực, sức mạnh vô hình của đấng siêu nhiên, cọp được thờ rất trang trọng ở hầu hết các đình, chùa, miếu với nhiều hình thức khác nhau như tượng điêu khắc, tranh vẽ, hình ảnh, hầu hết ở mỗi đình làng Nam bộ đều có miếu thờ Sơn Quân hay còn gọi là miếu thờ ông Hổ, để cầu mong thần núi rừng chứng cho tấm lòng thành kính mà ban cho họ cuộc sống bình yên không thiên tai địch họa, không thú dữ hoành hành[87].

Trong nhận thức tâm linh của cư dân Nam Bộ, hổ là vị “Chúa Sơn Lâm” cai quản vùng rừng núi, ngự trị muôn loài, hầu hết ở các đình, đền, am, miếu thường có bàn thờ hoặc miếu thờ Thần Hổ với bài vị trang trọng mang tên “Sơn quân chi thần”, “Sơn quân mãnh hổ”, “Sơn lâm chúa xứ”, “Sơn lâm đại tướng quân”. Trên các án phong trấn cửa đình thường trang trí bằng hình mãnh hổ trông rất oai vệ. Miếu của Thần Hổ nằm bên phải nền thờ Thần Nông để chứng minh Thần Hổ quan trọng hơn cả Thần Nông[42]. Các đình làng, chùa, miếu ở Nam Bộ đều có ban thờ thần Hổ như[77]. Đặc điểm chung dễ nhận thấy ở Nam Bộ là trước các đình thường thờ một hệ thống các thần linh nông nghiệp như thần Nông, thần Hổ, bà Chúa Xứ, Ngũ Hành hay Linh Sơn Thánh Mẫu[77]

Trong tâm thức người dân, hổ là loài vật vừa dữ tợn vừa thiêng liêng. Người Nam Bộ không gọi con đầu lòng là con “cả” mà thay vào đó gọi là anh Hai, vì sợ đụng chạm đến ông “Cả Cọp” do cái danh Cả phải thuộc về Cọp, người xưa không dám gọi to hoặc nhiếc mắng, đánh đập “thằng Cả”[77]. Người dân có tục gọi cọp là “ông” và để tránh danh “cọp”, người ta gọi là “ông Ba Mươi”, tên gọi ông ba mươi từ việc vua Gia Long Nguyễn Ánh với những ngày sống trong rừng, hết cả lương thực, may mắn có thịt thú rừng do hổ tha tới tiếp tế. Sau đó, ông đã cho lập miếu thờ tại vùng Mô Xoài thuộc tỉnh Bà Rịa để tạ ơn và ban lệnh cấm giết hổ, nếu ai lỡ tay giết hổ bị phạt 30 trượng, hoặc bắt sống thì thưởng 30 quan tiền[9].

“Ông hổ” trong tín ngưỡng của người dân là loài vật có linh tính, tình cảm, hiểu được lẽ phải, bảo vệ người ngay, trừng trị kẻ gian. Hình tượng và biểu tượng cọp Đối với cư dân Nam bộ thời xa xưa không có nghĩa dữ dằn mà chỉ là con vật hiền lành như mọi thú nuôi khác, cọp gần gũi với người nông dân Cọp ngoài đời trở thành con vật gần gũi, qua hình tượng nghệ thuật, cọp còn mang cả yếu tố tâm linh, được thần thánh hóa, vẽ thành tranh thờ cúng. Dân gian Nam Bộ có tục lệ là vào ngày mồng ba Tết Nguyên đán, sau khi cúng xong, người ta thường dán trước cửa nhà một mảnh giấy hồng điều có vẽ hình cọp với dòng chữ Hán “Sơn Lâm đại tướng quân” với lòng mong muốn là hổ sẽ trấn giữ không cho những thứ nhiễm độc vào nhà, nếu trẻ con khóc đêm thì người mẹ phải lén ăn trộm hình vẽ chúa sơn lâm để trong gối ngủ của đứa bé sẽ hết khóc.

Ngoài ra, “ông hổ” cũng là một vị thần giúp người dân chống lại những thế lực tiêu cực từ cuộc sống. Bất kỳ ngôi đình nào cũng có nơi thờ cúng “ông hổ”. Vì cọp được xem là chúa sơn lâm, chúa của muôn loài nơi núi rừng nên được người dân phong thần, đặt miếu “ông hổ” trong khuôn viên đình không ngoài hàm ý cầu mong sự phù hộ để làng xóm bình yên, mùa màng tươi tốt[123]. Ở các làng quê Nam Bộ thường có tập tục cử cọp giữ chức Hương cả của làng, không ai trong các thôn làng được giữ chức vụ này cả. Con người chỉ giữ chức vụ thứ nhì, tức chức Hương chủ. Vào dịp cuối năm hay trước khi tổ chức lễ Kỳ yên, dân chúng tổ chức lễ Bầu Ông”[77].

Không chỉ tồn tại ở chốn núi rừng là những linh vật biết tu hành, cọp còn được xem là loài vật có nghĩa, có tình khi sống chan hòa với con người. Tiêu biểu là câu chuyện con hổ có nghĩa trong huyền thoại về địa danh cù lao Ông Hổ chứa đựng nhiều ý nghĩa nhân văn, cho thấy dấu ấn sâu sắc về loài cọp trong tâm thức người lưu dân buổi đầu mở đất. Ngày nay, loài cọp ở Nam Bộ vẫn mang dấu ấn đậm nét trong văn hóa tín ngưỡng dân gian. Huyền thoại về loài cọp phản ánh phần nào thời kỳ gian lao vất vả của tiền nhân trong mấy trăm năm định làng lập ấp[124]. Đối với nhân dân miền Nam, cọp trong ký ức của họ tuy kinh khủng nhưng chỉ tồn tại trong ký ức xa xưa, còn trong tình cảm cọp vẫn có sự gần gũi, thân thương như chính sự gắn bó giữa thiên nhiên với con người. Cọp vẫn là hình tượng đẹp để trang trí, để tôn thờ, để ngợi ca về sự dũng mãnh, về sức mạnh kiêu hùng[125].

Trong dân gian vẫn quan niệm Bạch Hổ (cọp trắng) là “hổ thần”, hổ tu, không bao giờ ăn thịt người mà còn giúp người

Trong dân gian vẫn quan niệm Bạch Hổ (cọp trắng) là “hổ thần”, không bao giờ ăn thịt người. Truyện Ông Tăng Chủ, đệ tử của đức Phật Thầy Tây An đã nhờ Bạch Hổ đi trừ con hạm (hổ ăn thịt người, đã thành tinh) ở núi Bà Đội Om (An Giang) là một truyện tiêu biểu ở Nam Bộ. Khi cọp đã ăn thịt người nào, thì linh hồn người chết bị cọp khống chế để trở thành “ma trành” (ma cọp), mách bảo những điều tốt xấu cho cọp, khiến cho con vật này càng trở nên tinh quái hơn. Có thể nhận thấy điều đó qua các truyện kể về về “Cọp Ba Móng” với những thuộc tính “siêu đẳng” hoặc thần thánh hoặc ma quái[77]

Những cư dân người Việt đầu tiên khi vào khai phá Nam Bộ mang những quan niệm về quỷ thần và tín ngưỡng của mình vào vùng đất mới. Nam bộ là vùng đất mới khai phá, nơi các tiền nhân từ buổi đầu không chỉ đối mặt với rừng rậm hoang vu mà còn đối mặt với nhiều thú dữ. Trong các loại thú dữ ở xứ sở này thì cọp trên bờ và sấu dưới sông là hai con vật nguy hiểm nhất đã để lại một dấu ấn sâu sắc trong tâm thức của người dân và trở thành những đối tượng mà họ vừa cầu thân, thờ cúng vừa đấu tranh, chinh phục để tồn tại.

Dù phải luôn đấu tranh chống lại loài cọp nhưng lưu dân vẫn tôn sùng “ông Ba Mươi” không những vì sợ hãi chúng mà còn trân quý những phẩm chất đặc biệt của giống hổ này, điều này đã hằn sâu trong ký ức của những người dân miệt vườn Nam Bộ. Khắp cả vùng Nam Bộ thường nghe những huyền thoại về loài cọp, trong các ngôi đình thần luôn có một vị trí trang trọng dành cho “ông hổ”. Thông thường, người ta lập hẳn một ngôi miếu nhỏ để thờ cọp trong khuôn viên đình, cũng có nơi miếu được xây dựng độc lập rất to, đẹp.

Người Việt dù ở miền Bắc hay miền Trung khi vào Nam bộ khai phá đều mang theo những tín ngưỡng thờ thần, thờ tổ tiên truyền thống. Khi đặt chân đến vùng đất mới, trước những lạ lẫm của cảnh sắc, trước những ghê sợ của thú rừng những lưu dân không thể không tôn sùng những lực cản mới, hầu mong tìm sự cân bằng trong đời sống tâm linh. Khi lưu dân phải đối diện với nhiều khó khăn, thách thức từ rừng sâu, nước độc. Trong đó, loài cọp được xem là một thế lực tự nhiên đã được người dân thần thánh hóa trong tín ngưỡng dân gian. Đó là lý do xuất hiện rất nhiều đình miếu thờ cọp, vẽ hình cọp trên tấm bình phong, đắp tượng hổ để thờ, nhiều nơi, trong ngày lễ cúng đình, ngoài việc cúng tế Tiền hiền khai khẩn, Hậu hiền khai cơ người ta còn tổ chức nghi lễ riêng cúng tế ông Hổ gọi là tế Sơn quân, Sơn Quân cùng Thần Nông và Hậu Tắc là các vị thần được cúng tế trong ngày khai sơn (ngày mồng 7 tháng 1).

Đông Nam Bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Bức tranh gốm trong Đền Bến Dược tại Củ Chi tả cảnh khai phá miền Đông Nam Bộ, trong đó lưu dân phải đấu tranh với thú dữ như hổ và rắn

Vào buổi đầu khai phá, khi cư dân Việt từ miền ngoài đến vùng đất Đồng Nai-Gia Định, đây là nơi thiên nhiên hoang sơ, với những vùng đất màu mỡ nhưng lại đầy thú dữ, trong đó những loài như cọp, cá sấu, rắn, rết, muỗi mòng, đỉa vắt luôn là mối đe dọa thường trực. Một trong những sức mạnh của tự nhiên mà cư dân buổi đầu phải đối đầu đó là cọp, được mệnh danh là “mãnh hổ giữa đồng hoang”. Chúng có mặt khắp nơi, từ những cánh rừng già của miền Đông cho đến những cánh rừng sác ven biển miền Tây, ngang nhiên qua lại những xóm làng còn hẻo lánh cũng như xông thẳng vào chốn phố phường đô hội như đi vào chỗ không người, lúc này cọp ở khắp nơi, ra sức tác oai tác quái, gây khiếp đảm cho dân chúng[77].

Do tương quan lực lượng giữa con người và tự nhiên vào buổi đầu, nên dù có diệt cọp nhưng những người dân đi khai phá vẫn phải tôn thờ nó. Những danh xưng cao nhất được dành cho cọp: “Sơn quân chi thần”, “Sơn quân chúa xứ”, “Sơn quân mãnh hổ”, “Sơn lâm chúa tể”, “Sơn lâm chúa xứ”, “Sơn lâm đại tướng quân”, “Sơn quân chúa động”, “Chúa xứ sơn lâm”, “Mãnh Hổ”, “Thần Hổ”, “Ông”, “ông Thầy”, “ông Cả”, “Ngài”, “ông Ba Mươi”, “Hương quản[77]. Biểu hiện của tín ngưỡng thờ cọp thường thấy nhất ở Đông Nam bộ nói riêng và miền Nam nói chung là dưới dạng miếu nhỏ hoặc các bình phong ở đình làng. Một số đình thay vì là các bình phong ở trước đình là các tượng hổ.

Về tín ngưỡng dân gian, đình làng miền Đông Nam Bộ hầu hết đều có miếu thờ “sơn quân” ở sân trước của đình, thể hiện dấu ấn tín ngưỡng ở vùng rừng núi. Việc này phân biệt khác hoàn toàn với chức năng trấn áp tà ma của Đạo giáo qua tấm bình phong chạm hình cọp hay rồng đặt trong đình, chùa. Tín ngưỡng thờ Sơn quân thể hiện dưới quan niệm “ông Cả cọp”, “Thần hổ”, “Bạch hổ tướng quân”, việc lập miếu thờ “Sơn quân” ở đình xuất phát từ mối đe dọa của môi trường khẩn hoang rừng nhiệt đới nhiều thú dữ trong số đó, cọp gây nhiều tác hại cho người và đáng sợ hơn cả, và dấu ấn của tín ngưỡng thờ sơn quân còn là hình thức tàn dư của vật hình giáo vốn vẫn còn tồn tại dai dẳng trong tín ngưỡng của cư dân Việt và những “tô tem” thú vật dã dần dần được biến đổi thành thần bảo hộ con người. Ngoài tín ngưỡng thờ thần hổ, nhiều đình của miền Đông cón có bàn thờ thần núithần sông[126].

Tây Nam bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long ngày xưa, loài mãnh thú là cọp hiện diện khắp nơi, từ Long An xuống tận Cà Mau. Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất mới khai phá. Ngay từ buổi đầu đến vùng đất mới này, lưu dân đã phải đối mặt với rừng rậm hoang vu đầy thú dữ. Trong đó, cọp trên bờ và sấu dưới sông là hai con vật nguy hiểm nhất, để lại một dấu ấn sâu sắc trong tâm thức của người dân Nam Bộ: "Cà Mau khỉ khọt trên bưng/Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp um". Từ lâu, cọp là kẻ thù của con người vì chúng thường rình bắt gia súc, thậm chí bắt người để ăn thịt.

Đình Vĩnh Chánh ở xã Vĩnh Chánh, thuộc huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, trước mặt đình là bức bình phong tả cảnh long tranh hổ đấu

Nhưng ở góc độ tâm linh, người Nam bộ vẫn thờ thần Hổ và từ thời khai hoang mở đất, đó đây trên vùng đất này vẫn còn lưu truyền những câu chuyện cảm động giữa cọp và người. Ở miền Tây, có rất nhiều nơi lưu truyền những câu chuyện ly kỳ về cọp, từ những câu chuyện dân gian, những huyền thoại về cọp ở miền Tây Nam bộ đã dẫn đến tục lệ thờ ông Cọp trong dân gian. Cọp ngoài đời là con vật hung dữ, nhưng khi thể hiện qua hình tượng nghệ thuật, cọp còn mang cả yếu tố tâm linh, được thần thánh hóa, vẽ thành tranh thờ cúng. Từ những cơ sở như vậy, cho nên ngày nay ở Tây Nam Bộ nói chung có nhiều đình, miếu thờ cọp[73].

Cọp còn được thờ phụng như Chúa sơn lâm hay Sơn thần. Dân gian miền Tây có tục lệ là vào ngày mồng ba Tết Nguyên đán, sau khi cúng đưa ông bà xong, thường dán trước cửa nhà mảnh giấy hồng điều có hình cọp với lòng tin là Ông Ba mươi sẽ trấn giữ không cho những thứ hiểm độc vào nhà, nếu trẻ con khóc đêm thì người mẹ phải lén “ăn trộm” hình vẽ cọp để trong gối nằm của trẻ thì chúng sẽ hết khóc. Người miền Tây vẫn tôn thờ cọp, hoặc kiêng kỵ cọp, như gọi cọp là Ông để tránh xưng danh cọp: cọp ưa đi đêm gọi là Ông Ba mươi, cọp ba chân gọi là Ông Ba cụt, cọp ba móng gọi là Ông Ba ngoe, cọp thành tinh gọi là Ông Chằn hay Ông Kẹ.

Nhìn chung, các câu chuyện của nhân dân địa phương miền Tây liên quan đến hai lớp tín ngưỡng là Tín ngưỡng thờ Hổ và tín ngưỡng thờ Rắn, điều này cũng khá tương đồng với tín ngưỡng của một số dân tộc ở vùng Tây Bắc. Cùng với xuất hiện lớp tín ngưỡng đầu tiên là thờ thần tự nhiên (Cọp và Rắn) do các cư dân đến khai phá tạo nên, trước khi nó được khoác lên một lớp thứ hai là tín ngưỡng Thành Hoàng của triều Nguyễn, những cư dân người Việt đầu tiên khi vào khai phá Nam Bộ mang những quan niệm về quỷ thần và tín ngưỡng của mình vào vùng đất mới với điều kiện tự nhiên đặc thù thì hổ, rắn, cá sấu trở thành những đối tượng mà họ vừa cầu thân, thờ cúng vừa đấu tranh, chinh phục để tồn tại[73].

Một số vùng[sửa | sửa mã nguồn]

Việc thờ hổ, sùng bái loài hổ được ghi nhận một cách đa dạng trên khắp các vùng miền của Việt Nam, từ vùng rừng núi sơn cước cho đến vùng đồng bằng và đến những miệt vườn sông nước châu thổ. Dưới đây ghi nhận (chưa đầy đủ) những tập tục, tín ngưỡng thờ Hổ trong cộng đồng dân cư ở một số địa phương của Việt Nam (từ Bắc chí Nam):

Lai Châu[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều người dân tộc ở Lai Châu cũng có tục tôn sùng loài hổ. Tại Mường Tè thuộc Lai Châu có hòn đá thiêng tên Ông già đá trắng của người Hà Nhì, (gọi là Pú Tư), nổi tiếng linh thiêng. Người dân thờ cúng khối đá như phúc thần, luôn tin rằng thành tâm cầu gì là được nấy,ai cũng sợ bị quở phạt nếu cầu cúng không đúng phép tắc. Do nhiều người dân địa phương đã gặp hổ ngồi trên ngọn đồi này ngay giữa ban ngày, vì ban đêm không ai dám đến đây, đó là một con hổ trắng, rất to lớn, hung tợn (tiếng địa phương gọi hổ là Khà dừ), những người nhìn thấy hổ thường ngã lăn ra lập tức, về đến nhà đều bị ốm rất nặng, uống thuốc không khỏi, chỉ đến khi người nhà trở lại đây cầu xin mới thôi. Người ta tin, con hổ trắng ấy là do Pú Tư hóa thành[127].

Người Hà Nhì ở ngã ba biên giới có phong tục, nếu ai bị hổ vồ, mà lấy lại được xác, thì chôn tại chỗ bị hổ vồ. Nếu chỉ còn dấu tích, vài mẩu xương, nắm tóc thì đắp mộ tại đó. Người Hà Nhì còn tin rằng, nếu người bị hổ vồ, thì linh hồn sẽ thành con ma và về nhà bắt người tiếp. Không chỉ người Hà Nhì, mà nhiều dân tộc khác vẫn tin rằng, khi hổ ăn thịt ai, thì linh hồn người đó sẽ bị con hổ điều khiển, biến thành tay sai cho nó. Những linh hồn ấy sẽ đi theo, hầu hạ, canh giấc cho hổ. Khi hổ đói, thì các linh hồn dẫn hổ đi tìm người để ăn thịt.

Những linh hồn đó còn dẫn dụ con người đi vào rừng, hoặc làm cho những người đi rừng mất vía mà quên lối về, cứ quẩn quanh không tìm được đường ra khỏi rừng, để rồi hổ bắt ăn thịt. Chỉ khi nào linh hồn ấy giúp hổ bắt được người, thì mới được đi đầu thai, thoát khỏi cảnh hầu hạ hổ. Người Hà Nhì ở ngã ba biên giới vì tin vào những câu chuyện ly kỳ đó, nên chôn xác người bị hổ vồ xong, họ mời nhiều thầy cúng, làm nhiều lễ đuổi tà ma, đuổi cái xấu đi, không cho con ma về nhà nữa[128].

Tuyên Quang[sửa | sửa mã nguồn]

Người dân ở bản Nà Tông thuộc tỉnh Tuyên Quang đồn rằng, hổ là loài nhớ dai, biết trả thù, người Tày ở đây tin vào điều đó, nên phải lập ngôi đền thờ cúng sơn thần, thờ cúng cả loài hổ, để chúng không phá phách, trả thù [129]. Ở rừng Thượng Lâm ở Tuyên Quang, người Tày thường thả rông trâu, bò trong rừng nhưng thường hao hụt dần mà thủ phạm là hổ, nhất là sự việc đàn hổ rầm rộ kéo về bản Nà Tông cắn chết 30 con nhà đã gây chấn động trong vùng, giống việc trả thù con người hơn là kiếm mồi ăn. Người dân tộc Tày xóm Nà Tông đã xây dựng một ngôi miếu dưới chân núi Nà Tông. Cứ ngày rằm, mùng một, những ngày lễ, người dân lại sắp lễ, thành kính dâng hương. Họ không chỉ cúng sơn thần, mà còn cúng thần hổ, để loài hổ không đe dọa cuộc sống đồng bào[62].

Xuôi xuống phía bến đò hồ Na Hang ở Tuyên Quang, rồi bắt đầu leo núi từ con dốc có tên Hổ Vồ, trước đây, con dốc này là nơi hổ thường phục kích vồ người ăn thịt nên mới có tên như vậy. Phía dưới con dốc là thung lũng rất sâu, có hang đá rất sâu, nhiều ngóc ngách thông khắp quả núi đá vôi, nhiều người dân, thậm chí bộ đội đi qua con dốc này bị hổ vồ. Để hổ không ăn thịt người, thi thoảng dân bản phải dắt vào con dốc này lúc thì con dê, lúc con bò để cúng hổ. Hổ có mồi ăn, thì không bắt người nữa[130].

Vĩnh Phúc[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng hổ (Hổ vàng) là con hổ trung tâm trong Ngũ hổ

Nhiều làng xã Việt Nam từ bao đời nay vẫn còn giữ tập tục thờ thần hổ. Tuy nhiên, nơi phát tích tục thờ thần hổ sớm nhất và duy trì lâu đời nhất ở làng Thổ Tang, tỉnh Vĩnh Phúc. Tương truyền, ngày xưa ở phía nam làng Thổ Tang có một khu rừng rậm có nhiều chim muông và thú dữ, nhất là hổ, chó sói sinh sống. Hằng năm cứ đến ngày mùa là hổ lại xuống làng phá phách nhà cửa, ruộng vườn và bắt đi nhiều gia súc, gia cầm. Dân làng tìm mọi cách ngăn ngừa, đề phòng hổ dữ phá làng, hại người nhưng đều vô hiệu. Một giấc mơ báo hiệu rằng làng Thổ Tang muốn yên ổn làm ăn vô sự thì phải lập đền thờ thần hổ.

Dân làng góp công sức xây dựng một ngôi miếu thờ thần hổ. Vị trí xây miếu ở ngay chỗ có in hình dấu chân hổ. Dân làng đặt tên cho miếu này là Miếu Trúc. Trước miếu, dân làng đắp hai con hổ trông rất uy nghi. Kể từ đó trở đi, hổ không còn về làng Thổ Tang phá hại nữa, và cũng kể từ đó, cứ vào những ngày sóc vọng người làng Thổ Tang lại cúng thần hổ. Bàn thờ cúng thần hổ được lập ở ngoài vườn. Đồ cúng thường là trầu, rượu, thịt, trứng sống. Vì thờ thần hổ nên làng Thổ Tang và các nơi có thờ thần hổ tuyệt đối không bao giờ ăn thịt hổ, kể cả việc kiêng dùng hổ cốt và cao hổ cốt.

Hải Dương[sửa | sửa mã nguồn]

Ở vùng Hải Dương nói riêng cũng như miền Bắc nói chung, người ta coi rằng hổ biệt danh là chúa sơn lâm, vì nó có một sức mạnh và hung dữ mà không loài vật nào sống trong núi rừng địch nổi, vì cọp có sức mạnh ghê gớm và rất hung dữ, nên đến con người nhiều khi cũng kiêng nể cọp, thậm chí có không ít nơi, người ta còn sợ nó, tôn nó lên đến thần để thờ lạy nữa như ở làng Ngọc Cục, huyện Đường An, tỉnh Hải Dương xưa kia người ta thờ thần Hổ. Chúng là ác thú được người kinh sợ đến độ lập đền thờ, hy sinh nhân mạng để tế lễ mỗi cuối năm mà Phạm Đình Hổ đã kể lại kỹ càng trong Vũ Trung tùy bút. Đến năm 1800, tục thờ hổ ở Hải Dương mới chấm dứt cùng với lễ tế mạng người này[131].

Bắc Giang[sửa | sửa mã nguồn]

Hổ được tôn thờ liên quan đến tín ngưỡng thờ thần Độc Cước trong các di tích đình, đền, chùa đã có từ lâu tại các điểm thờ thần Độc Cước trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. Tích thờ thần Độc Cước gắn với câu chuyện về hổ như thần tích ở Lục Nam kể rằng có một anh thanh niên mồ côi khi vào rừng thấy một chú hổ con bèn mang về nuôi, ngày ngày anh cùng con hổ ra bờ sông đơm đó. Một hôm anh dặn con hổ ở lại trông cá, con hổ ngủ thiếp đi, khi anh thanh niên quay về con hổ đang ngủ say, tưởng có người lạ đến lấy cá bèn bật dậy quật chết ngay lập tức, khi tỉnh ra thì đó là chủ mình, con hổ ân hận cứ nằm canh xác chủ không cho chôn, sau đó nó càm xác chủ qua vùng Sóc Sơn (Hà Nội)-Vĩnh Phúc và lại càm quay về, lúc này xác của chủ thối rữa ra, xương rơi khắp nơi, khi đi qua đất Sơn Giao thì một xương gióng chân rơi xuống. Hôm sau chỗ đó có mối đùn lên cao, nhân dân trong vùng lập miếu thờ phụng sau đưa vào thờ trong đình và gọi là thần Độc Cước[132].

Hà Nội[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng thờ bầy hổ ở một ngôi chùa làng ở Hà Nội

Hà Nội là một trong những vùng đất có tồn tại hình thức tín ngưỡng thờ Hổ. Đình Mông Phụlàng cổ Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, Hà Nội có mô típ trang trí như rồng, hổ, cá, chim, hoa lá, mây đều được chạm nổi, chạm lộng hoặc chạm ren, có một ban thờ lớn trang trí bằng tượng rồng, hổ phù ngậm chữ "Thọ" (chữ Hán: 壽). Đền Và tại phường Trung Hưng, thị xã Sơn Tây, còn gọi là Đông Cung, trên trục trung tâm phía trước sân đền có một bình phong tạo những hang hốc mang vẻ tự nhiên. Mặt ngoài của bình phong thờ ngũ hổ trong hang với trung tâm là hổ vàng, mặt sau của động này đắp hình "long cuốn thuỷ" dưới dạng tứ linh với ý nghĩa cầu cho mưa thuận gió hoà, được mùa và có người tài ra giúp dân giúp nước. Tranh Hổ còn được bày nơi nhiều đền chùa, nhất là các đền thờ Thánh Mẫu (như tranh Bạch Hổ Thần tượng đặt ở đền Quan Thánh, Hà Nội).

Thanh Hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Người dân Thanh Hóa (người địa phương và người Mường) đặc biệt sợ hãi hổ xám và tôn thờ chúng là Thần Hổ xám vì chúng được coi là đã thành tinh và hay ăn thịt người, biến con người thành ma trành

Thanh Hóa nổi tiếng là vùng đất rộng, hoang sơ miền sơn cước, là chốn cư ngụ của loài hổ. Hổ ở đây được cho là hung dữ và thường xâm nhập các bản mường để đe dọa cuộc sống của người dân và bắt gia súc. Do đó hổ được coi là chúa sơn lâm, chúa của miền sơn cước, rừng núi, được thờ phượng như một ác thú, hung thần để cầu mong sự bình yên, để không bị trả thù, đặc biệt ở vùng này, người ta sợ hãi và thờ cúng loài hổ xám, gọi là "Thần hổ xám khổng lồ", thêu dệt cho nó nhiều quyền năng huyền bí. Những truyền thuyết này đặc biệt đậm nét ở vùng Thạch Thành.

Từ nhiều năm trước, những bản làng người Mường ở miền tây Thanh Hóa, kéo dài từ vùng Thạch Thành lên đến Quan Hóa, Mường Lát còn cúng Ông Hổ, người địa phương và người Mường còn lưu truyền câu chuyện Thần hổ xám ăn thịt người là một huyền thoại về oai linh thần hổ ở vùng vùng Thạch Thành[65] Người dân Mường ở Thạch Thành và người dân còn lập miếu thờ một con hổ gọi là Thần hổ xám khổng lồ hung dữ, thành tinh chuyên ăn thịt người, người dân còn đồn rằng, năm nào không cúng hổ thần, mùa màng sẽ thất bát, lúa trồng chẳng thành hạt, cây cối chẳng chịu trổ hoa[66].

Ở xã miền núi Thành Yên, huyện Thạch Thành có ngôi cổ miếu linh thiêng bên dòng suối Vó Ấm thu hút đông đảo mọi người đến lễ cầu may. Nơi đây đang lưu giữ truyền thuyết ly kỳ về bầy hổ hung dữ một thời uy chấn cả vùng núi rừng Cúc Phương. Giai thoại về hổ cũng chính là nỗi khiếp sợ truyền kiếp ở vùng đất này. Từ xa xưa, "Thần hổ" ăn thịt quá nhiều người trong vùng nên người dân đã lập miếu thờ bên dòng suối Vó Ấm, từ đó gọi là miếu Vó Ấm. Vào những ngày rằm, mùng một rất nhiều người dân trong vùng thường đến thắp hương, cúng lễ để cầu bình an và nhiều câu chuyện hoang đường làm ngôi miếu nhỏ càng trở nên huyền bí và linh thiêng trong tâm trí người dân Thành Yên[133]. Hổ dữ còn được người dân thờ như thần linh ở đỉnh đèo Tam Điệp trong một ngôi miếu thờ hổ[134].

Nghệ An[sửa | sửa mã nguồn]

Sự tích thờ thần hổ còn lưu truyền nhiều ở vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh, bối cảnh từ thời An Dương Vương, vùng Nghệ An có nhiều hổ dữ, chúng thường bắt người ăn thịt. Có một ông lão nhà nghèo một lần cứu được một con hổ xám khi nó định vồ bắt ông trên bè nước và giao ước với hổ: "Nhà ngươi dòng dõi trên thượng giới, xuống hạ giới sinh sống sao nỡ bắt con người để ăn thịt? Ta đã già yếu, xin hiến thân cho ông và xin từ nay trở đi ông đừng giết hại con người nữa". Hổ cảm tạ nhưng rồi hổ xám vẫn thường lui tới ven đường, nơi có người qua lại để bắt ăn thịt.

Một hôm hổ xám vồ trúng ông lão, khi kéo xác lên bờ, nó mới nhận ra ân nhân của mình. Hổ hối hận, kêu gào ầm ĩ cả khu rừng. Đêm đêm, con hổ xám về chầu trước mộ ông, kêu la thảm thiết và cuối cùng gục chết, hóa thành hòn đá bên mộ. Từ đó, các loài muông thú không đến phá hoại và dân làng làm ăn trúng mùa liên tiếp. Hổ xám được dân làng thờ cúng và tôn là ông hổ, thần hổ, ông ba mươi. Những con hổ đá đặt ở đền chùa, miếu mộ tại vùng này đều nằm trong thế quỳ, miệng há rộng là nhắc lại sự tích trên)[79].

Hà Tĩnh[sửa | sửa mã nguồn]

Hà Tĩnh, tại chùa Hương Tích có tượng thần hổ đặt ở trên đường đi lên chính điện để người dân thờ cúng, người đi lễ thường tập trung ở khu vực đặt tượng thần hổ để cầu an. Nhiều người tin rằng, chỉ cần thắp hương khấn vái, dùng dầu gió đổ lên thân tượng hổ, dùng tay xoa tượng rồi xoa lên bộ phận tương tự ở người thì bệnh sẽ tiêu tan, nhiều Phật tử sau khi sờ tượng hổ thần rồi xoa bóp vào thân thể của mình đã cảm thấy nhẹ nhõm, thoải mái hơn[135]. Tượng hổ thần được đặt ở phía bên phải, theo hướng đi lên khu vực Chính điện chùa Hương Tích, tượng hổ đặt ở hướng đi lên khu vực chính điện chùa Hương Tích, Hổ thần được làm bằng bê tông, sơn màu vàng, ở tư thế đang nằm nghỉ ngơi[136].

Tương truyền khi xưa hổ thần linh thiêng đã che chở cho Công chúa Diệu Thiện tới núi Hồng Lĩnh dựng am, tu hành[135]. Thần Hổ gắn với sự tích công chúa ba Diệu Thiện chạy trốn. Phật Tổ lại sai Bạch Hổ đưa nàng trốn sang đất Việt Thường thị. Đến vùng núi Ngàn Hống, Thần Hổ cõng công chúa đến con suối có tên là Hương Tuyền. Sau đó, Thần Hổ lại đưa Diệu Thiện lên động cao Đá Đôi để ẩn thân nhưng vẫn không được yên. Cuối cùng, Thần Hổ lang đưa xuống động Hương Tích và ở trong một hang đá và đó chính là Hương Tích[137].

Cũng từ xa xưa truyền lại hổ thần chữa được bách bệnh, nên khi tìm tới đây người dân đều mong muốn tìm đến tượng hổ. Dân gian cho rằng, hổ cõng công chúa Diệu Thiện chính là hổ thần, nếu bị đau xương khớp về chùa Hương Tích khấn vái Thần Hổ, cầu xin ngài, lấy tay vuốt ve ngài rồi xoa vào chỗ đau mỏi thì tự nhiên sẽ khỏi. Hổ là loài ăn thịt người nhưng con hổ này lại có công dẫn đường cho công chúa nên người đời truyền rằng, đây là do Phật hóa thân vì Phật không dùng hình hài thật của mình mà thường biến hình để phổ độ chúng sinh, do đó, ngài hổ được lập tượng thờ. Khách đến đây thường xin phúc bằng cách đổ dầu xoa khắp mình hổ rồi lại xoa lên mình vì mọi người quan niệm hổ tượng trưng cho sức mạnh nên có thể chữa bách bệnh[137].

Lễ bằng hương vàng giấy áo và vật không năm nào thiếu là dầu gió. Trước tượng hổ có một chiếc bàn đá để người dân dâng lễ, thắp hương. Phần lễ ngoài bánh kẹo, hương hoa thì dầu gió là thứ không thể thiếu. Đầu năm, chùa khai hội, người dân sau khi lên chùa thắp hương, người dân chen chúc nhau dùng dầu gió tưới, bôi lên tượng thần hổ rồi thoa lên người mình với mong muốn chữa bệnh. Khách hành hương dùng tay thoa lên các vị trí trên tượng rồi vuốt, bôi vào những vị trí mong muốn chữa bệnh. Việc người dân sờ lên hổ để chữa bệnh đã tồn tại nhiều năm qua. Chưa có cơ sở khoa học khẳng định việc sờ tượng hổ ở chùa Hương Tích có thể chữa bệnh, việc người dân cho rằng sờ tượng hổ, bôi dầu lên người có thể chữa bệnh chỉ là do người dân truyền tai nhau.

Việc việc du khách sờ "hổ thần" đã diễn ra nhiều năm nay đã làm phần đầu tới đuôi của tượng hổ bị bong mất phần lớp sơn ngoài. Nhiều du khách sau khi thắp hương đều sờ vào tượng thần hổ để cầu mong hết bệnh tật, việc này khiến phần lưng, đầu và chân của tượng thần hổ bị bóc lớp sơn bên ngoài. Việc khấn vái trước tượng thần hổ mong chữa bệnh là vấn đề tâm linh, tuy nhiên việc dùng tay thoa vào tượng dẫn đến hư hại hiện vật là việc không nên làm[138]. Trước kia cũng có biển nghiêm cấm du khách nhưng sau đó do số lượng du khách quá đông nên biển cấm cũng vô hiệu[136].

Huế[sửa | sửa mã nguồn]

Con hổ trong tranh làng Sình phổ biến ở Huế với mục đích cúng lễ, ở đây tranh hổ thuộc đề tài tranh súc vật (gia súc, voi, cọp và tranh 12 con giáp) để đốt cho người chết, tranh này sẽ được đốt sau khi cúng xong

Tại Huế, nhiều di tích đã đi vào huyền thoại với hình ảnh con hổ, nay các dấu vết về hổ sót lại không nhiều, chủ yếu tại các di tích xưa. Hổ đôi khi được tôn thờ như một vị thần vì có sức mạnh giúp đỡ mọi người hay đi đôi với rồng trong môtip trang trí thời phong kiến nhưng có lúc hổ đã bị xem như một loài cầm thú ác độc, bị đem ra đấu trường đánh nhau với voi, cũng có lúc hổ được đặt tên cho một vùng đất như Am Truôm hay Cầu Bạch Hổ[30].

Tại Huế có miếu ông Cọp sát Quốc lộ 1A-Phú Bài, miếu này được dân địa phương dựng lên để cầu các ông cọp “đừng ra bắt người qua đường”. Vào ngày 23 tháng Chạp, ngày tất niên, ngày đầu năm mới là 3 dịp người dân ở đây cúng bái thịnh soạn cho “Ngài” cọp. Tuy nhiên vẫn có hàng trăm người bị cọp vồ. Đồ cúng chủ yếu cho người xấu số là các bộ áo quần lành lặn (màu xanh bày hai bên), đồ cúng đặc biệt cho “ông” cọp gồm thịt heo sống, gừng tươi và rượu trắng cùng nhiều món ăn khác. Bên cạnh đó, có rất nhiều miếu thờ nằm ở doi đất sát sông Hương thờ hổ đã chết trong các trận chiến với voi ngày xưa[30].

Ở Huế, “Cậu” Hổ hay ông Hạ Ban được các thần dân Thiên Tiên Thánh giáo thờ cúng nhiệt thành ở điện Hòn Chén. Ở Điện Hòn Chén có bố trí động thờ ông Hạ Ban (tức ông Hổ hay con cọp), trong khi ở Hổ Quyền bên kia sông Hương, con cọp phải đưa ra đấu trường để bị tiêu diệt, thì ở điện Hòn Chén bên này sông, con cọp lại được thờ cúng kính cẩn như một vị thần linh. Một sự khác nhau rất lớn khiến cho con cọp bên trong đền được nâng lên là một vị thần tương tự con " Bạch Hổ" của miền Nam mà người người tôn thờ, còn những con ngoài đền là đối tượng bị tiêu diệt.

Đà Nẵng[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng hổ ở chùa Linh Ứng trên bán đảo Sơn Trà ở Đà Nẵng

Đà Nẵng cũng có nhiều nơi thờ "ông cọp", mà mỗi địa điểm gắn với một câu chuyện li kì. Chẳng hạn như việc như miếu ông Hổ ở thôn Trường Định (xã Hòa Liên, Hòa Vang) nơi từng có hàng ngàn người đã kéo về để xin nước chữa bệnh ở miếu ông Hổ. Một số vùng ven khác ở Đà Nẵng cũng có nhiều câu chuyện liên quan đến tục thờ thần hổ như Dinh Ông ở làng Phong Bắc thuộc phường Hòa Thọ Tây, quận Cẩm Lệ, hay miếu Long Vân dưới chân đèo Hải Vân. Những câu chuyện về cọp dữ và tục thờ "ông ba mươi" ly kỳ ở vùng đất Quảng Nam-Đà Nẵng xưa luôn gợi nhắc về một thời tiền nhân mang gươm đi mở cõi là thời khẩn hoang gian khó cần ghi nhớ và trân quý[139].

Về sự tích của miếu ông Hổ, chuyện kể, ngày trước, vì nằm dưới chân núi Hải Vân- Bà Nà nên vùng đất Trường Định cọp nhiều vô kể, ngày nào chúng cũng xuống làng để rình bắt gia súc và người. Trong làng xã truyền tụng câu "nhất cọp Bà Nà, nhì ma Phú Túc". "Người chết được dân làng chôn cất cẩn thận vẫn bị cọp đào lên ăn thịt vì vậy dân làng ai cũng khiếp sợ, buổi tối không dám rời khỏi nhà, đi làm ruộng phải đi nhóm 5 đến 6 người. Cho đến khi, Đức ông Trần triều tứ thánh về đây cư ngụ thì cọp mới không quấy phá nữa.

Ngoài miếu ông Hổ và phía trước là một miếu khác thờ sơn lâm đại tướng quân, với hình tượng con cọp oai vệ, người này, dùng phép thuật thuần phục hai con cọp hung dữ về làm tướng quân cho mình. Lúc ấy dân làng gọi luôn tên ông là ông Hổ. Sau khi ông chết, hai "ông cọp" vẫn nằm phục dưới tảng đá, sau đó cũng chết. Dân làng thương tiếc nên lập miếu thờ. Phía trước miếu có một ao nước ngọt nhỏ, nhiều người tin nước này có thể chữa bệnh nên hay đến làm lễ để xin nước từ miếu ông Hổ về uống. Tảng đá nơi ông Hổ tự vẫn còn đó như minh chứng cho một sự tích ly kỳ[139].

Ở đây còn có lời đồn trên đèo Hải Vân có ngôi miếu linh thiêng, cầu gì được nấyđã thu hút đông đảo mọi người đi lễ và du khách đến tham quan dừng chân thắp hương khấn vái cầu may. Nơi đây đang lưu giữ truyền thuyết li kì về bầy cọp một thời uy chấn Hải Vân Quan. Người dân làng Kim Liên (thuộc phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, Đà Nẵng) đến nay vẫn còn truyền tai nhau nhiều câu chuyện về sự tích miếu thờ Sơn thần. Không rõ từ khi nào, trên đỉnh đèo thường xuất hiện bầy cọp dữ năm con chuyên vồ khách bộ hành ăn thịt, bầy hổ ngồi thè lưỡi chầu chực trên những tảng đá bên đường chờ đợi con mồi.

Người ta sợ đến nỗi nếu muốn qua đoạn đường này, khách bộ hành phải lập đoàn cùng đi. Bầy hổ những năm con liên kết rất chặt chẽ nên cũng chẳng có ai đủ dũng cảm đi diệt chúng. Vì vậy, người địa phương quyết định dựng miếu thờ hổ, dâng lễ vật cúng bái. Hàng ngày, dân làng, khách thập phương đều quyên góp lễ cúng một cách đầy đủ với mong muốn bầy hổ sẽ hiểu thành ý của họ mà không hại người nữa, từ đó không còn ai nhìn thấy bầy hổ ngồi chồm hổm bên đường rình mồi, thậm chí, chúng còn cứu giúp người[140].

Tại đèo Hải Vân còn lưu truyền câu chuyện về bầy hổ dữ trấn yểm Hải Vân Quan

Có truyền thuyết về cọp nuôi người, vào một năm nạn đói hoành hành, nhiều người dân vùng phía nam đèo Hải Vân chạy đói, có một bà mẹ cõng theo một đứa con nhỏ, do hoàn cảnh, người đàn bà đành bỏ lại đứa con trai trên một mỏm đá ven đường, đứa trẻ bị bỏ lại khóc ré lên, một con cọp cái nghe tiếng khóc thét liền men theo triền núi xuống chỗ đứa trẻ, con hổ không ăn thịt mà còn nuôi nó, cho nó bú, khi đứa trẻ đã lớn, con cọp cái còn cõng đứa trẻ trên lưng về tận ngôi làng nhỏ dưới chân đèo Hải Vân, để đứa trẻ lại đó cho dân làng, đi ba bốn bước nó còn ngoảnh lại nhìn lần nữa rùi mới phi thẳng vào rừng[140].

Tận đỉnh Hải Vân, ngôi miếu ông hổ nằm ở lưng chừng đèo được xây dựng khang trang, sạch đẹp, luôn nghi ngút khói hương, khu miếu này mới được trùng tu trở lại nhờ vào tiền cúng dường của khách thập phương. Được biết, nhờ những “truyền thuyết” truyền tai nhau của người dân trong vùng mà ngôi miếu trở nên thu hút khách du lịch bất thường. Ai đi ngang đây ai cũng muốn dừng chân để thắp hương, khấn vái[140].

Một câu chuyện khác cho biết ở xóm Kim Cư (tên gọi của làng Kim Liên cũ) còn là rừng núi, hỗn mang thú dữ. Trong đó, hổ dữ luôn là nổi ám ảnh lớn nhất của người dân trong làng, trong bóng tối mù, hổ đánh hơi thấy mùi thịt thường lẻn vào chuồng trâu, chuồng bò bắt tha về hang. Có khi còn mò vào tận nhà dân nhử chó ra để bắt ăn thịt. Có một vị quan Tổng đốc Đại thần đi sứ sang phương Bắc, đi ngang đây lâm trọng bệnh mà qua đời. Người dân làng lập miếu thờ ông. Ngôi miếu ban đầu chỉ là cái am nhỏ và một tấm bình phong bằng đá khắc hình hổ chồm. Vị trí ngôi miếu Ông chính xác là vị trí miếu ông Hổ ngày nay, trước mặt ngôi miếu có một hòn đá to. Ngày nay, người ta vẫn hay gọi đó là hòn đá Big Sound theo chữ khắc trên tảng đá thời chiến tranh[140][140].

Miếu ông nguyên bản có một tấm bình phong hổ che chắn phía trước. Dân làng đi ngang qua đều ghé miếu thắp cho ông Quan tổng đốc nén nhang cho bớt hiu quạnh, cứ thấy tấm bình phong hổ nên tưởng nhầm là thờ hổ, nên gọi là miếu Ông hổ, rồi mỗi người một ít dựng nên câu chuyện ngũ hổ trấn đèo. Ngày trước, khi khu rừng trên đèo Hải Vân còn um tùm, cây cối rậm rạp, muông thú nhiều, những tiều phu đốn củi và những ai có việc phải đi qua đèo thấy một cái am nhỏ đằng trước có một tấm bình phong hình con hổ mà không ai hương khói nên dọn dẹp lại thờ phụng[140].

Quảng Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Ở Quảng Nam, người dân vẫn dành cho hổ sự kính trọng

Vùng đất Quảng Nam xưa đầy khắc nghiệt của thiên nhiên và thú dữ. Trong đó cọp dữ là nỗi ám ảnh với nhiều người, đến nỗi phải gọi là "ông cọp" hoặc "ông ba mươi". Ở nhiều địa phương Quảng Nam-Đà Nẵng đến nay vẫn còn nhiều di tích miếu thờ "ông cọp", lúc bấy giờ dân làng nhiều khi tiêu diệt nhiều cọp dữ nhưng mọi người vẫn sợ và kiêng dè khi nói về "ông ba mươi". Việc tôn sùng cọp để lại dấu ấn khá rõ nét ở Quảng Nam. Những vùng đất ghi dấu tục thờ cọp như Tiên Cảnh, làng Mỹ Sơn, Đồng Lạc, Dúi Chiêng.

Xưa kia, người dân Tiên Cảnh có phong tục cúng thần rừng, vị thần họ tin rằng nắm giữ bổn mạng của cả vùng đất này. Đại diện cho thần rừng, không phải loài nào khác mà chính là hổ dữ - vị chúa sơn lâm đầy quyền uy. Mỗi lần cầu cúng như thế, dân làng đều mời những pháp sư đến lập đàn, phép tịch cọp. Thậm chí, vì ám ảnh bị hổ dữ giết hại, nhiều gia đình đã phải lũ lượt kéo nhau bỏ xứ ra đi[141]. Đến tận bây giờ, hằng năm người dân ở xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam vẫn giữ tục thờ cúng "ông cọp".

Trong số các mâm lễ, có một mâm lễ riêng, gồm thịt sống, rượuhoa quả, trong văn tế có câu "cầu cho hổ lang, can xà phù hộ cho dân lành bình an". Mỗi dịp lễ tết, lại dành riêng ra một mâm cỗ để cúng “các ông”. Trong mâm cỗ ấy không thể thiếu thịt một con vật nuôi trong nhà, do người ta tin “chúa sơn lâm” nhận lễ rồi sẽ tha cho người làng đi rẫy hay lên rừng săn bắn, lượm củi.

Người dân Tiên Cảnh thờ cúng vì họ cho rằng cọp là "chúa sơn lâm" cai quản vùng rừng núi, ngự trị muôn loài nên hầu hết các đình, đền, phải có bàn thờ hoặc miếu thờ với bài vị trang trọng mang tên "Sơn quân chi thần", "Sơn quân mãnh hổ", "Sơn lâm chúa xứ" hay "Sơn lâm đại tướng quân", theo họ thì có thờ có thiêng, "ông cọp" sẽ phù trợ cho cuộc sống bình an của dân làng".

Nguồn gốc của việc thờ cúng của người dân Tiên Cảnh này bắt nguồn từ những câu chuyện dân gian kể về sự hoành hành và tác quái của loài hổ, xuất phát từ thực tế là vùng này nhiều hổ. Chuyện kể răng những năm đầu thế kỷ trước, vùng núi Tiên Cảnh còn hoang sơ, vào tối, sau những tàn cây rậm rạp, đôi mắt xanh biếc của “ông ba mươi” thoắt ẩn, thoắt hiện báo hiệu cuộc tìm mồi. Họ sợ khi nghe tiếng “ông ba mươi” gầm vang phía bìa rừng ông ba mươi đứng lừng lững giữa sân. Đôi mắt xanh biếc long lên sòng sọc, đàn chó nhà khép nép vì sợ hãi trong góc sân.

Nỗi sợ hãi ấy đã khiến người dân Tiên Cảnh tôn sùng loài ác thú này như thần thánh. Hổ không chỉ kiếm ăn trên rừng. Loài ác thú ấy còn về tận thôn làng, gây nên bao tai họa và cả nỗi khiếp đảm do những loài thú hiền lành như hươu, nai cũng thường xuyên mò về làng ăn cây cối hoa màu, điều khiến mọi người khiếp đảm, là bước chân của các loại thú ăn cỏ này lại vô tình dẫn đường cho hổ dữ đi theo tìm mồi. Hiện nay, khi loài hổ đã vắng bóng ở vùng núi Tiên Phước nhưng nhiều người vẫn tin rằng việc thờ cúng "ông ba mươi" rất quan trọng.

Làng Mỹ Sơn hiện nay thuộc thôn Bàn Sơn, xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, Quảng Nam, nơi vẫn còn lưu truyền những câu chuyện kì bí về dải lụa trắng của bà Bô bô Phu nhân và chuyện ông Bạch Hổ Sơn quân oai linh oai dũng. Nơi gốc đa vẫn thường xuyên thờ cúng Bạch hổ Sơn quân, chuyện về ông Bạch hổ Sơn quân xuất hiện đầu thế kỉ 19. Nơi trong làng mà ông cọp trắng hay lui tới nhất là chỗ miếu Thổ, bên cạnh có một cây đa rất lớn. Truyền thuyết này ấn hiện đậm nét trong ký ức người dân vùng Mỹ Sơn này.

Truyền thuyết về Bạch hổ sơn quân ở làng Mỹ Sơn tỉnh Quảng Nam kể về một con hổ trắng đầy quyền năng và phá hoại dữ dội và người ta phải tôn thờ nó vì sợ hãi

Sự linh thiêng của ông Bạch hổ Sơn quân còn được gắn liền với cây đa mọc trên mái miếu Thổ. Ai muốn chặt cành nào là phải cầu cúng Bạch hổ Sơn quân cẩn thận, rồi xin phép người giữ miếu, các trưởng họ mới được chặt. Những câu chuyện xung quanh nơi cây đa ông cọp trắng có nhiều yếu tố hoang đường, kì ảo nhưng thể hiện vai trò quan trọng của những địa danh này trong đời sống tâm linh, văn hóa của người dân xã Duy Phú[142]. Câu chuyện này bắt nguồn về một ông cọp rất lớn toàn thân trắng bạch về làng quấy phá.

Đầu tiên nó bắt và cắn chết vợ một người đàn ông, sau đó ông cọp bắt rất nhiều trâu, bò, lợn, gà của người trong làng. Vì sợ ông cọp trắng làm hại, nên mọi người đã mời một ông thầy về cúng ngay chỗ miếu Thổ để trấn yểm. Ông cọp trắng được phong cho danh hiệu thể hiện sự kính trọng của người dân: Bạch hổ Sơn quân. Từ đó mỗi năm người trong làng đều tổ chức cúng ông cọp trắng, đặc biệt trong mâm lễ cúng nhất thiết phải có một cái đầu heo sống. Cứ năm nào ông cọp trắng về lấy đi cái đầu heo thì trong cả năm ông không quấy phá, người dân đi vào rừng vào núi săn bắt được nhiều mà không sợ bị các loài thú ăn thịt làm hại, còn năm nào không lấy đi cái đầu heo, không lấy chân chấm vào chén mực để lại dấu vết thì năm đó người dân bị các loài thú dữ quấy phá, gặp nhiều chuyện chẳng lành, bệnh tật[142].

Đồng Lạc thuộc xã Hiệp Hòa, huyện Hiệp Đức tỉnh Quảng Nam có người nổi tiếng đánh cọp, hiện người dân lập miếu thờ. Hai bên cọp và người giao chiến từ tờ mờ sáng đến lúc trời tối. Cuối cùng cả hai đều chết vì kiệt sức. Người dân chôn ông này và "ông cọp" ngay tại địa điểm mà hai bên nằm xuống. Từ đó người dân địa phương gọi nơi này là mả Ngài. Về sau người làng lập miếu thờ Tiền Hiền và "ông cọp" ở đầu làng Trà Linh. Cứ đến rằm tháng Giêng hàng năm, người làng lại tổ chức lễ giải mả (cúng giỗ) để cúng Tiền Hiền và "ông cọp". Năm nào cũng vậy, khi cúng, người làng để lại cái đầu heo treo trên thân cây bí bái ở sau miếu. Nếu năm nào cọp leo lên ăn thì người làng làm ăn phát đạt, thuận buồm xuôi gió. Còn năm nào cọp không vào ăn thì người làng thường gặp tai ương, người dân xem "ông cọp" như một vị thần đỡ đần cho dân làng.

Người dân Dùi Chiêng, Quảng Nam không quên nỗi khiếp sợ khi hổ liên tục xuất hiện, gầm gừ, ăn thịt cả người và gia súc mỗi khi chúng bắt gặp. Khu vực hố Ông Bình, hố Dòng Dĩnh là nơi tập trung hổ nhiều nhất. Ngày xưa làng Dùi Chiêng nổi tiếng với sự xuất hiện của hàng loạt con hổ lớn chuyên bắt trâu bò và cả người. Dù kinh hãi nhưng không chịu khuất phục, nhiều người đã đứng lên bắt hổ, giúp an dân, ổn định cuộc sống. Có một người dũng cảm đánh hổ và được lập dinh thờ và họ cũng thờ luôn ông Hổ định đánh bại đó là Dinh thờ “ông Trùm” tại thôn Dùi Chiêng. Thờ cúng dinh “ông Trùm” đã trở thành nét văn hóa và là niềm tự hào của người dân nơi đây.

Quảng Ngãi[sửa | sửa mã nguồn]

Người Việtngười Cor ở Quảng Ngãi đều có chung tín ngưỡng thờ hổ trắng đó là con cọp bạch dưới trướng của Thiên Y A Na và được sắc phong là Bạch Hổ Đại tướng quân hay còn gọi là Trùm cả

Người Co sinh sống ở huyện miền núi Trà Bồng tỉnh Quảng Ngãi vốn chịu ảnh hưởng của tín ngưỡng vạn vật hữu linh. Giữa người Cor và người Kinh có sự giao thoa văn hóa và họ có chung tín niệm là người dân còn thờ phụng Bạch Hổ, vừa phối thờ tại Điện vừa có miếu thờ riêng. Theo truyền thuyết, đây là một trong những vị tướng của Thiên Y A Na, đã có công lớn trong việc giúp dân diệt trừ mãnh thú ở vùng đất này từ thuở khai sơn lập địa. Công lao của thần Bạch Hổ đã được triều đình nhà Nguyễn ban sắc phong: “Sơn lâm Chúa xứ Trùm cả Bạch Hổ Đại tướng quân”. Sách Đại Nam nhất thống chí cũng đã từng ghi chép về miếu thờ này. Miếu Bạch Hổ nằm chếch về phía Đông Nam Điện Trường Bà, thuộc xóm Gò Xôi, thị trấn Trà Xuân.

Tương truyền đây là một “Ông hổ đi tu”, không ăn thịt người. Nhờ có “Ông” mà cả một vùng rừng quế bạt ngàn xưa kia không thấy các loài mãnh thú về quấy phá dân làng. Do vậy, khi “Ông” mất, dân làng đã chôn cất tử tế và lập miếu thờ[76][143]. Trong lễ tế Thiên Y A Na ở Điện Trường Bà được tổ chức vào dịp rằm tháng Tư âm lịch hàng năm, người dân còn tế lễ vị Trùm cả Bạch Hổ này ở bên ngoài chánh điện, đồng thời soạn lễ vật tổ chức tế vọng tại miếu Bạch Hổ ở xóm Gò Xôi, cách Điện Trường Bà không xa. Đây là một tục lệ chứa đựng nhiều lớp giá trị như tâm linh, nhân văn, giáo dục truyền thống. Tục thờ cúng Bạch Hổ còn góp phần nâng cao tính cộng đồng, gắn kết các dân tộc cùng sinh sống cộng cư trên một vùng đất. Việc duy trì hoạt động thờ cúng Bạch Hổ là nhu cầu chính đáng của người dân góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở đây[76][143].

Kon Tum[sửa | sửa mã nguồn]

Đình Võ Lâm, tỉnh Kon Tum có thờ hình con bạch hổ được chạm khắc ở ngay bình phong vào chính điện thờ, bạch hổ ở đây không chỉ trừ tà mà còn ngăn ngừa được ma rừng theo quan niệm của người bản địa, điều này xuất phát từ câu chuyện một con bạch hổ ba chân, nó vốn hung bạo ở rừng này, đã tấn công và ăn thịt tất cả các loài thú. Khi thiếu mồi, nó còn tấn công cả người. Một khi bạch hổ đã ăn thịt người thì nó càng hung tợn, càng dữ hơn bất cứ loài thú ác nào từ rừng đi vào chùa. Con bạch hổ này đi về chùa để nghe tụng kinh và từ khi về chùa Bác Ái nghe kinh Phật, xung quanh chùa thú dữ tránh đi hết, trong vùng không còn xảy ra các chuyện như người bị hổ vồ, hay thú dữ tấn công vật nuôi của làng Võ Lâm[64].

Phú Yên[sửa | sửa mã nguồn]

300px|nhỏ|phải|Ở Phú Yên con hổ được kính trọng vì dù là loài hung dữ, ăn thịt người nhưng có lòng chung thủy với vợ, có tình thương yêu con cái, và có nghĩa với loài người. Ở vùng Phú Yên còn có câu chuyện về hang hổ, gắn liền với câu chuyện thầy tu đả hổ, trước khi thầy tu này đến, hổ sống rất nhiều ở trong và xung quanh hang, dân sống dưới chân núi luôn khiếp sợ bởi tiếng gầm hú ghê rợn của hổ, nhiều người khi săn bắn thú rừng bị bỏ mạng dưới nanh vuốt của hổ dữ. Dân quanh vùng không ai dám đến gần hang hổ, cho đến khi vị thầy tu xuất hiện làm cho bầy hổ trở nên thân thiện với người dân, khi ông qua đời, dân lập miếu thờ. Khi vị thầy tu mất, thì hổ tái chiếm hang, những bầy hổ bỏ đi nơi xa cũng quay trở lại[144].

Bên con đường thiên lý ở km 1282+700 qua địa phận khu phố Bình Thạnh, phường Xuân Đài, thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên có di tích được người dân địa phương gọi là miếu Ông Cọp, ngôi miếu này đã tồn tại hơn 400 năm gắn liền với nhiều truyền thuyết. Miếu Ông Cọp nằm khuất trong vườn cây bên vách núi Mỹ Dự, ngôi miếu rất đơn giản nhưng chứa đựng nhiều yếu tố truyền thuyết dân gian và đậm chất nhân văn. Miếu được cư dân địa phương trân trọng ghi nhận là nơi tôn thờ đạo nghĩa, bày tỏ ước vọng hướng tới cuộc sống an lành, hạnh phúc. Không riêng ở Phú Yên mà tại các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Quảng Nam cũng có miếu Ông Cọp, đình Ông Hổ gắn liền với nhiều truyền thuyết [84][145].

Làng Tiên Châu xưa có rất nhiều cọp, làng này có cọp Râu Trắng nên Tiên Châu còn có tên khác là làng Cọp Râu Trắng. Cứ đến mùa tế thần, các bậc trưởng lão trong làng lại cúng vái để gọi thần Cọp Râu Trắng về. Trong các lần tế lễ, đêm đến trên các ngọn cây thường có những tiếng động rì rào cùng nhiều âm thanh réo rắt, đó là tiếng đàn bầu do Cọp Râu Trắng gảy. Cọp vốn là loài hung dữ, ăn thịt người nhưng có lòng chung thủy với vợ, có tình thương yêu con cái, và có nghĩa với loài người. Truyền thuyết ông Cọp Bạch thể hiện niềm tin trong dân gian về một di tích đậm tính nhân văn, nhân bản sẽ được muôn đời sau truyền tụng như một đạo nghĩa ở đời Huyền thoại về Cọp Râu Trắng càng được tô đậm khi tìm được miếu ông Cọp Râu Trắng

Miếu thờ Cọp có ở nhiều nơi trên vùng đất Phú Yên, nhưng tiêu biểu về giá trị văn hóa, thể hiện niềm tin trong dân gian là miếu Ông Cọp. Di tích miếu Ông Cọp ở thị xã Sông Cầu cho thấy vùng đất này xưa có rất nhiều cọp. Miếu Ông Cọp có phần mái được lợp bằng ngói máng úp, bên ngoài là ngói, trong là mái, phần kết dính được làm từ chất liệu vôi, bông gòn và nước mật pha trộn. Vết tích cổ còn lại là gian điện thờ Cọp Bạch và một tượng cọp đã rêu phong, một pho tượng Ông Cọp bằng đá trắng đặt trên tấm bia phía trước miếu, hai Ông Cọp khác được đúc bằng xi măng trên hai trụ bê tông đều trong tư thế dũng mãnh chồm mình vươn lên phía trước[84].

Miếu Ông Cọp gắn với nhiều truyền thuyết, huyền thoại độc đáo từ thời mở cõi, người dân địa phương nhiều thế hệ sau không ngừng mở rộng, cải tạo miếu Ông Cọp để làm nơi tôn thờ đạo nghĩa. Miếu nằm sát chân núi trên khuôn viên đất rộng chừng 250m2, cách quốc lộ 1A khoảng 100m. Người đi đường còn nhìn thấy một tấm bia vuông vức, trên bia có dòng chữ “Miếu Ông Cọp” nằm trên đỉnh dốc Vườn Xoài. Từ miếu, nhìn về phía tây là núi, phía đông là cửa biển. Khu miếu với vết tích cổ xưa hiện rõ ở gian điện thờ Ông Cọp. Bên tay phải, sát hốc núi còn có một bàn thờ bằng đá xưa, trên tảng đá thờ hai ông Cọp, trong đó có ông Cọp Bạch.

Vùng núi Mỹ Dự còn lưu truyền câu chuyện có nghĩa của ông Cọp Bạch

Núi Mỹ Dự nổi tiếng với nhiều đàn cọp hung dữ, ban đêm thường xuống làng để ăn thịt người, trong đó ông Cọp Bạch là dữ nhất, nó có trên 10 cọp con nhưng nhận thấy chưa ai có thể thay mình cai trị vùng đất lắm cọp beo này nên sinh nở thêm một con nữa nhưng khi mang thai sắp hạ sinh thì do cọp cái đẻ khó nên ông Cọp Bạch phải lao xuống chân núi, chạy thẳng vào xóm Đồng Đò xé toạc vách nứa ngôi nhà nhỏ, vồ lấy bà mụ.

Nhiều người dân nhìn thấy nhưng không dám ngăn cản, mà chỉ biết quỳ lạy, thắp hương van vái xin buông tha, nhưng ông Cọp đưa bà mụ lên núi để đỡ đẻ, sau đó đưa bà mụ xuống núi trở về nhà. Ba đêm sau, ông mang xuống sân nhà bà mụ một con lợn rừng để tạ ơn. Sau khi bà mụ qua đời, mỗi năm, đều thấy dấu chân ông Cọp Bạch viếng mộ và ông xuống nằm dưới chân núi Mỹ Dự với dáng vẻ trầm buồn, ít lâu sau thì chết. Tưởng nhớ ông Cọp Bạch hiền lành, biết quý trọng ân nhân, người dân xóm Đồng Đò lên núi đào đá, xếp thành miếu ông Cọp để tôn thờ[84][145].

Một truyền thuyết khác kể rằng, ngày xưa ở xóm Đồng Đò có vợ chồng lão ngư giàu có, hiếm muộn, có người con giỏi võ, một lần đi qua núi Mỹ Dự, anh bị đàn cọp dữ chặn đường, nhưng đã hạ gục ông Cọp Vằn hung dữ nhất. Hôm sau ông Cọp Bạch rời núi Mỹ Dự xuống xóm Đồng Đò tìm gặp để nhờ dạy võ cho đàn cọp con với lời hứa không bao giờ để đồng loại gây hại dân làng, người thanh niên này cảm khái nhận lời và truyền cho cọp các tuyệt học của mình.

Để bày tỏ lòng cảm ơn, ông Cọp Bạch đưa hai chi trước ra nắm tay anh An, không may móng vuốt cào xước bàn tay nên vài ngày sau vết thương làm nhiễm độc nên đã vô tình cướp mất sinh mệnh anh. Vợ chồng lão ngư đưa người con tài ba nhưng xấu số lên phía chân núi Mỹ Dự để chôn cất và xây mộ. Biết chuyện, ông Cọp Bạch rất ân hận và thầm lặng lẽ xuống nằm gần ngôi mộ nhiều ngày đêm rồi chết. Cũng từ đó dân làng lập miếu Ông Cọp[84][145].

Dịp cuối năm, những người hành hương thường kéo nhau về cúng viếng tại miếu Ông Cọp cầu mong cho công việc làm ăn tấn tới, phước lộc đầy nhà. Vào ngày rằm và đầu tháng, đặc biệt là tiết thanh minh, tiết lập thu, miếu Ông Cọp đón nhận hàng ngàn khách thập phương đến cúng viếng. Sau phần tế lễ, mọi người mang chiếc thuyền được làm từ bẹ chuối thả trôi trên sông Bình Bá để tống tiễn những điều xấu và cầu mong an lành, sức khỏe cho bà con. Miếu Ông Cọp rất linh hiển, đáp ứng đời sống tâm linh, song đây không phải là nơi để những người mê tín dị đoan tìm đến để cầu số đánh đề vì thực trạng có nhiều đối tượng lợi dụng niềm tin này để tổ chức cờ bạc.

Khánh Hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh thờ Hắc Hổ Nha Trang Khánh Hòa

Khánh Hòa xưa nhiều cọp “Cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận”. Bên cạnh những chuyện cọp bắt người (Rumong trong tiếng Raglai nghĩa là “Cọp”. “Rumong má un!” là: Cọp bắt heo!”), người săn cọp, người Khánh Hòa còn lưu truyền những giai thoại về sự gần gũi giữa chúa sơn lâm với con người như lời nhắc nhở: cần sống thân thiện với thiên nhiên[146]. Người dân ở tổ dân phố Mỹ Trạch, phương Ninh Hà, thị xã Ninh Hòa thuộc tỉnh Khánh Hòa hằng năm vẫn duy trì lễ cúng tại miếu cọp, cầu mong “ông” cọp che chở dân làng. Tục cúng “ông” cọp được cho là xuất phát từ chuyện xưa kia người trong làng vô tình giết chết những đứa con của “ông”, và cảm thấy có lỗi với “ông” cọp.

Khi làng mới thành lập, người dân khai hoang trồng lúa, khi đốt xong đám cỏ lác, nông dân làng Mỹ Trạch đã phát hiện có ba bộ xương cọp con bị cháy. Dân làng tự trách mình đã vô tình giết chết ba chú cọp con. Dân làng Mỹ Trạch cho rằng việc ngộ sát ba chú cọp con đã khiến cọp mẹ nổi giận, liên tục quấy phá, khiến người dân “làm gì hỏng nấy”. Dân làng quyết định mở một cuộc họp, bàn cách chuộc tội với “ông” cọp. Cuối cùng, người dân nguyện lập một miếu thờ cọp. Xương cốt của ba chú cọp con được người dân đưa về, cẩn thận cho vào một hộp gỗ nhỏ, đặt trong miếu thờ, ban đầu ngôi miếu thờ cọp được dựng lên ngay khu vực ba chú cọp con bị cháy. Từ khi lập miếu, cọp không còn về làng gầm rú, thoắt ẩn thoắt hiện “hù” người dân nữa.

Trải qua nhiều năm, miếu thờ cọp xuống cấp, người dân đã làm lễ xin dời vào trong làng, thuộc khuôn viên đình Mỹ Trạch. Ngôi miếu nhỏ thờ cọp được xây bằng xi măng, mái ngói, nằm phía bên hông trái đình Mỹ Trạch giờ đã phủ rêu phong. Trước miếu có bình phong với hình tượng cọp mẹ, sơn màu vàng chủ đạo, đang băng qua cảnh núi rừng của làng Mỹ Trạch xưa. Trong miếu vẫn còn lưu hộp gỗ đựng cốt ba chú cọp con, đình Mỹ Trạch được xây dựng vào khoảng thế kỷ 18, hằng năm, cứ đến ngày 18 tháng 3 âm lịch là người dân Mỹ Trạch góp tiền lo lễ vật mang ra cúng tại đình làng, người dân còn làm lễ cúng tại miếu thờ sơn lâm chúa tướng, chính là miếu thờ ba chú cọp con bị ngộ sát năm xưa[147]. 

Vùng núi rừng Khánh Hòa giáp giới các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Lắk, Phú Yên, có lẽ do địa thế và môi trường thích hợp, cọp ở quá nhiều đã gieo tai họa khủng khiếp và tang tóc cho dân lành hàng bao thế kỷ nên đã thành danh Cọp Khánh Hòa. Tuy vậy, ở chùa Suối Ngổ, tọa lạc trên núi Phượng Hoàng, xã Vĩnh Phương, Nha Trang (Khánh Hòa) lại có một miếu thờ cọp, với câu chuyện người dân lưu truyền về “ông” cọp ở vùng này xưa kia không những không gây hại mà còn bảo vệ chùa cũng như dân làng. Hồi đó vùng này rậm rạp, nhiều ác thú nhưng người tu hành, khách viếng chùa cũng như dân làng ở đây lại được “ông” cọp bảo vệ. Nếu có ai ăn cắp đồ của chùa thì sẽ bị “ông” cọp chặn đường. Người dân địa phương sợ là do cảm giác mình yếu đuối trước chúa sơn lâm, nhưng trong lòng luôn có niềm tin về các “ông” ở đây hiền lành, chỉ bảo vệ chứ không hại người. Người dân thường gọi “ông” cọp cũng là vì kính trọng[148].

Bình Thuận[sửa | sửa mã nguồn]

Hổ cũng được ghi nhận được tôn sùng trong cư dân ở vùng Bình Thuận. Dinh Thầy Thím, tỉnh Bình Thuận có miếu ông Hổ. Theo truyền thuyết dân gian thì hai mộ phía trước là mộ của Thầy Thím, hai mộ phía sau là mộ đôi Bạch Hổ–Hắc Hổ (vốn được coi là vệ sĩ, đệ tử của Thầy Thím). Chùa núi Tà Cú (người địa phương hay gọi đơn giản là chùa Núi) là một ngôi chùa tọa lạc trên núi Tà Cú ở độ cao hơn 400 m, thuộc thị trấn Thuận Nam, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận có Tháp Tổ nằm trước điện thờ, bên cạnh có mộ con cọp tương truyền là đã được sư Hữu Đức thuần hóa.

Đồng Nai[sửa | sửa mã nguồn]

Tục thờ Hổ thần khá phổ biến ở Đồng Nai và thể hiện trong các miếu, đình tại Đồng Nai. Hầu hết các ngôi đình ở Đồng Nai đều có miếu hay bàn thờ Cọp với các tên gọi như Hổ thần, Mãnh hổ Sơn quân, Bạch Hổ, Chúa Sơn Lâm. Trước các đình thường có những bức bình phong được chạm trổ, đắp phù điêu, vẽ thể hiện hình tượng của vị chúa tể rừng xanh này trông dáng vẻ uy nghi, oai dũng. Tục thờ thần Hổ là một trong những tín ngưỡng dân gian của những người di dân từ thuở trước còn lưu lại[83]. Tại một số đình, còn có tục thờ "Thanh Long và Bạch Hổ". Đây là một quan niệm về thuật phong thủy. Xem như thế đất của đình là mạch quý, bên tả có Thanh Long bảo vệ, hữu có Bạch Hổ trấn giữ nên không có gì xâm phạm được. Hoặc bức bình phong có hình Sơn Quân có thể hiểu là một dạng yếm bùa các thế lực tà ma không được đến khu trung tâm khi đã có vị chúa tể này canh gác[83] một số nơi thờ chung như Miếu Bà Mụ tại Bến Gỗ, huyện Nhơn Trạch.

Những vùng đất hoang vu vắng vẻ là nơi lý tương cho cọp cư ngụ

Biên Hòa trước là vùng đất nhiều thú dữ, đặc biệt là nhiều cọp đã đe dọa trực tiếp đến cuộc sống, quá trình khẩn hoang của những người di dân, tâm lý lo sợ về mối nguy hiểm này đã khiến cho họ thờ Cọp, tôn Cọp lên chức Ông Cả của làng xóm để mưu cầu một cuộc sống bình yên[83] Người Việt ở Biên Hòa thờ thần Hổ với những thần hiệu khá độc đáo trong các miếu thờ. Trong số những miếu thờ, hình ảnh vị chúa tể Sơn lâm được khắc họa bằng hình ảnh oai vệ, hay danh xưng được ca ngợi tột bậc lên hàng thần, hàng tướng, hàng Cả. Miếu thờ thần Hổ ở đình Hoà Qưới thuộc Cù lao Phố, xã Hiệp Hoà, Thành phố Biên Hòa có hai câu đối ca ngợi sức mạnh của đệ nhất Mãnh Hổ tướng quân: Hùng hào tuấn kiệt nhứ mãnh hổ. Anh dũng oai linh thị sơn lâm[77].

Đặc biệt, trong các miếu thờ thần Hổ ở Đồng Nai, duy nhất có một miếu thờ mà trong đó bày phần đầu thật của một con Cọp. Đây là nét độc đáo, hiếm thấy trong tục thờ này ở Nam bộ. Phải chăng, điều này thể hiện sự dung dị, hài hòa trong cách sống, tín niệm của những lớp di dân trước đây. Trước sức mạnh của muôn thú, họ vừa nể sợ, sẵn sàng thờ cúng, tôn Cọp lên hàng thần linh để mưu cầu cuộc sống bình yên nhưng họ cũng sẵn sàng thể hiện sức mạnh của mình nếu đã kính cẩn, muốn sống hài hòa nhưng không được tôn trọng, điều cầu mong chính đáng không được đáp ứng[83].

Ngày nay, vùng Biên Hoà phát triển cảnh quan có nhiểu đổi thay. Thú dữ, trong đó có loài Cọp không còn quấy nhiễu như xưa, thậm chí chúng còn đứng trước nguy cơ bị diệt chủng. Thế nhưng, tín niệm trong dân gian về thờ Hổ thần vẫn còn được bảo lưu, duy trì trong một chừng mực nhất định. Ngày nay, vùng Biên Hòa phát triển, cảnh quan có nhiều đổi thay. Thú dữ, trong đó có loài Cọp không còn quấy nhiễu như xưa, thậm chí chúng còn đứng trước nguy cơ bị diệt chủng nhưng, tín niệm trong dân gian về thờ Hổ thần vẫn còn được bảo lưu, duy trì trong một chừng mực nhất định[83].

Nhiều giai thoại ly kỳ về cọp xứ Đồng Nai xưa khá phổ biến. Không chỉ lập miếu mạo để thờ cọp mà người di dân thời xưa muốn tồn tại, sống yên ổn thì phải đương đầu trực tiếp loài thú dữ này. Tại ngôi miếu nhỏ ven đường ấp Bình Ý, xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu (Đồng Nai) nhân dân dựng bức tượng hổ thờ để tránh “ông ba mươi” về quấy phá. Bức tranh sơn dầu ở chùa Hóc Ông Che ở xã Hóa An, Biên Hòa tái hiện chuyện con người cảm hóa cọp dữ thành hiền lành, biết học đạo tu hành, chùa Hóc Ông Che còn là nơi có chuyện tích về cọp[83].

Vùng Bửu Long, Biên Hòa thuở xưa còn hoang vắng, có một con cọp trắng xuất hiện nhưng chẳng hại ai, cọp còn giúp đỡ những người lên núi thăm chùa, nó còn còn giúp cõng người lên núi thăm chùa. Cọp thường về nằm chỗ có hai tảng đá nằm chồng lên nhau, hình vòng cung, có dáng như cọp đang há miệng, bên dưới có tảng đá bằng phẳng. Người dân gọi nơi đây là Hổ đầu thạch. Từ khi có cọp trắng, không có thú dữ nào dám về phá phách dân làng. Người dân quý mến cọp trắng và cử cọp làm Hương cả trong làng bằng tờ giấy giao ước để sẵn trong hang, mỗi năm đem đặt tờ sớ tại hàm Hổ. Về sau, cọp đi nơi khác nhưng cứ đến đêm của ngày cúng thì về nhận giấy cử chức năm mới và tục cúng nhận chức “Hương cả” đến nay vẫn còn[77][149].

Tại xã An Hòa, Biên Hòa, có một ngôi miếu nhỏ bằng tranh tre vách lá thờ bà (một người phụ nữ đỡ đẻ cho cọp) và suy tôn bà là nữ thần của làng. Miếu được bố trí dạng chữ tam gồm: chánh điện thờ bà Mụ Trời và Ngũ hành nương nương, nhà khách thờ Tiên sư và nhà võ ca đối diện chánh điện[150]. Một giai thoại dân gian về người phụ nữ làm nghề "mụ vườn", vào một đêm vách nhà có tiếng quào, thấy một con cọp rất lớn, miệng gầm gừ nhưng tỏ vẻ thống thiết đó là muốn đỡ đẻ cho cọp cái. Ông ba mươi đưa bà đến cái hang nơi có con cọp cái bị đẻ ngược. Bà đỡ đẻ cho cọp cái, sau cọp đưa bà trở lại nhà. Từ đó, sáng nào trước nhà bà cũng có xác một con heo rừng, cheo cheo, thỏ rừng, sóc của chúa sơn lâm mang đến tận nhà bà để đền ơn, khi bà chết có một đàn cọp đến rống lên ba tiếng tiễn đưa, rồi mới bỏ đi[150].

Bình Phước[sửa | sửa mã nguồn]

Người Việt bắt đầu di cư tới Bình Phước vào nửa đầu thế kỷ XVII. Quá trình khai hoang, mở ấp, lập làng diễn ra trong hoàn cảnh khắc nghiệt và hiểm nguy, họ phải đối mặt với thú dữ, đặc biệt là hổ, chúng thường đe dọa đến tính mạng người, vật nuôi. Từ đó, tín ngưỡng cúng thần hổ xuất hiện nhằm tạo ra niềm tin bình an, góp phần giúp đỡ và bảo vệ mùa màng cho người dân, nhà nhà yên ổn và cũng còn có chức năng hộ vệ như vị thành hoàng bổn cảnh. Tín ngưỡng thờ cúng thần hổ được duy trì từ thời xa xưa. Xưa kia xung quanh là rừng rậm, có rất nhiều thú dữ, đặc biệt là hổ, thường quấy nhiễu dân làng. Vì vậy, để yên ổn nên lập bàn thờ riêng trong đền để cúng thần hổ vào các dịp cúng đền. Ngày nay, bên cạnh việc duy trì lễ cúng đền vào ngày lễ lớn đền cũng cúng riêng thần hổ. Tín ngưỡng thờ cúng thần hổ trong các ngôi đình, đền, miếu là một trong những nét đẹp văn hóa mang tính nhân văn của người Việt có mặt ở Bình Phước[80].

Tại nhiều đền, đình, miếu ở Bình Phước vẫn còn có chỗ để thờ thần hổ hay ông Cả Cọp. Ông Cả Cọp được đặt ở nhiều vị trí khác nhau, điển hình nhất thường được dựng trước cửa vào gian chính điện. Nhiều nơi đặt bức bình phong một mặt có khắc hình Cả Cọp, thường được dựng ở trước cửa vào gian chánh điện theo quan niệm phong thủy, vừa che chắn những điều không hay, vừa tạo sự kín đáo cho công trình phía trong, cũng có khi bức bình phong này được đặt trước sân[31][80]. Một số nơi còn lập riêng miếu nhỏ với hoa văn trang trí, đặt bát hương và bài vị đặt bên, ghi “Sơn Quân chi thần”, “Lý Nhị đại tướng quân”, “Sơn Lâm Hổ Lang chi thần”, “Hổ đồng Hương chi thần”, “Mãnh hổ Đại tướng quân”, “Ngũ hổ đại tướng quân”. Những hình thức thờ tự này vẫn còn thấy tại nhiều nơi trong tỉnh Bình Phước (đặc biệt, điều này được thể hiện rõ nhất ở thị xã Bình Long) như[31][31][80][80]:

Bình Dương[sửa | sửa mã nguồn]

Riêng ở Bình Dương hệ thống thần linh nông nghiệp như thần Nông, thần Hổ, bà Chúa Xứ, Ngũ Hành hay Linh Sơn Thánh Mẫu được đưa vào trước miễu. Bài vị trong các đình ở Bình Dương thường ghi hai chữ “Bạch Hổ”, “Sơn Quân” với cái tên rất giống người là “Lý Nhĩ Tướng Quân”. Việc thờ Ngũ Hổ Tướng Quân cũng thấy ở nhiều nơi ở vùng này[77]. Đình Định Thành thuộc huyện Dầu Tiếng thờ Ngũ vị Thống chế (tên gọi khác của Ngũ Hổ Tướng Quân, tức thần cọp vàng, cọp trắng, cọp xanh, cọp đỏ, cọp đen. Năm thần cọp này tương ứng với Ngũ Hành. Một số ban thờ trong các đình ở Thuận An thì thờ Thanh Long và Bạch Hổ thể hiện quan niệm theo phong thủy “Tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ[77].

Tại Đình Bà Lụa ở thị xã Thủ Dầu Một có thờ Thần Hổ[77]. Đình Phú Cường giữa sân đình là bình phong (đắp hình cọp ở mặt trước, hình rồng ở mặt sau) và bàn thờ Thần nông. Hai bên có miếu thờ Tả hộ vệ và Hữu hộ vệ. Đình Bến Thế hay đình Tân An tọa lạc tại ấp 1 xã Tân An, thành phố Thủ Dầu Một, phía trước võ ca còn có miếu nhỏ với kiến trúc cổ kính thờ thần Hổ là thần cai quản núi rừng. Ngoài ra còn có Núi Cậu là một ngọn núi nhỏ nằm ở ấp Tha La, xã Định Thành, huyện Dầu TiếngChùa Thái Sơn Núi Cậu, đỉnh Ông Cậu có một cái hang đá được gọi là miếu thờ cậu Bảy. Bên trong ngôi miếu có bức tượng cậu Bảy đứng thủ bộ võ. Bên ngoài cửa miếu có tượng một con cọp nhe nanh như đứng gác[151].

Vũng Tàu[sửa | sửa mã nguồn]

Lăng Ông Nam Hải
Tượng hổ tại Lăng Ông Nam Hải ở Vũng Tàu

Vùng Mô Xoài (Bà Rịa ngày nay) được xem là vùng đất đầu tiên của người Việt khai phá ở Nam Bộ[152]. Trước đây, ở vùng Mô Xoài còn nhiều rừng rậm hoang vu, có nhiều thú dữ đặc biệt là hổ thường xuyên xâm phạm đến con người và phá hoại vật nuôi của cư dân xóm làng do đó vùng Mô Xoài, tín ngưỡng thờ thần hổ nhằm mục đích tạo niềm tin, bình an cho cư dân buổi đàu lập ấp, trong làng, hội đồng kỳ mục chỉ bầu đến chức hương chủ còn hương cả là chức vụ cao nhất phải dành cho cọp, nhiều đình làng hiện nay ở Bà Rịa-Vũng Tàu vẫn còn miếu thờ ông Cả Cọp. Hàng năm đều phải cúng thần hổ các vật phẩm gồm trà rượu, nhang đèn, thịt heo sống và trứng gà, cứ ba năm một lần, hễ ai trái tục lệ này thì bị cọp về móc họng.

Hàng năm, dân làng vùng Mô Xoài phải làm lễ Bầu Ông và dâng cúng cho công Cả cọp một cái thủ vĩ và dân tờ cử chức Hương Cả. Miếu thờ ông Cả Cọp thường đặt gần đình và có đặt bài vị Sơn quân chi thần, Lý Nhĩ đại tướng quân, Sơn Lâm hổ lang chi thần, Hộ đồng hương chi thần, mãnh hổ đại tướng quân, Ngũ hổ đại tướng quân. Hiện nay ở các đình Thắng Nhất, Thắng Nhì, Long Hương, Long Điền thờ ông Hổ với nhiều câu đối ở đình Thắng Nhất, Thắng Nhì, đình Long Hương ở phường Long Hương, Vũng Tàu[153].

Thờ thần hổ trong đình làng thời xứ Mô Xoài là một dạng tín ngưỡng hình thành từ thời khai hoang còn lại đến ngày nay. Theo truyền thuyết dân gia thì mỗi cụm rừng đều có một vị chúa tể và vị thần hổ này giúp chống lại thú giữ, giúp đỡ, bảo vệ mùa màng cho dân làng. Hình ảnh long hổ hội, hay chúa sơn lâm tượng trung cho âm dương hài hòa cầu mong mưa thuận gió hòa hoặc là Thần Hoàng Bổn Cảnh, bảo vệ cuộc sống bình an cho cộng đồng dân cư. Đây là một dạng tín ngưỡng dân gian của người xưa, hình thành và củng cố tinh thần của những cư dân khai hoang mở đất ở những nơi ven rừng núi, thể hiện dấu tích của loài hổ một thời tung hoành gây biết bao nổi kinh hoàng cho bao người[153].

núi Lớn, xã Thắng Nhì, gần chợ Bến Đá có ngôi chùa, thường gọi là Điện Bà hay Linh Sơn điện bà (tên cũ là Long Nhan điện). Bên cạnh Điện Bà có hai miệng hang lớn là hai miệng hang thần Hổ tu hành ngày xưa, vào chiều hai con cọp thường đến nghe tụng kinh, gõ mõ, những không bắt vịt, quấy phá dân chúng và ở tu luôn tại hai cái hang ấy. Một ông tu tại đó cho đến chết, còn ông kia ra ngoài rừng kiếm ăn bị Pháp bắn chết. Chùa hay tin đem xác về chôn ngay tại hang ông ở, lấy cái đầu phơi khô đem thờ trong chùa, về sau bị lấy cắp[77] Ngôi chùa này trước có tên là Long Nhan điện”. Một di tích của thời cọp lộng hành Vũng Tàu năm xưa là miếu thờ thần Hổ, con đường mòn từ trên ngọn hải đăng đi xuống được đặt tên là đường mòn Ông Hổ.

Chùa Thiên Thai dưới chân núi Cô Sơn cũng có một truyền thuyết cọp tu, trước đây Cô Sơn là một vùng hoang vắng, bốn bề là rừng núi. Dưới chân núi có một thạch động (động Thiên Thai) là nơi ở của một con cọp trắng. Một vị tổ đã vào trú tạm trong thạch động. Bạch hổ đi săn về thấy người trong thạch động liền gầm thét dữ dội, vị này đề nghị bạch hổ nhường nơi ấy cho ông làm chỗ thờ Phật. Cọp trắng đồng thuận. Từ đấy, cứ đến ngày rằm, mồng một cọp trắng lại trở về thạch động, nằm im trước cửa nghe tụng kinh gõ mõ. Bạch hổ cũng không ăn thịt nữa, mà chỉ ăn mít chín. Do vậy, mỗi khi bạch hổ đến đâu thì mùi mít chín thơm lừng cả vùng. Về sau, bạch hổ chết già trong một hang núi, sát miếu thờ Cô Sơn, nên nơi này có miếu thờ bạch hổ (tức trên đỉnh Dinh Cố). Ở chùa Thiên Thai hiện vẫn còn miếu thờ bạch hổ ở thạch động[77].

Các địa điểm tại Bà Rịa-Vũng Tàu có thờ vị sơn thần là hổ[77]. Các bài vị trong miếu thờ thần Hổ ở Bà Rịa-Vũng Tàu đều ghi là “Sơn quân chi thần[77]:

Tây Ninh[sửa | sửa mã nguồn]

Ở huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh có xóm Miễu Ông Hổ là một địa danh đã có từ hàng trăm năm trước, có tên gọi này vì ở đây có một miễu thờ “ông hổ” được xây dựng với diện tích khoảng 4,5 mét vuông trên một khu đất rộng hơn 50 mét vuông; bên cạnh miễu có một cây gõ cổ thụ. Cách nay hơn 2 thế kỷ, tại vùng đất này có nhiều cây rừng rậm rạp, nhiều thú dữ đe doạ đến cuộc sống người dân đang trong quá trình khai khẩn đất hoang, đặc biệt là cọp, trong đó có một con cọp trắng rất to lớn.Để mưu cầu sự bình an, người dân đã cất lên một miễu bằng cây để thờ “ông hổ”. Từ đó mới xuất hiện tên gọi xóm Miễu Ông Hổ. Hằng năm, ngoài lễ cúng miễu vào ngày mùng 10 tháng 3, người dân địa phương còn tổ chức lễ cúng khai sơn vào ngày mùng 3 tháng Giêng. Ngày nay xóm Miễu Ông Hổ đã đổi thay nhiều nhưng người dân nơi đây vẫn giữ tín ngưỡng “thờ cọp” như thuở xa xưa[154]. Ngoài ra còn một số di chỉ như Bức tranh cọp ở chùa Như Lai, Tây Ninh, hay tượng Phật Di Lặc ngồi trên lưng cọp và tòa sen tại Tòa Thánh Tây Ninh.

Sài Gòn[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh một con hổ dữ tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn
Hổ trắng tại Thảo cầm viên Sài Gòn, chúng được cả người Hoa và người Việt thờ phụng

Vùng Gia Định xưa nổi tiếng về việc lộng hành của hổ dữ, đặc biệt là ở vùng Tân Kiểng. Việc cọp dữ hoành hành dẫn đến việc thờ Sơn quân ở các đình làng ở vùng Thủ ĐứcQuận 9, đặc biệt là miếu Ông thờ cọp hiện tồn ở Tăng Nhơn ATăng Nhơn Phú, Quận 9, cũng như tập tục Bầu Ông ở đình Bình Thọ, cổ tục Bầu Ông hiện còn bảo lưu ở đình Bình Thọ, Thủ Đức. Tại đây có đàn thờ Bạch Hổ đặt ở bên phải trước sân đình để xác định nơi tổ chức lễ Bầu Ông của đình làng Bình Thọ hàng năm, nơi đây còn có “Văn tế Chúa Sơn lâm Mãnh hổ chi thần” trong lễ Bầu Ông. Tại Thành phố Hồ Chí Minh còn phổ biến tập tục thờ Bạch hổ thì bắt nguồn từ tín điều "Tả Thanh long-Hữu Bạch hổ" của thuật phong thủy và tín lý của Đạo giáo được truyền bá, trực tiếp từ các cộng đồng di dân người Hoa đến Nam Bộ. Việc thờ Thanh long-Bạch hổ ở các đền miếu của người Hoa cũng thấy lan sang đình miếu của người Việt, là cặp tượng Rồng xanh và Hổ trắng[28].

Khác với quan niệm của người Hoa thờ Bạch Hổ trong cặp Thanh Long-Bạch Hổ thì tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện có thờ mỗi một Bạch hổ riêng biệt như trường hợp ở đình Bình Thọ và một số miễu thờ Bạch hổ khác như miếu Ông Hổ ở đường Bến Phú Định, Quận 8, hiện tượng này hẳn bắt nguồn từ tín lý khác[28]. Theo đó, Bạch hổ là ông cọp tu, không ăn thịt người, điều xác tín này là nếp nghĩ khá phổ biến ở Nam Bộ. Ở đó, tuy có ánh lên quan niệm về việc chuyển đổi tính ác sang tính thiện, tức từ cọp dữ sang cọp tu, song không xác định rõ tín niệm Bạch hổ là loài cọp không ăn thịt người Bạch hổ chẳng những không ăn thịt người và thú vật mà còn trừ khử những loại cọp dữ khác, Bạch hổ đối lập với bọn cọp dữ hại người (được gọi là hạm). Do đó, có sự xác tín rằng ở đâu có mặt Bạch hổ thì bọn cọp dữ không dám lai vãng.

Chính vì vậy, Bạch hổ không chỉ là biểu trưng cho loài "cọp tu" mà còn có công năng xua đuổi bọn cọp dữ. Đây là tín lý phổ biến của tín ngưỡng thờ Bạch hổ ở miền Nam. Điều này khá gần gũi với điển tích Hoa Lâm nhị hổ phổ biến của Phật giáo Bắc tông và thấy xuất hiện trong bài Phổ khuyến phát Bồ đề tâm của Trần Thái Tông: “Thiền đạo nhược vô hướng vị/Thánh hiền hà khẳng quy y?/Hoa Lâm cảm nhị hổ tùy thân, Đầu Tử tam nha báo hiểu. Có nghĩa là Đạo thiền nếu không thú vị/Thánh hiền sao chịu quy y?/Hoa Lâm khiến hai hổ cảm theo, Đầu Tử có ba chim báo sáng. Chính việc các truyền thuyết về Bạch hổ ở Nam Bộ thường gắn với các thiền sư tôn túc, đạo cao đức trọng, nên giả thiết chúng bắt nguồn từ điển tích "Hoa Lâm nhị hổ"[28].

Ở Nam Bộ, tục thờ thần hổ cũng rất phổ biến, nhưng gốc tích của tục thờ thần hổ ở Gia Định lại khác. Khi Lê Văn Duyệt trấn thủ thành Gia Định, ông nuôi rất nhiều hổ. Sứ thần nước ngoài đến thăm đều khiếp đảm trước các chuồng hổ, Đức Tả quân thường cho những quân lính giỏi võ (trong đó có Lê Văn Khôi) đấu với hổ để sứ giả xem. Bầy hổ rất trung thành với Đức Tả quân. Khi Lê Văn Khôi nổi dậy chống lại triều đình bị giết, thì bầy hổ phá chuồng ra cắn chết binh triều. Hổ thì lớp bị giết chết, lớp còn lại chạy thoát về rừng.

Một hôm dân chúng đi qua phần mộ Đức Tả quân thấy có mấy con hổ nằm chết, đầu bị vỡ thì cho rằng, đây là những con vật trung thành đã tự tử theo ông. Người ta khiêng xác hổ đem chôn cất tử tế. Từ đó, người nào khấn nguyện, cầu xin Đức Tả quân điều gì đó đều có vái các "ông hổ" ấy. Và khi lập đền thờ Đức Tả quân người ta còn lập thêm cái miếu nhỏ bên cạnh để thờ ông Hổ, tức Thần Hổ. Lâu dần thành thói quen ở Nam Bộ, nơi nào lập đình thờ thần được vua sắc phong đều có cất miếu thờ Thần Hổ, lưu truyền tập tục ấy cho đến tận ngày nay[155].

Tại Thành phố Hồ Chí Minh, có nhiều không gian thờ Hổ trong các Đình, trong đó nhiều đình có ban thờ thần Hổ, có đình lại có miếu thờ Bạch Hổ hoặc trong kiến trúc có thờ tượng cọp. Một số đình thờ Hổ tại Thành phố Hồ Chí Minh như:[77]:

Bia Ông Hổ ở Đình Thông Tây Hội
Cổng đình Bình Trường thuộc huyện Bình Chánh

Một số miếu thờ tại Thành phố Hồ Chí Minh như:

  • Miếu Ông Hổ hay Miếu thờ Bạch hổ đường Bến Phú Định thuộc Quận 8. Miếu thờ cọp thì có đó, lệ cúng hàng năm vẫn còn tục Bầu Ông.
  • Miếu thờ Ông Hổ ở Tăng Nhơn Phú, thuộc Quận 9 có lễ cúng mà không có tục Bầu Ông từ những năm 80 của thế kỷ trước. Miếu này người ta thờ cọp vì chúng hoành hành dữ dội.
  • Miến thờ thần Hổ tại Lăng Ông (Bà Chiểu), khi lập đền thờ Đức Tả quân Lê Văn Duyệt người ta còn lập thêm cái miếu nhỏ bên cạnh để thờ ông Hổ, tức Thần Hổ vì cho rằng những con hổ do Lê Văn Duyệt nuôi đều tự tự theo ông[155].
  • Miếu Nổi hay Phù Châu miếu nằm trên con sông Vàm Thuật ở vùng Gò Vấp. Phía ngoài có miếu nhỏ thờ ông Hổ, một dạng tín ngưỡng sơ khai mang màu sắc Vật linh giáo do người Hoa mang theo từ quê hương tới. Bên trong miếu đặt một bệ thờ giả sơn với năm tượng hổ ở tư thế chồm. Ban đầu, miếu thờ các dạng tín ngưỡng sơ khai (thờ Hổ, Lân).
  • Miếu thờ Ông Hổ ở xã Nhơn Đức thuộc huyện Nhà Bè.

Long An[sửa | sửa mã nguồn]

Long An con cọp được thờ ở đình làng như một vị thần, cọp thờ ở Long An là biểu thị một sức mạnh thiên nhiên có thể hại người mà cũng có thể giúp người, cụ thể hóa thành con thú có vằn đen xưa kia sống quanh xóm làng, đây có thể là loài hổ biến thể hắc tốhổ đen. Ở đây còn có Miếu thờ ông Hổ ở Long An. Ngoài ra, ở Long An còn có Dinh Ông ở xã An Thạnh thuộc huyện Bến Lức, tỉnh Long An còn dấu tích việc bầu cọp làm Cả, đó là cái am nhỏ bằng lá mà người ta gọi là Dinh Ông nằm bên bờ con rạch tên là rạch Dinh[73].

Tại chùa Diêu Quang thuộc làng Khánh Hậu, thuộc xã Khánh Hậu, thành phố Tân An có một chiếc sọ cọp luôn được bọc kính cẩn trong nhiễu đỏ, chưng cạnh bát nhang thờ. Tương truyền, đây là chiếc sọ của một con cọp cái 3 chân thành tinh, từ rừng men về làng báo thù. Một tích khác cho biết việc thờ sọ cọp này của một con cọp cái 3 chân hung hãn đã quay lại báo thù ông Thám Xoài, ông đành dùng trâu rừng giết chết cọp cái 3 chân, trừ họa cho dân làng, họ khiêng hổ về xẻ thịt và đem sọ cọp đi trưng cất trong miếu Dao Quang. Nay, miếu Dao Quang đã trở thành chùa Diêu Quang và chiếc sọ cọp vẫn còn được lưu giữ, sau nhiều năm, chiếc sọ cọp mang nhiều huyền tích thuở xa xưa vẫn được người dân kính cẩn lưu giữ trong chùa Diêu Quang[57].

Tiền Giang[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều nơi ở Tiền Giang, Thần Hổ được thờ chung với Thanh Long (Rồng xanh)[77] ở đây, còn có địa danh rạch Ông Hổ và vùng đất nổi tiếng với cảnh sấu bơi, cọp chạy thành những cánh đồng mênh mông, cùng với những vườn cây trĩu quả. Một số địa điểm như Long Trung thuộc huyện Cai Lậy có miếu thờ ông Hổ, hay Hội Xuân thuộc huyện Cai Lậy cũng có miếu thờ ông Hổ, đây là những con cọp cuối cùng của vùng đất này. Đặc biệt ở ở vùng Tiền Giang nổi tiếng với câu chuyện “Cả cọp Mỹ Điền” là sự tích về tục Bầu Ông.

Đình thần Hưng Thạnh thuộc huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang có thờ hổ từ trước cả thời chống Pháp, nằm ở khu vực Bà Bèo là vùng đất trũng của Đồng Tháp Mười được biết đến với câu chuyện “Cả cọp” làng Mỹ Điền đặc sắc. Cống Đình là ranh giới giữa hai thôn Mỹ Điền và Hưng Thạnh. Hiện nay địa danh Mỹ Điền không còn. Từ khi thành lập làng Mỹ Điền có tục chỉ cử đến chức Hương chủ, còn chức Hương cả thì nhường cho chúa sơn lâm, gọi là “Cả Cọp”. Không ai dám bạo gan lãnh chức vụ này, vì lo sợ sẽ bị cọp vật chết. Dân làng Mỹ Điền có lập ngôi miếu thờ “Cả Cọp”, mỗi đầu nhiệm kỳ phải làm lễ dâng lên một tờ cử hương chức. Hằng năm đến lệ cúng phải làm heo và kiến cho “ông Cả” một bộ thủ vĩ[157].

Câu chuyện “Cả Cọp” được dân gian lưu truyền vùng này xưa còn rất nhiều voi, cọp và heo rừng. Một hôm có con cọp lạ từ trong rừng tràm về làng bắt gia súc và người. Dân làng trang bị giáo mác đối phó. Đêm đó có người nằm mơ thấy một người hình vóc lực lưỡng phương phi, mặc quần áo vằn vện dặn “lúc hai bên đánh nhau hễ thấy ai cúi đầu là “ông cả”, không được xúc phạm”. Hôm sau cọp dữ về, cùng lúc có con cọp khác chạy ra chặn đường con cọp dữ. Trong lúc hai con cọp đang quần thảo, người ta phát hiện có một con liên tục cúi đầu và rằng thần nhân báo mộng linh ứng tìm cách hỗ trợ, giết con cọp còn lại và từ đó người ta lập miếu thờ “Cả Cọp”[157].

Bến Tre[sửa | sửa mã nguồn]

Có nhiều câu chuyện kể huyền bí về cọp ở vùng sông nước Bến Tre

Bến Tre có nhiều chuyện kể về cọp, dù thêm thắt, ly kỳ hóa sự việc nhưng nó phản ánh nơi đây đã có một thời những loài thú dữ mà con người đã phải chống trả lại chúng vô cùng vất vả để tồn tại trong đó, hổ là tiêu biểu. Về tín ngưỡng dân gian, các đình làng ở Bến Tre còn thờ phụng một số thần khác như thần Nông, thần Hổ là một sinh vật khá phổ biến ở vùng cù lao thời khai phá đã lưu lại nhiều giai thoại, truyền thuyết. Ngoài vị thần được thờ ở vị trí trung tâm là Thành hoàng bổn cảnh, đình làng Bến Tre nói chung còn có nhiều vị thần khác nhau trong đó có thần Hổ và thần Rắn[73].

Nam Bộ có nhiều truyện tương tự về ông “ông Cọp” như Ông Cả Cọp của Bến Tre. Có chuyện kể rằng ai nhậm chức hương cả sẽ bị cọp cắn chết vì không cúng bái cọp. Từ đó mỗi năm làng đều phải làm lễ cúng “Cả Cọp” một đầu heo quay kèm một tờ sớ trình tấu[42] Ở Bến Tre, dân làng gọi cọp với chức “Đại hương cả” (gọi tắt là Hương cả). Ở Châu Bình từ khi lập làng, hễ ai được cử làm hương cả thì đều bị bệnh chết. Một năm nọ, có người nhận chức hương cả liền bị cọp vồ suýt mất mạng. Dân làng phải làm lễ cử “Cả Cọp” cúng đầu heo quay và viết tờ cử cuộn tròn đặt trong ống tre, nơi cọp đã vồ ông Cả. Sáu bảy năm liền không thấy cọp về, mới có người nhận chức hương cả[77].

Tại đình Quới Sơn thuộc xã Quới Sơn, huyện Châu Thành có thờ chiếc hộp sọ cọp khổng lồ trấn làng, là chiếc hộp sọ to lớn, bí ẩn đang được thờ tại ban thờ chính của đình. Đối với những ngôi đình có và dùng một bộ phận nào đó của loài cọp để thờ thường rất hiếm nhất là chiếc sọ cọp lớn và có tuổi đời cao như ở đình Quới Sơn[78]. Ngôi miếu thần hổ, nơi được xem như địa điểm linh thiêng bậc nhất đình. Điều khiến đình Quới Sơn trở nên linh thiêng bậc nhất nơi đây nằm ở họp sọ này[78][158]. Xưa vùng này vốn nổi tiếng có nhiều cọp lớn, có một con cọp vằn to lớn nổi tiếng hung dữ. Cứ nhập nhoạng tối, con cọp này thường đi từ rừng ra, vào làng tìm bắt trâu bò, trẻ nhỏ. Người ta tìm cách tiêu diệt con thú dữ này nhưng đều thất bại cho đến khi có một con cọp trắng khác xuất hiện. Hai con cọp này lao vào tử chiến, cuối cùng, con cọp dữ bị hạ gục nhưng con bạch hổ cũng bị thương rất nặng, cố bước vào khuôn viên đình Quới Sơn trốn biệt. Sau đó, dân làng không còn bị thú dữ quấy phá nên cho rằng chính con bạch hổ đến để bảo vệ dân làng[159].

Khi trùng tu ngôi đình, người ta phát hiện hộp sọ cọp to lớn trong khuôn viên đình, đó chính là phần còn lại của ông hổ trắng, người dân đem hộp sọ này về thờ trong đình với mong ước dân làng được bảo vệ[159]. Ngôi miếu thờ ông Hổ được nhiều người đến đình xin được bình an, cầu con, xin sức khỏe, làm ăn phát đạt hay đến đình cúng trả lễ. Cũng có những trường hợp bị “thần hổ” quở vì mạo phạm đến nơi thiêng liêng của đình, phải mang đầu heo, lễ đến miếu ông hổ cúng thì bình thường. Không ai dám chạm tượng trong miếu, cũng không ai dám giở tấm vải che tượng, đó là điều cấm kỵ, đến nỗi, hằng ngày, khi gió thổi làm rơi tấm vải che tượng trong miếu, cũng không dám tự tiện nhặt lên phải đợi đến cuối ngày, tắm rửa sạch sẽ, thắp hương xin ông mới dám nhặt vải lên che lại[78].

Đình An Hiệp còn lưu giữ một hộp sọ lớn của hổ, từ đó người ta có thể áng chừng kích thước rất lớn của nó khi còn sống

Đình An Hiệp tọa lạc tại rạch Cái Quản, ấp Hòa Thanh, xã An Hiệp, huyện Châu Thành là ngôi đình làng thờ đầu “ông Cả Cọp” là ngôi đình làng duy nhất còn lưu giữ chiếc đầu lâu cọp gần như là nguyên vẹn. Bên trong ngôi miếu hữu nghi có chữ viết thờ sơn thần, thổ thần. Miếu tả nghi là một bức họa hình con cọp nhe nanh trên vách. Dưới nền hương án, ngoài bát hương còn có một tấm vải điều phủ lên chiếc đầu lâu cọp. Về hình dạng, chiếc đầu lâu rất to, từ chiếc đầu lâu có thể hình dung khi còn sống, con hổ này có hình hài to lớn như một con trâu mộng.

Thuở hoang sơ khai khẩn, thỉnh thoảng dân làng trông thấy một con cọp to lớn thoắt ẩn, thoắt hiện, cọp rất hiền lành, không hề gây tổn hại cho dân làng mà còn cứu giúp dân làng mỗi khi gặp tai nạn hoặc hiểm nguy trước những loại thú dữ khác. Như việc cọp cứu người khỏi chết đuối, hay chuyện một người dân chèo xuồng trên dòng Cái Quản để bắt cá thì bị cá sấu rất to lớn háu ăn dùng đuôi quẫy, không chịu nổi cú quẫy đuôi của con cá sấu, chiếc xuồng vỡ tan, bỗng cọp linh xuất hiện lao mình xuống dòng nước vồ lấy cá sấu. Cá sấu lặn mất tăm và từ đó không dám bén bảng đến rạch Cái Quản[160].

Nghĩ đó là cọp thần hộ trì dân làng, đại diện các họ tộc cùng bắt tay xây dựng ngôi đình thờ và thực hiện tục bầu Ông là Hương Cả. Tưởng nhớ "Cả Cọp", dân làng đặt chiếc đầu lâu vào ngôi miếu "tả nghi" trước đình tại nơi cọp rũ. Hàng trăm năm nay, nhờ chiếc đầu lâu trấn môn, không kẻ đạo chích nào dám đến các món đồ trong đình, chiếc đầu lâu cọp là khắc thần linh thiêng của bọn trộm đạo. Thời chống Pháp, lính Pháp đóng đồn sát đình để trấn áp Việt Minh nhưng vẫn không dám đụng chạm đến ngôi đình. Ngôi đình này vẫn hiện hữu và vẫn là biểu tượng thiêng liêng của cư dân địa phương[160].

Đình Tân Thạch, thuộc thôn Thạch Hồ, tổng Hòa Bình, trấn Vĩnh Tường, tỉnh Định Tường, nay thuộc ấp 9, xã Tân Thạch, huyện Châu Thành. Trước sân đình có bức bình phong bằng đá cao khoảng 3 m, chạm nổi hình rồng và hổ theo mô típ "long bàn hổ cứ" (rồng cuộn hổ ngồi) để miêu tả thế đất chắc chắn bền vững, vừa tiện lợi cho việc phòng thủ giữ gìn. Hai bên có hai câu đối bằng chữ Hán: "Hổ cứ sơn lâm phù xã tắc/Long du nguyệt điện tráng sơn hà". Bên trái của bức bình phong là miếu thờ Sơn quân, bên trong thờ thần Hổ (được xem như vị thần hộ vệ, giữ cửa, ngăn chặn tà ma). Ngoài ra các đình khác như Đình Đa Phước Hội, thị xã Bến Tre, Đình Phú Hưng thị xã Bến Tre và có Đình Thạnh Phú thuộc huyện Thạnh Phú thuộc Bến Tre thờ sọ cọp.

Địa danh Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre ngày nay (xưa bao gồm Châu Bình thônBình Khương Thôn) được biết đến "Cả Cọp Châu Bình". Khi di dân ngũ Quảng lập làng tại nơi này thì rừng rậm hoang vu nhiều thú dữ: cá sấu, rắn, cọp. Hằng năm vào ngày mồng 7 tháng Giêng có lễ cúng Khai sơn và mồng 10 tháng 5 âm lịch có lễ cúng ông Cả nhằm nhắc nhở lớp sau nhớ về một thời mở cõi khó nhọc của ông cha. Cả Cọp ngày nay chỉ còn trong tiềm thức người già, trong câu chuyện kể cho trẻ con Bình Khương Thôn.

Ở Bến Tre còn lưu truyền câu chuyện Cọp có tình nghĩa và được thờ phụng, con cọp này của gia đình họ Võ, khi gia chủ đi vắng. Cọp ở nhà hằng ngày lo nuôi mẹ và em gái, vào rừng bắt heo để nuôi gia đình. Khi người vợ qua đời. Cọp khóc lóc thảm thiết. Khi người con về, cọp khóc lóc rồi dẫn ra thăm mộ. Đến nơi, cọp đập đầu vào mộ mà tự tử. Người con trai bèn để tang cho cọp, làm lễ chôn cất kỹ lưỡng rồi lập miếu thờ, để, mấy chữ: "Nghĩa Hổ Trưởng Huynh chi mộ". Sau đó có người làm thơ khen tặng: Hùm còn biết nghĩa nặng cùng người/Trả thảo liều thân giữa đất trời/Một tấm gia dầu chôn chặt đất/Trăm năm còn mãi tiếng khen đời.

Vĩnh Long[sửa | sửa mã nguồn]

Đình Tân Hạnh ở kế bên chợ xã Tân Hạnh, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, phía phải của đình có bức bình phong ông hổ vàng

Những truyện kể dân gian truyền thuyết ở Vĩnh Long thường bắt đầu với những mô típ quen thuộc như: "Sông này xưa lắm sấu, vùng này xưa lắm cọp" phản ánh một thời khai hoang, từ đó nơi đây có nhiều truyền thuyết gắn liền với tín ngưỡng thờ Thần Hổ. Một số địa điểm có ghi nhận tục thờ Thần Hổ như Đình Long Thanh, hiệu là Long Thanh Miếu Vũ (chữ Hán: 龍清廟宇), hiện tọa lạc bên bờ sông Long Hồ, thuộc khóm 4, Phường 5, thành phố Vĩnh Long, trước sân đình hai miếu thờ thần Bạch Hổ và Ngũ Hành Nương Nương.

Công Thần Miếu Vĩnh Long là di tích hiện tồn có duy trì lễ Bầu Ông là thứ nghi lễ thời khai hoang lập ấp còn lưu truyền. Thời đó dân làng không ai dám làm chức Trùm Cả, tức là chức vụ đứng đầu làng, vì phải dành cho cọp. Do vậy hàng năm các hương chức phải làm lễ Bầu Ông (Ông ở đây là cọp) để gửi một tờ cử mới bầu Ông Cọp tiếp tục làm người đứng đầu hương chức. Tục lệ này tuy có vẻ dị đoan, nhưng mục đích là nhằm trấn an lưu dân khi đến đây khai hoang lập nghiệp.

Đồng Tháp[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng Tháp cung ghi nhận có tục thờ hổ, chẳng hạn như tại Đình Phú Hựu tọa lạc tại ấp Phú Hòa, thị trấn Cái Tàu Hạ, huyện Châu Thành, có miếu Ngũ hành, miếu ông Hổ, miếu Thần Nông, miếu Bà Chúa Xứ, đình thờ thần Thành hoàng. Ngoài ra có Đình Vĩnh Phước (Sa Đéc) còn được gọi là Đình Gạo, giữa sân là tấm bình phong đắp nổi hình rồng (mặt trước) và hình ngựa (mặt sau), liền đó là bàn thờ Thần Nông. Phía phải, miếu thờ Ngũ hành nương nương, phía trái thờ Chúa xứ sơn quân (Thần Hổ).

An Giang[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng hổ trước lăng Thoại Ngọc Hầu

An Giang với miền Thất Sơn hùng vĩ vốn được xem là giang sơn của loài cọp trong quá khứ, những câu chuyện về cọp đã trở thành một phần không thể thiếu trong cái vẻ huyền bí, linh thiêng của vùng đất này[161]. Ngày nay, những địa danh trên địa bàn tỉnh An Giang vẫn còn gắn liền với loài cọp điển hình là cù lao ông Hổ thờ một con cọp có nghĩa, hình tượng con cọp xuất hiện nhiều tại các ngôi đình, các điểm thờ cúng trên địa bàn An Giang, trên núi Cấm và nhiều ngọn núi khác, người dân luôn dành riêng một nơi để thờ cọp với tên gọi hang Ông Hổcù lao ông Hổ hay Đình thần Bình Thủy trên cù lao Năng Gù thuộc xã Bình Thủy, huyện Châu Phú cũng có miếu Xã Cọp.

Vùng Bảy Núi đã từng là nơi định cư của loài cọp trắng, ở núi Bạch Hổ (một tên gọi khác của núi Cấm). Cọp trắng trên núi Cấm là cọp tu nên không hề làm hại dân lành. Ngược lại, cọp trên núi Bà Đội Om là giống cọp vằn rất hung tợn, thường hay nhiễu hại dân sinh. Vì thế, đã có những cuộc chạm trán giữa đàn cọp của hai ngọn núi ở khá gần nhau này. Ngày nay, trên núi Cấm vẫn còn dấu vết hang Ông Hổ ở khu vực vồ Thiên Tuế và người dân đến cúng bái tại hang Ông Hổ trên núi Cấm, khách hành hương đến cúng bái quanh năm, hang ông Hổ rất linh thiêng nên muốn một lần ghé thăm viếng ông Hổ[123][161].

Mộ Ông Hổ trong sân Bửu Long Cổ Tự trên cù lao Mỹ Hòa Hung, Long Xuyên, An Giang

Mỹ Hòa Hưng, Long Xuyên ngày nay vốn có tên gọi dân gian là cù lao Ông Hổ do cọp tụ về sinh sống rất nhiều nên có tên là cù lao Hổ, trên địa bàn xã vẫn còn ngôi đền thờ Ông Hổ được người dân hương khói quanh năm. Trên Cù Lao có hai bức tượng hổ to lớn được tạc bằng đá uy nghi đứng tại cổng chào. Có hai truyền thuyết giải thích địa danh “Ông Hổ”. Một là câu chuyện con hổ có nghĩa luôn trả ơn người nuôi nó, mỗi năm đúng vào ngày giỗ, hổ lại mang heo rừng về cúng bên hai ngôi mộ, một đêm cọp đi quanh mộ cha mẹ nuôi ba vòng rồi rống lên thảm thiết, sau đó nằm phủ phục bên mộ và chết tự lúc nào. Thương con cọp hiếu nghĩa, dân làng chôn cất cọp cạnh mộ cha mẹ nuôi và sau đó lập miếu thờ[162].

Hai, là câu chuyện hổ con được chăm sóc, nuôi dưỡng, sau này hổ thường vào rừng săn bắt muông thú về cho gia chủ, hổ cõng cô gái mù vào rừng làm rẫy. Khi cô gái mắc bệnh qua đời, hổ buồn rầu nhịn ăn mà chết. Từ hai câu câu chuyện hiếu nghĩa trên, người dân cố cựu đặt tên làng là cù lao Ông Hổ để tưởng nhớ cọp[42]. Một giai thoại khác cho biết, nơi đây phát tích từ tương truyền ông cọp mun tại An Giang sau trận chiến với ông Cọp bạch bị thua nên bỏ chạy qua cù lao Mỹ Hòa Hưng (nên sau gọi Cù lao Ông Hổ) [32]. Cù lao ông Hổ đây chính là nơi sinh thành ra vị chủ tịch Tôn Đức Thắng.

Hiện nay trên sân chùa Bửu Long ở ấp Mỹ Khánh 1, xã Mỹ Hòa Hưng vẫn còn mộ của Ông Hổ, được cất mới vào năm 2007. Hàng năm, lễ giỗ Ông Hổ được tổ chức vào ngày 28 tháng 10 (âm lịch). Tương truyền, ngày xưa có hai vợ chồng lão nông dân sống trên cù lao, mà ngày nay có tên là Mỹ Hòa Hưng. Một hôm, ông bà chèo xuồng đi lấy củi, phát hiện trên sông có con vật gì rất giống mèo, đó là một con hổ con vừa đói vừa rét, bèn đem về nhà nuôi dưỡng. Khi lớn lên, con hổ rất hiền lành, không phá phách ai. Khi hai ông bà qua đời, hổ cũng bỏ vào rừng. Hằng năm, tới ngày giỗ ông bà, hổ đều mang về một con heo rừng đặt bên mộ rồi đi. Dân làng cảm động vì thấy con vật sống có nghĩa nên đặt tên cù lao là cù lao Ông Hổ. Ca dao có câu: "Dù ai đi ngược bốn bề/Chưa đến Ông Hổ chưa về An Giang".

Miễu thờ Cọp Bạch (ở trại ruộng Phước Điền, xã Thới Sơn, huyện Tịnh Biên là một ngôi miếu thờ Sơn quân thường thấy ở đình làng Nam bộ. Tuy nhiên, việc thờ cọp bạch ở đây gắn liền với công đức của ông Tăng Chủ Bùi Thiền Sư. Câu chuyện cọp trả ơn trên vùng rừng núi Thất Sơn, gắn liền với huyền thoại ông Tăng Chủ, ông này đã giúp một con cọp trắng bị hóc xương khỏi bệnh, nó nhìn ông Tăng chủ tỏ ý biết ơn, gật đầu ba lần rồi rón rén bước vào rừng sâu. Cọp nhớ ơn nên đã mang heo rừng về dâng để tỏ lòng biết ơn. Ông đã khuyên con bạch hổ đó theo đường tu hành, về sau cọp bạch già chết, ông Tăng chủ hay tin, cất một cái miếu nhỏ tại đình làng gần chùa Thới Sơn để thờ, và cho biết cọp bạch là Sơn quân, người cai quản núi rừng. Trong vùng này, các đình làng thường có ngôi miếu thờ Sơn quân có hình tượng con cọp bạch, người dân cũng lập một ngôi miếu thờ gần chùa Trại Ruộng.

Đình Thới Sơn thuộc huyện Tịnh Biên, An Giang: Nhiều người dân nơi ở xã Thới Sơn An Giang lúc bấy giờ quanh núi Két hãy còn rừng rậm nên thú dữ rất nhiều. Tương truyền, theo hai nguồn tham khảo ghi bên dưới, thì một hôm ông Tăng Chủ đi thăm ruộng về, trong khi trời nhá nhem tối, ông trông thấy một con hổ lớn nằm bên vệ đường. Thấy ông, hổ đứng dậy há miệng rồi tỏ vẻ đau đớn lắm. Ông Tăng Chủ bèn hỏi: Chắc ngươi mắc xương phải không? Hổ gật đầu và đập đuôi. Liền khi ấy, ông Tăng Chủ co tay đấm mạnh vào cổ con thú, lập tức hổ khạc lên mấy tiếng rồi trong miệng văng ra một cục xương lớn. Hôm sau, ông Tăng Chủ thấy xác một con heo rừng nằm bên tự viện, do hổ đem đến để đền ơn cứu chữa. Hiện nay, bên đình Thới Sơn vẫn còn một cái miễu nhỏ thờ "ông hổ".

Ở An Giang có câu chuyện lưu truyền về một con hổ thua cuộc trong trận chiến tranh giành lãnh thổ, nhưng nó vẫn nhớ và lén về thăm quê cũ, người dân thấy trọng tình nghĩa bèn lập đền thờ

Lăng Tổng trấn ở xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới có thờ Sơn quân bắt nguồn từ câu chuyện ngày trước có nhiều thú dữ nhất là cọp, trong đó có hai “ông” Hổ Bạch và Hổ Mun hay Ông Hạm (dân làng gọi hổ Mun). Hai “ông” nhất định không nhường nhau nửa bước, thường giao chiến gầm rú vang động cả một góc trời, có lần chúng quần thảo nhau ngay trên một miếng đất trống rộng làm bầm dập nát hết cỏ cây trên bãi chiến trường, be bét máu, vung vãi nhiều chùm lông trắng lẫn đen. Trận ác chiến một mất một đó thì ông Bạch thắng, nghiễm nhiên trở thành chúa sơn lâm trong vùng. Ông cọp mun bỏ chạy qua cù lao Mỹ Hòa Hưng biệt dạng, nhưng thỉnh thoảng vẫn thấy ông Hạm lén về thăm quê cũ với dáng vẻ rất buồn bã[32].

Mỗi lần như vậy dân làng thương xót, làm ngay một con heo sống, gọi là “cúng Ông”. Con cọp này sau khi nhận lễ thì tuyệt nhiên không hề có một hành động quấy phá, nhiễu hại nào. Đồng thời, mỗi lần đáo lệ tưởng niệm Huỳnh Công, dân làng cũng tự động “kiếng” cho “ông Bạch” một con heo, đem để ở giồng Xoài Một (nay đã bị lở sụp, không còn), không phải để “lo lót” chúa sơn lâm, mà là một hình thức “thân mật” (trong tâm tưởng dù sao họ vẫn rất sợ oai hùm) như một niềm tin tự tạo đượm đầy tính ma thuật, dưới hình thức mặc nhiên công cử “ông Bạch” là Sơn quân[32].

Lệ hàng năm, kiếng một con heo sống như vậy được xem như “đổi tờ cử”, mang ý nghĩa xác nhận rằng, Sơn quân vẫn được dân làng tôn trọng, hãy hộ độ dân làng, đừng gây hại, mỗi lần “kiếng” đều không thấy có dấu vết ông Bạch (cũng như của bất kỳ con vật nào, kể cả con người) nhưng thịt heo thì không còn. Từ ngày giồng Xoài Một bị lở sụp, dân làng cũng bỏ lệ kiếng heo cho ông Bạch, nhưng miếu Sơn quân thì vẫn được duy trì như một hình thức ghi lại dấu ấn gợi nhớ cảnh quan ngay từ thời mới khai phá[32].

Ở vùng đất An Giang trước người ta kinh sợ vì “Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp um”. Người dân chỉ cần một chút bất cẩn sẽ bị “Hùm tha sấu bắt”. Do rừng bụi rậm rì, cọp ở nhiều, nên nơi đây có địa danh là bãi Hổ Cứ (hay Hổ Châu, thuộc An Giang xưa: "Bãi Hổ Cứ có con cọp dữ, Vũng Xà Năng có giống rắn linh"). Cọp Hổ Cứ, Tòng Sơn luôn đe dọa và làm ảnh hưởng nặng nề đến sinh hoạt của nhân dân. Nhân dân phải cất miễu thờ “Ông Hổ” trước đình và mỗi lần cúng đáo lệ Kỳ Yên, làng phải dành nguyên cái đầu heo sống để dâng cho ông Hổ. Đêm đến thì ông Hổ về nhận cái đầu heo. Nếu không làm như thế thì dân làng phải bị nạn “hổ giảo”[75].

Cần Thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Cần Thơ, người dân thường lập miểu thờ cọp ở những nơi cọp ưa ra bắt người, gọi là “Miểu Ông Cọp”, cọp được tôn là “Sơn Quân Chi Thần”. Dân làng có tục lệ cúng “Sơn Lâm Chúa Tướng Lý Nhỉ Tôn Thần” vào chiều ba mươi Tết và mùng bốn Tết. Chiều ba mươi Tết nhà nào cũng bày lễ vật ra sân để cúng ông Hổ chung với lễ cúng Tất Niên. Chủ gia thành tâm cầu xin Sơn Lâm Chúa Tướng thương tình đi nơi khác làm ăn, đừng về làng gây tai họa và Ông Ba Mươi sẽ trấn giữ nơi cửa, không cho tà ma đột nhập vào nhà hại người[87], cư dân địa phương còn truyền tụng rất nhiều giai thoại khác liên quan đến việc Thần Hổ cứu người khi gặp hoạn nạn. Khi hổ chết, dân làng tiếc thương lấy thi thể làm tượng cốt đặt trong miếu thờ[163]. Nổi tiếng nhất là Đình Bình Thủy, có miếu lớn thờ thần Hổ.

Ở Cần Thơ còn lưu truyền câu chuyện về hai con hổ dữ tranh giành lãnh thổ
Hai con hổ đang chiến đấu

Tại Cần Thơ có giai thoại hai con hổ dữ tranh giành lãnh địa cắn nhau quyết liệt suốt ba ngày đêm và cả hai đều chết. Từ đó người dân lập miếu thờ hai ông Cọp ở phường Long Tuyền, quận Bình Thủy. Tại đây còn có bức tranh miêu tả trận huyết chiến năm xưa. Người dân tại đây rất thường xuyên đến cúng vái cầu mong buôn may bán đắt, phát tài, phát lộc, gia đạo bình an[42]. Miếu thờ Bạch Hổ ở đình Tân Lộc ĐôngCần Thơ có chuyện về con Bạch Hổ còn gắn liền với truyền thuyết về con cọp trắng thường lội qua sông đến ở cù lao Tân Lộc vào mùa nước nổi. Hiện nay, miếu thờ Bạch Hổ vẫn còn ở chùa Ông Đạo Xuânđình Tân Lộc Đông. Hằng năm, vào ngày vía Bà Chúa Xứ, người dân địa phương vẫn tổ chức cúng, dâng tờ cử xin Bạch Hổ bảo vệ dân làng.

Đặc biệt tại Cần Thơ có những câu chuyện liên quan đến cọp và bà mụ (bà đỡ đẻ) và được hổ trả ơn. Ở Cần Thơ có câu chuyện một con cọp tu lâu năm. Cạnh bìa rừng có một phụ nữ sống một mình vì chồng đi chinh chiến. Một đêm, con cọp nghe tiếng bà vợ cọp đau bụng chuyển dạ đẻ đã chạy đến nhà một bà mụ, tha bà đến nhà người phụ nữ kia giúp cho mẹ tròn con vuông. Sáng sớm hôm sau, khi mở cửa, bà mụ đã trông thấy một con heo rừng nằm chết trong sân, trên đó đầy vết móng cọp xem như quà trả ơn. Từ đó bà dựng một ngôi miếu để thờ Thần Hổ[42].

Giai thoại địa phương khác kể rằng, ngày xưa, ở vùng này có một con cọp tu lâu năm, tánh linh như người. Ở vàm ngã tư có một phụ nữ có đăng lính triều Nguyễn đi trấn giữ vùng biên cương Cao Miên. Trước khi chia tay vợ, người lính đốt hương đứng trước một gốc đại thụ khấn xin Thành hoàng, thổ địa bảo trợ người vợ trẻ để ông ta yên tâm làm nhiệm vụ với đất nước. Một con cọp đã tu lâu năm, tính hiền, nấp sau gốc đại thụ nghe lời khấn. Một đêm nọ, con cọp nghe tiếng bà vợ anh này rên rỉ đau bụng chuyển dạ đẻ đã chạy thẳng đến nhà một bà mụ.

Cọp tha bà mụ đến tận cửa nhà bà đẻ. Sáng sớm hôm sau, khi mở cửa ra, bà mụ đã trông thấy một con heo rừng nằm chết trong sân. Trên thân heo đầy vết móng cọp, bà mụ biết, con cọp đã bắt heo trả lễ. Cho rằng đó là hổ thần bảo vệ dân làng, bà mụ và bà đẻ cùng dựng một ngôi miếu để thờ Thần Hổ. Ngoài ra, cư dân địa phương còn truyền tụng rất nhiều giai thoại khác liên quan đến việc Thần Hổ cứu người khi gặp hoạn nạn. Khi hổ chết, dân làng tiếc thương lấy thi thể làm tượng cốt đặt trong miếu thờ[164][165].

Đối với người dân Cần Thơ nói chung, dân làng Bình Thủy nói riêng, cọp đặc biệt là cọp bạch, không phải là con vật gây hại mà trái lại cọp giúp người bảo vệ mùa màng, giữ gìn cuộc sống bình an cho người. Các giai thoại về cọp được sưu tầm ở Cần Thơ đều phản ánh rõ tâm thức này[25]. Tín ngưỡng thờ cọp là tín ngưỡng dân gian của người dân đồng bằng sông Cửu Long nói chung, dân làng Bình Thủy nói riêng, nhằm mục đích tạo niềm tin cho con người trong buổi đầu khai hoang mở cõi, tín ngưỡng thờ cọp còn thể hiện nét đẹp của con người trong việc ứng xử với tự nhiên tôn trọng tự nhiên và đối xử với tự nhiên như đối xử với con người mà giai thoại về Ông Cả Cọp ở đình Bình Thủy[25].

Việc lập miếu thờ thần Bạch Hổ trong khuôn viên đình Long Tuyền quận Bình Thủy bắt nguồn từ đời xưa, vị Thành Hoàng làng được thờ ở đình Bình Thủy chính là ông Cọp và đình Bình Thủy hiện nay chính là được nâng cấp lên từ miếu cổ Long Tuyền thờ thần Hổ[25] Ở đình Bình Thủy hiện nay có hai khu vực thờ cọp. Một ở khuôn viên đình. Ở đây cọp được thờ trong miếu; một ở chánh tẩm, được thờ bởi bộ da. Đây là trường hợp đặc biệt ít thấy ở các ngôi đình Nam Bộ. Bộ da cọp thờ trong chánh tẩm được cúng bằng vật phẩm tam sên; còn miếu thờ cọp được cúng bằng một con heo trắng và xôi bánh trong các dịp Kỳ Yên[25]

Ngôi đình cổ Bình Thủy tại Thành phố Cần Thơ có khởi thủy ngôi đình cổ này liên quan đến chuyện hổ thần cứu người. Hiện bộ cốt Thần Hổ vẫn còn được lưu giữ trong một góc khuất trong đình. Lần xây dựng năm 1909, đình Bình Thủy có thêm ngôi miếu thờ Thần Hổ. Trong những lần xây dựng, bộ da Thần Hổ vẫn luôn được lưu giữ thờ phụng trong đình, dân địa phương vẫn xem Thần Hổ là "ông Cả", tức Thành hoàng Bổn cảnh của làng. Đến lần xây dựng năm 1909, chức Cả của ngôi đình vẫn thuộc về Thần Hổ. Bộ da Thần Hổ vẫn được lưu giữ nguyên vẹn đặt trên bệ thờ. Trước khi được vua Tự Đức sắc phong, đình đã có Thành hoàng Bổn cảnh, tức Cả Hổ[164].

Sóc Trăng[sửa | sửa mã nguồn]

Sóc Trăng gần cửa sông Hậu, có Cù lao Dung xưa còn gọi là cù lao Ông Hổ. Nơi đây xưa kia có nhiều hổ, chúng sống nhiều ở trong vùng trong các khu rừng rậm rạp gần sông nước. Có nhiều giai thoại về Cọp khiến con vật này trở nên huyền bí, linh thiêng như chuyện các vị hương cả ở làng Hòa Tú của Sóc Trăng chết liên tiếp không rõ lý do mỗi khi nhậm chức này. Cuối cùng dân làng và ban hương tề phải mời “ông Cọp” ba chân (sống quanh quẩn ở bìa rừng, không hại người) về làm hương cả thì mọi việc mới xong, mưa thuận gió hòa, trúng mùa liên tiếp. Tuy chuyện mang màu sắc huyền thoại không tưởng nhưng đến nay nhiều người dân cố cựu vẫn tin tưởng, họ thờ và vẽ tranh thờ Cọp ở Đình thần huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng[42]. Ở chùa Ông Bổn (Sóc Trăng) còn có Bàn thờ Bạch hổ[79]

Ở Sóc Trăng còn lưu truyền câu chuyện về một con cọp già hiền bị một Hoa Kiều mưu toan ám hại

Sóc Trăng còn có ngôi chùa lá gọi là chùa Vàm Sát, ngày nay chùa được xây cất, có tên là Hải Phước An nằm cặp tỉnh lộ 111 nối liền hai tỉnh Sóc Trăng và Bạc Liêu, thuộc địa phận xã Lạc Hòa, huyện Vĩnh Châu của tỉnh Sóc Trăng, đây là ngôi chùa duy nhất ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (và có thể là cả nước) có đặt hương án thờ phượng hài cốt của cọp. Khi trước Cà Mau còn điều kiện tốt để loài cọp sinh sống. Giồng Ông Tương hay khu Tà Teo ở địa phận này là hai nơi cọp sống đông đúc bầy đàn, có bầy đông hàng vài chục con.

Vào mùa thu năm 1927, có một con cọp xuất hiện được người dân ở Vĩnh Châu ghi nhận là lần cuối cùng ở vùng này, có một con cọp đến dừng chân tại một lùm cây giữa giồng làng Vĩnh Châu khiến dân làng xôn xao sợ hãi. Nhưng đó là một con cọp già, nó chỉ đi quanh quẩn trong cánh rừng chứ không bắt giết heo, , trâu, hay vật chết người, đó là một con cọp không phải là mối đe dọa nguy hiểm đối với cư dân. Một Hoa kiều tên Mã Xiêm tìm cách giết cọp để lấy mấy móng chân về phơi khô cho con cái đeo để cầu bình an, khi bị mất móng, “chúa sơn lâm” vẫn trả đòn, sau đó bị người dân đuổi thì nó hoảng sợ lủi vào rừng sâu, người ta lượm mấy móng cọp.

Bị mất móng chân, cọp không thể săn mồi, vết thương lại ngày càng nặng nên con cọp gục chết trong cánh rừng. Phát hiện xác cọp, người dân lóc bỏ thịt, bọc kín xương trong tấm vải đỏ, để trên chiếc dĩa lớn, đem về kính cẩn đặt lên một trang thờ của chùa Vàm Sát, hương khói quanh năm và cúng theo lệ. Sau nhiều năm, tấm vải điều dần bị mục rã, khiến phần lớn xương cốt hổ bị mục rã, vương vãi thì giữ xương cốt cọp vẹn toàn bằng việc đập vỡ những đốt xương còn to, trộn với xương vụn nhỏ hòa cùng xi măng và cát, đắp thành hai pho tượng cọp, sau đó sơn vẽ theo hình sắc đặc trưng của cọp. Hai tượng cọp ấy hiện còn thờ tại chùa Vàm Sát (Hải Phước An tự)[166].

Kiên Giang[sửa | sửa mã nguồn]

Hổ giỏi bơi lội, nhiều câu chuyện về chúng có thể vượt biển, như ở Phú Quốc

Phú Quốc ngay trước nhiều sân đình cũng đều xây một bức tường bề cao 2 thước, có đắp nổi hình con cọp to, vằn vện, rất hung dữ, quanh năm nhang khói nghi ngút. Đình Ông Hổ ở xóm 1, Cửa Lấp, xã Dương Tơ, huyện đảo Phú Quốc, theo lời truyền khẩu, có mấy ông hổ thường bơi vượt biển qua đảo Phú Quốc để tìm mồi. Một hôm có một ông bơi qua biển, bị cá mập táp cụt mất một chân, nên ở luôn tại Phú Quốc, từ đó rất hiền lành, không bắt gia súc, gia cầm hay hại dân làng. Dân chúng cho rằng cọp đã tu, nên lập đình để thờ[73]. Ở xóm Cửa Lấp, xã Dương Tơ, huyện đảo Phú Quốc, ngày nay vẫn còn đình Ông Hổ do người dân dựng nên từ rất lâu.

Chuyện xưa lưu truyền ngày trước ở những hòn đảo nhỏ xung quanh đảo Phú Quốc có rất nhiều cọp sinh sống. Những khi đói mồi, các ông cọp ở các hòn đảo nhỏ thường bơi qua đảo Phú Quốc để kiếm ăn. Có một ông cọp rất lớn đang bơi qua biển thì bị cá mập táp cụt mất một chân. Ông cọp lóp ngóp leo lên bờ, đi cà nhắc, kiếm một chỗ ở ẩn luôn tại Phú Quốc, tính tình rất hiền lành, không khi nào bắt gia súc, gia cầm hay hại dân làng. Từ đó dân chúng trên đảo Phú Quốc cho rằng ông cọp đã tu nên thường mang thức ăn cho cọp. Sau khi cọp chết, dân chúng lập đình để thờ.

thị xã Hà Tiên thuộc tỉnh Kiên Giang xưa kia có địa danh đồi Ngũ Hổ do có năm tảng đá có dáng dấp giống hệt năm con cọp ngồi khum lưng, cúi đầu. Ở đây có một ngôi miếu và tượng của năm con hổ (4 con bằng gốm, một con bằng xi măng) và một con đường phía sau cho dân lên chiêm bái. Câu chuyện lưu truyền lại Hà Tiên xưa hoang sơ, vào mùa khô, thú rừng cũng phải tìm nước uống và có bầy cọp hay đến uống nước. Có một bầy bốn con cọp giành nước với ông lão, hai bên kịch chiến sau đó tất cả đều chết vì kiệt sức.

Sau đó, người ta cất một ngôi miếu nhỏ thờ ông và bốn con cọp vì ngưỡng mộ cả ông lão lẫn bầy cọp, cũng từ đó ngọn đồi nhỏ này mang tên là đồi Ngũ Hổ. Truyền thuyết về đồi Ngũ Hổ gắn liền với thời mở đất Hà Tiên của người xưa, nói lên sự gian khổ, lòng dũng cảm đấu tranh với thiên nhiên giành sự sống cũng như sự nể phục của con người dành cho loài hổ[167]. Ngoài ra, một số nơi ở vùng này cũng có những di chỉ thờ hổ, trong đó một hình tượng ông Cọp được người dân dựng ở ngã ba sông Tắc Cậu (Kiên Giang) để trấn yểm những điều xui xẻo.

Cà Mau[sửa | sửa mã nguồn]

Loài cọp sinh sống đến tận miệt rừng U Minh thuộc tỉnh Cà Mau. Nổi sợ của dân gian về vùng đất mới này được thể hiện trong ca dao: "Cà Mau khỉ khọt trên cây, Dưới sông cá lội, trên giồng cọp đua". Tại vùng Cà Mau, Trong tâm niệm người dân quá sợ cọp nên dân Cà Mau không ai dám gọi là “con” mà phải cung kính gọi là “ông Thầy”, “ông Hổ”, hoặc “hai Cọp”, “khái”, hoặc “Hương quản cọp”. Đình nào, miếu nào cũng có thờ cọp, gọi là miếu ông Hổ. Còn ngay trước sân đình xây một miếng tường bề cao lối 2 thước, có đắp nổi hình con cọp to, vằn vện thấy rõ”. Ở Cà Mau là vùng đất xưa nổi tiếng lắm cọp, nhiều sấu, người ta vẫn còn truyền tụng nhiều chuyện ly kỳ về cọp. Cọp vùng này nổi tiếng hung dữ, tàn ác, nhiều nhất ở vùng Cái Bát, Trèm TrẹmNăm Căn.

Một số địa điểm như: Đình Tân Định, xã Tân Thành, Thành phố Cà Mau thường gọi là đình Ông Cọp, ngày cúng 10-11 tháng 2, ba năm tổ chức một lần. Đình Tân Hưng thuộc ấp Tân Hưng, xã Lý Văn Lâm, thành phố Cà Mau, phía trước đình có bức bình phong bằng gạch đắp hình hổ. Tại vùng Thới Bình, còn có câu chuyện dòng họ Huỳnh có hai người bị hổ moi tim, vì sự cố bị cọp ăn thịt năm xưa nên người dân đã đổi toàn bộ họ Huỳnh thành họ Phan và lập miếu thờ ông cả cọp hằng năm làm heo cống nạp, cầu được bình an. Con hổ huyền thoại đó được gọi là cọp ba chân, con hổ này bị vướng bẫy heo rừng của thợ săn, và để thoát thân nó đã cắn bỏ một cái chân và sau đó về tấn công trả thù dân làng[74].

Người dân địa phương chống cự không lại Cọp nên phải dùng lễ vật (gồm heo sống, bò sống nguyên con) để cúng tế cọp, cầu hòa để được yên ổn làm ăn. Theo họ, nếu cung kính thì cọp sẽ để cho yên ổn làm ăn, còn nếu bất kính thì sẽ bị cọp trừng trị ngay, từ đó ngày xưa đình nào, miếu nào ở vùng Cà Mau cũng có một ngôi miếu nhỏ trong khuôn viên để thờ cọp, thường gọi là miếu ông Hổ. Tại Cái bát, một chị vì con khóc lúc ban đêm, dỗ không nín, bèn bồng lại sát vách lá, nơi có lỗ trống dưới chân giường, đưa chân ra ngoài lỗ vách rồi rủa “cọp mà bắt mày”, lúc ấy một con cọp rình ở ngoài, thò chân vô chụp đứa bé tha đi mất. Từ đó về sau, xóm này không ai dám rủa “cọp bắt mày” hay “cọp vật mày” nữa”.

Cổ tục[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ vật cúng hổ
Lễ vật cúng hổ thường thấy gồm thịt lợn (nạc vai) và những quả trứng (gà, vịt)

Tiền Giang, từ khi thành lập làng Mỹ Điền có tục chỉ cử đến chức Hương chủ, còn chức Hương cả thì nhường cho chúa sơn lâm, gọi là “Cả Cọp”. Không ai dám bạo gan lãnh chức vụ này, vì lo sợ sẽ bị cọp vật chết. Dân làng Mỹ Điền có lập ngôi miếu thờ “Cả Cọp”, mỗi đầu nhiệm kỳ phải làm lễ dâng lên một tờ cử hương chức. Hằng năm đến lệ cúng phải làm heo và kiến cho “ông Cả” một bộ thủ vĩ (đầu heo)[157]. Dinh Ông ở xã An Thạnh thuộc huyện Bến Lức tỉnh Long An vẫn còn dấu tích việc bầu cọp làm Cả, đó là cái am nhỏ bằng lá mà người ta gọi là Dinh Ông nằm bên bờ con rạch tên là rạch Dinh[73].

Bến Tre, từ khi lập làng theo tục truyền, hễ ai được cử làm Hương Cả đều bị bệnh chết. Do đó, suốt nhiều năm, không ai dám nhận chức ấy. Một năm nọ, có người can đảm nhận chức Cả thì liền bị cọp vồ suýt mất mạng. Từ đó, hương chức trong làng bàn nhau, cử cọp làm Đại Hương Cả. Hàng năm, làng đều phải làm lễ cử “Cả Cọp”, cúng một đầu heo quay và viết một tờ cử, cuộn tròn, để trong một ống tre đặt ở hốc đá, nơi cọp đã vồ ông Cả. Đúng lệ, năm nào, cọp cũng về ăn đầu heo và đổi tờ cử cũ lấy tờ cử mới. Về sau, sáu bảy năm liền, cọp không về, có một người mới dám nhận chức Hương Cả trở lại.

Đình An Hiệp ở Bến Tre được xây dựng để thờ hổ vì có công với dân làng Đình xây xong, dân làng bầu một người làm chức Cả để quán xuyến việc làng, nhưng những người được bầu vào vị trí này đều đổ bệnh chết và mỗi lần các bô lão họp bàn, dân làng đều trông thấy cọp lảng vảng ngoài sân đình. Các bô lão bèn thử bầu cọp làm hương cả. Người giải quyết việc làng chỉ làm chức phó cả. Từ đó, mọi chuyện trở nên êm thấm. Từ khi được bầu làm "Ông Cả", thỉnh thoảng, cọp bắt heo rừng, nai đem đến "gửi" trước nhà những người nghèo.

Giai thoại làng còn kể rằng, hàng năm đến lệ cúng kỳ yên vào đêm rằm tháng 6 âm lịch, dân làng đều cúng đầu heo. Bên cạnh đầu heo là tờ sớ. Sáng ra, chiếc đầu heo và tờ sớ biến mất, tờ sớ mới của lệ cúng năm nay biến mất, thay vào đó là tờ sớ của lệ cúng năm trước. Đến năm Tự Đức thứ 5 (1852), họ Đặng dâng sớ về triều đình, vua Tự Đức hạ chỉ phong sắc, chuẩn y tên làng là Sơn An và Thần hoàng Bổn cảnh vẫn là "Cả Cọp"[160].

Ở Làng Châu Bình, Bến Tre cử người nào vào chức Hương Cả thì đều bị bệnh hoặc ông "Ba Mươi" sát hại, nên chức này phải nhường chức này cho Cả Cọp. Dân làng làng chọn ngày lành tháng tốt làm lễ mời ông Cả về nhận chức: tờ cử cùng lễ vật như heo, gà, hoa quả và rượu. Nhưng ông chỉ nhận đầu heo và tờ cử. Năm nào ông Cả "nhậm" rượu của làng dâng cúng ắt năm đó mùa màng trúng mùa to. Sau khi Cả Cọp mất đi, dân mới bầu Cả Non, rồi Cả Tiết. Hiện nay, tại Cầu Bà Bồi, ấp 3 thuộc xã Châu Bình còn lăng thờ Cả Cọp. Hằng năm vào ngày mồng 7 tháng Giêng có lễ cúng Khai sơn và mồng 10 tháng 5 âm lịch có lễ cúng ông Cả.

Ở làng Hòa Tú, Sóc Trăng, từ xưa khi dựng chùa, lập miễu thờ Thành Hoàng ở giữa làng, việc cai quản và giữ gìn an ninh trật tự trong làng là trách nhiệm của Ban hội tề gồm mười hai vị hương chức, đứng đầu là chức Hương Cả. Nhưng Hương Cả đầu tiên của làng chỉ tại chức được vài ba tháng thì trong nhà xảy ra nhiều tai họa, bản thân lâm bệnh rồi chết, người kế vị chức Hương Cả cũng chỉ tại chức trong thời gian ngắn rồi lâm nạn và qua đời, rồi thứ ba được cử lên cũng không tránh khỏi số phận vị tiền nhiệm, Ban hội tề trong làng suốt ba năm liền không có người đứng đầu.

Vùng đất hoang dã này có nhiều cọp sinh sống, khi dân làng đến khai khẩn, chúng bỏ vào sống trong khu rừng sâu, chỉ còn lại con cọp ba chân sống quanh quẩn ở bìa rừng, không hại người nên người cũng không săn đuổi nó. Các vị lão làng quyết định cử ông cọp ba chân vào chức Hương Cả. Một ngôi miếu nhỏ trang hoàng theo hình thức tôn thờ vị thần nhỏ được dựng lên phía sau miếu Thành Hoàng. Nhân lễ cầu an trong làng, Ban hội tề làm lễ khánh thành ngôi miếu ông Hổ đồng thời tổ chức lễ “tấn phong” ông Hổ lên chức Hương Cả. Trong nhiều năm liền, từ ngày ông Hổ về nhận chức Hương cả, mưa thuận gió hòa, cuộc sống của dân làng ngày càng khấm khá lên khiến tất cả dân làng đều đặt niềm tin vào sự linh thiêng của ông Cả Hổ.

Hàng năm, dân làng vùng Mô Xoài của Vũng Tàu phải làm lễ Bầu Ông và dâng cúng cho công Cả cọp một cái thủ vĩ và dân tờ cử chức Hương Cả, trong làng, hội đồng kỳ mục chỉ bầu đến chức hương chủ còn hương cả là chức vụ cao nhất phải dành cho cọp, nguyên nhân do cọp ở vùng Mô Xoài quấy nhiễu dân chúng dữ dội, nhiều đình làng hiện nay ở Bà Rịa Vũng Tàu vẫn còn miếu thờ ông Cả Cọp. Hàng năm đều phải cúng thần hổ các vật phẩm gồm trà rượu, nhang đèn, thịt heo sống và trứng gà, theo lệ thì cứ ba năm cúng một lần[153].

Cổ tục cúng hổ với niềm tin hổ sẽ nhận lễ và phù hộ cho may mắn

Tín ngưỡng thờ thần hổ là một trong những tín ngưỡng dân gian của người dân đến khai hoang, định cư trên vùng đất Bình Phước còn lưu giữ đến ngày nay. Những năm trước 1870 trong các làng xã ở Bình Phước hội đồng kỳ mục chỉ được cử đến chức hương chủ, còn chức hương cả là chức vụ cao nhất đứng đầu của làng phải dành cho hổ. Đến những năm 1870-1880 tập tục này không còn duy trì[31][80].

Chính từ tín ngưỡng thờ hổ như linh thú ở Bình Phước mà tập tục xưa đã để lại trong làng xã rằng hội đồng kỳ mục chỉ được cử đến chức Hương Chủ, còn chức Hương Cả là chức vụ cao nhất đứng đầu của làng phải dành cho Cọp. Dân làng phải làm lễ bầu Ông rồi cúng cho ông Cả Cọp một cái thủ vị và dâng tờ cử chức Hương Cả. Mãi đến khoảng gần cuối thế kỷ XIX, tục lệ này mới được bãi bỏ[31].

Miếu thờ Thần Hổ ở ấp Phước Lai, xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch, trước đây có miếu thờ thần Hổ. Vào ngày 19 tháng 4 âm lịch hằng năm, dân làng cúng thần Hổ. Lễ vật cúng thần Hổ gồm mấy lá sớ gói trong giấy hồng (gọi là hồng đơn) và một thủ dĩ (đầu heo) để sống. Sau khi trình cúng tại miếu, dân làng đem lễ vật lên một ngã ba hay ngã tư phía rừng để đó.

Nếu qua đêm hôm sau, thủ dĩ mất, tờ các sớ mới viết mất mà có tờ sớ cũ (của năm trước cúng) bỏ lại trong mâm thì dân làng tin thần Hổ chấp nhận lễ cúng và về nhận tờ sớ mới. Nếu còn thì dân làng đem đầu heo về luộc cúng ba cho đủ ba ngày đêm mà lễ vật còn để nguyên thì xem như thần Hổ không nhận. Sớ phải đốt đi và thủ dĩ phải đem chôn. Việc cúng lễ vật tại bàn thờ thần Hổ trong đình. Nếu lễ vật còn thì sớ phải đốt đi, đầu heo thì ông từ giữ đình hưởng[77].

Cổ tục Bầu Ông hiện còn bảo lưu ở đình Bình Thọ, quận Thủ Đức tại đây, tại đình Bình Thọ hiện có đàn thờ Bạch Hổ đặt ở bên phải trước sân đình để xác định nơi tổ chức lễ Bầu Ông của đình làng Bình Thọ hàng năm, nơi đây còn có Văn tế Chúa Sơn lâm Mãnh hổ chi thần để xướng lên trong lễ Bầu Ông. Bên cạnh đó, Miếu thờ Bạch hổ đường Bến Phú Định, Quận 8 có lệ cúng hàng năm vẫn còn tục Bầu Ông nhưng chưa bài bản như ở Bình Thọ. Tập tục Bầu Ông là lễ thức riêng của đình Bình Thọ và các đình khác tại Thành phố không có, mặc dù các đình khác có miếu hay đàn thờ "Sơn quân".

Lễ Bầu Ông ở đình Bình Thọ được tổ chức đúng vào lúc 0 giờ khuya ngày 15 rạng ngày 16 tháng 2 âm lịch hàng năm, tức đêm trước ngày tổ chức Đại lễ Kỳ yên của đình. Đây là một lễ thức trang nghiêm và quy củ có tính chất điển lệ chứ không phải là hình thức thực hành nghi lễ dân gian, lễ vật chu đáo (một con heo sống, một cỗ xôi trắng) với nghi thức tế lễ do học trò lễ thực hiện, có nhạc lễ tấu, theo lời xướng đọc nghi thức lễ bái, dâng lễ vật của viên chấp sự. Tục Bầu Ông ở Bình Thọ có một bản văn tế chữ Hán được khắc trên gỗ cất giữ ở chùa Linh Sơn gần đình và mỗi khi tế lễ lại được in ra để xướng đọc và đốt đi.

Điều này có khác với tập tục ở nơi khác, ở chỗ thay vì văn tế là một văn bản đựng trong cái ống tre gọi là "Tờ cử", có nội dung rằng dân làng đồng lòng cử ông Cọp làm Hương cả. Mỗi năm, cứ đúng lệ, ông Cọp ra nhận lễ vật cùng "tờ cử" mới và trả lại "tờ cử" cũ. Nghi thức của lễ Bầu Ông ở đình Bình Thọ đã được nâng cấp theo điển lệ tế tự chính thống Nho giáo, chứ không dừng lại ở hình thức cúng lễ các thần linh dân gian. Điều này cũng chỉ ra tầm mức quan trọng của tín ngưỡng thờ cọp đối với cộng đồng cư dân ở đây, đặc biệt là được bảo lưu khá lâu dài so với các địa phương khác; theo đó, tuồng như tín lý thờ cọp cũng biến đổi theo thời gian, chứ không phải được bảo thủ nguyên vẹn[28].

Theo ghi chép trong bài Văn tế cổ truyền được xướng đọc trong lễ Bầu Ông thì Thần Hổ được gọi là "Chúa Sơn lâm Mãnh hổ chi thần" trong khi đó trên bài vị ở đàn thờ lại đắp nổi hai chữ Hán: "Bạch hổ" với phù điêu ở tấm hậu chẩm đắp nổi hình hổ trắng đứng ở góc trái (từ trước nhìn vào) trên bối cảnh "sơn lâm". Danh hiệu ghi trong văn tế thuộc tín lý truyền thống phổ biến trong tín ngưỡng thờ hổ ở Nam Bộ cũng như Bình Thọ: “Sơn quân chi thần” hay gọi tắt “Sơn quân” (như ở đình Trường Thọ, kế bên đình Bình Thọ), “Sơn lâm Hổ lang chi thần”, “Mãnh hổ Đại tướng quân”, “Lý Nhĩ Đại tướng quân”, “Sơn quân Mãnh hổ Lý Nhĩ chi thần”[28].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Các vị thuốc tên hổ”. Báo Sức khỏe & Đời sống. Nguyễn Đức Quang. Ngày 15 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2013. 
  2. ^ a ă â b c d đ e Tin lý về hổ
  3. ^ “Chuyện thú vị về lễ hội bắt hổ ở thung lũng Lòn Bon”. VTC News. Long Vân. Ngày 23 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2013. 
  4. ^ “Bí mật về đàn mãnh thú rừng xanh ở Hà Nội”. VTC News. Phạm Ngọc Dương. Ngày 27 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2013. 
  5. ^ “Tranh dân gian ngũ hổ”. VOV online. Phan Quán. Ngày 18 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2013. 
  6. ^ “Xem bẫy hổ”. 24h. Ngày 17 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2013. 
  7. ^ a ă 'Vương quốc' của thần hổ và ma trành”. VTC News. Gia Linh. Ngày 20 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2013. 
  8. ^ a ă â b c d đ Còn đâu ngũ hổ trong tranh Hàng Trống?
  9. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q PHỤNG THỜ THẦN HỔ TRONG ĐIỆN THỜ ĐẠO MẪU
  10. ^ Tranh dân gian Ngũ hổ
  11. ^ a ă â Hình tượng con hổ trong văn hóa Việt
  12. ^ Prof. Muneo Tokunaga John D. Smith K M Ganguli. “Tiger in Hindu epic Mahabharatha”. The Mahabharata in Sanskrit. Sacred Texts. tr. SECTION LXVIII. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2016. 
  13. ^ a ă â b c d https://giacngo.vn/PrintView.aspx?Language=vi&ID=5E4042
  14. ^ Cooper, JC (1992). Symbolic and Mythological Animals. London: Aquarian Press. tr. 161–62. ISBN 1-85538-118-4. 
  15. ^ a ă “Con hổ trong văn hóa thế giới”. Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật. Đ.T. Ngày 6 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2013. 
  16. ^ Chuyện xưa kỳ bí: Săn hổ dữ hại dân bằng… thần chú! - VTC News
  17. ^ http://vietnamairlines.hanoi.vn/nhung-den-tho-dong-vat-doc-dao-air-2752.html
  18. ^ Hara 322 - Harva Uno, les representations religieuses des peuples altaiques, traduit de l'alle - mand par Jean-Louis Perret, Paris,1959
  19. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k Tín ngưỡng sùng bái “ông Ba Mươi” trong các dân tộc châu Á
  20. ^ a ă Matthiessen, Peter; Hornocker, Maurice (2001). Tigers In The Snow. North Point Press. ISBN 0-86547-596-2. 
  21. ^ Rouf, 303, trích dẫn Zelenine, Tục thờ thần tượng ở Xibia, Paris, 1952
  22. ^ Ly kỳ chuyện hạ sinh tướng Bạch Hổ ở đền Mây
  23. ^ Danh tướng Phạm Bạch Hổ
  24. ^ a ă Con hổ trong quan niệm của người Trung Quốc
  25. ^ a ă â b c d đ e Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên TÍN NGƯỠNG THỜ CỌP Ở ĐÌNH BÌNH THỦY
  26. ^ 10 điều đại kỵ khi đặt bàn thờ nhất định phải tránh
  27. ^ a ă Những con Hổ trên mặt trống đồng Đông Sơn | Thể thao & Văn hóa
  28. ^ a ă â b c d đ e ê Lễ “Bầu Ông” và tục thờ Bạch hổ ở đình Bình Thọ
  29. ^ Phat Giao Bac Lieu - Hình tượng con hổ trong văn hóa thời Nguyễn (Hải Vân)
  30. ^ a ă â Năm Dần thăm di tích “ông Hổ”
  31. ^ a ă â b c d đ e Tín ngưỡng thờ linh thú của người Việt tại các cơ sở đình, đền, miếu ở Bình Phước
  32. ^ a ă â b c d Chuyện về “Hai ông Hổ bạch và Hổ mun tranh hùng”
  33. ^ “Thần hổ xám ăn thịt cả chục người bên gốc gạo khổng lồ”. Báo điện tử VTC News. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015. 
  34. ^ Những di tích kỳ bí - Kỳ 17: Hổ trắng và đôi rắn khổng lồ ở thành Thọ An
  35. ^ a ă â b c d Ban thờ và đồ thờ trong tín ngưỡng thờ Mẫu
  36. ^ a ă â b c Hổ trong điêu khắc cổ Việt Nam
  37. ^ Nhận thức tính phổ quát liên văn hóa trong mỹ thuật cổ truyền qua ví dụ hình tượng con nghê ở đền miếu - Cục Mỹ thuật Nhiếp ảnh và Triển lãm Việt Nam
  38. ^ Bình phong 'có con quỷ' ở lăng Ngô Quyền
  39. ^ Vụ Bức bình phong 'có con quỷ' ở lăng Ngô Quyền: Làm không đúng, báo cáo sai sự thật
  40. ^ Vụ bình phong có con hổ ở lăng Ngô Quyền: Dòng họ Ngô không được tham gia giám sát dự án
  41. ^ Vị thế của hình tượng sư tử trong Mỹ thuật Đại Việt - Trường Cao đẳng Văn hóa-Nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh
  42. ^ a ă â b c d đ e Chuyện thờ Cọp ở Nam Bộ
  43. ^ Nét đẹp trong tín ngưỡng linh vật
  44. ^ Balambal, V (1997). “19. Religion – Identity – Human Values – Indian Context”. Bioethics in India: Proceedings of the International Bioethics Workshop in Madras: Biomanagement of Biogeoresources, 16–ngày 19 tháng 1 năm 1997. Eubios Ethics Institute. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2007. 
  45. ^ Những miền đất huyền sử - Kỳ 4: Thiên Y A Na và tùy tướng Bạch Hổ
  46. ^ Xem bẫy hổ-tin trong ngay |Tin tuc trong ngay 24h
  47. ^ a ă Phanh xác hổ dữ, báo thù cho thiếu nữ bạc mệnh - VTC News
  48. ^ Giận chúa sơn lâm, đập tan miếu cổ - VTC News
  49. ^ Bí ẩn miếu thờ thần hổ bên bờ suối Vó Ấm - VTC News
  50. ^ Hồi ức của người Pháp về ác mộng mang tên ‘ông cọp’ ở VN
  51. ^ Kỳ 2: Chúa sơn lâm vào... nồi - Phóng sự - Pháp Luật Xã hội
  52. ^ Những cấm kỵ khi bài trí hổ phong thủy -ho phong thuy| Nha dep
  53. ^ a ă â b Vì sao hổ lại được gọi là Ông Ba Mươi? - Văn nghệ Tiền Giang
  54. ^ a ă Phạm Ngọc Dương (ngày 8 tháng 4 năm 2014). “Thần hổ xám ăn thịt cả chục người bên gốc gạo khổng lồ”. VTC News. 
  55. ^ Lời đồn người chết hóa hổ và mộ 9 tầng đá ở Sơn La
  56. ^ a ă â Chuyện thần Bạch Hổ hiển linh trên núi Cấm
  57. ^ a ă â Chuyện hổ cái 3 chân báo thù và chiếc sọ cọp trong chùa Diêu Quang
  58. ^ Bí mật sau chiếc sọ cọp cái ba chân ở chùa Diêu Quang | Phật giáo và đời sống
  59. ^ Đặc biệt trên báo in ngày 01.11.2013 | Đời sống | Thanh Niên Online
  60. ^ http://www.vtc.vn/ho-khong-lo-giet-lon-rung-doc-chiec-va-dan-ban-duoc-bua-no-d234225.html
  61. ^ Thợ săn hổ giải nghệ và phát súng trượt đêm trăng xế - VTC News
  62. ^ a ă http://www.vtc.vn/tuyen-quang-ho-du-tra-thu-tan-khoc-khien-30-con-de-mat-mang-d200131.html
  63. ^ Hổ dữ bắt người và ký ức kinh hoàng về cuộc huyết chiến "ông ba mươi" ngay trước sân nhà | giadinh.net.vn
  64. ^ a ă Những di tích kỳ bí - Kỳ 11: Hổ trắng ba chân về nghe kinh Phật
  65. ^ a ă Thần hổ xám ăn thịt cả chục người bên gốc gạo khổng lồ
  66. ^ a ă Thần hổ khổng lồ ăn thịt mấy chục người ở Thanh Hóa
  67. ^ Phạm Ngọc Dương (ngày 7 tháng 4 năm 2014). “Thiếu nữ họ Đinh xứ Mường chết thảm dưới móng vuốt hổ xám”. VTC News. 
  68. ^ Phạm Ngọc Dương (ngày 27 tháng 3 năm 2014). “Chuyện kể kinh hãi về ‘thần hổ xám’ báo thù ở Thanh Hoá”. VTC News. 
  69. ^ < Hổ xám báo thù giết thợ săn họ Đinh tàn khốc
  70. ^ Bí ẩn chuyện cọp 3 chân tha mạng nhà sư - Phóng sự - Pháp Luật Xã hội
  71. ^ Bí ẩn chuyện cọp 3 chân tha mạng nhà sư - VTC News
  72. ^ Cả họ kinh sợ vì cọp bắt người - VTC News
  73. ^ a ă â b c d đ e ê TÍN NGƯỠNG THỜ HỔ VÀ THỜ RẮN Ở MIỀN TÂY NAM BỘ
  74. ^ a ă “Cả họ kinh sợ vì cọp bắt người”. Báo điện tử VTC News. Truy cập 4 tháng 6 năm 2014. 
  75. ^ a ă Chuyện lạ ở An Giang: Cọp rất sợ nam mô
  76. ^ a ă â Tục thờ thần Bạch Hổ ở Trà Bồng
  77. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư v Cọp trong văn hóa dân gian Đông Nam Bộ
  78. ^ a ă â b c Bí ẩn ngôi đền 300 tuổi thờ hộp sọ cọp khổng lồ
  79. ^ a ă â Sự tích thờ thần hổ
  80. ^ a ă â b c d đ e Tín ngưỡng thờ cúng thần hổ ở Bình Phước
  81. ^ a ă Thần Hổ và thần Mễ tiên sinh
  82. ^ Truyền kỳ về cao hổ cốt (phần II)
  83. ^ a ă â b c d đ Tục thờ thần Hổ ở Đồng Nai
  84. ^ a ă â b c Còn đó Miễu Ông Cọp
  85. ^ Chuyện về 'Võ Tòng' bắt hổ ở Quảng Nam
  86. ^ http://www.24h.com.vn/tin-tuc-trong-ngay/chuyen-ve-vo-tong-bat-cop-o-quang-nam-c46a575724.html
  87. ^ a ă â b c Nghi thức cúng tế trong Lễ Thượng Điền đình Bình Thủy – Thành phố Cần Thơ
  88. ^ a ă â b Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Năm Cọp chơi tranh ngũ Hổ
  89. ^ “Chấm dứt nạn buôn bán hổ trái phép”. Truy cập 4 tháng 6 năm 2014. 
  90. ^ a ă â Giải mã tranh Ngũ Hổ Đông Hồ
  91. ^ http://vov.vn/van-hoa-giai-tri/tranh-dan-gian-ngu-ho-135567.vov
  92. ^ Năm Canh Dần thần Hổ-Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Vĩnh Phúc
  93. ^ a ă â Cuộc chơi 'nanh vuốt quyền lực' bỏ ngàn đô săn lùng hàng giả
  94. ^ Khi quý ông "tiền mất, tật mang" vì tin nhầm… pín hổ - VietNamNet
  95. ^ “Khi quý ông "tiền mất, tật mang" vì tin nhầm… pín hổ - VietNamNet”. VietNamNet. Truy cập 4 tháng 6 năm 2014. 
  96. ^ Đôi nét về văn hóa, tín ngưỡng của người Hoa ở Bắc Giang
  97. ^ Tập quán đi săn Hổ của người Sán Dìu-Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Vĩnh Phúc
  98. ^ “Nhân năm Dần nói chuyện... Hổ”. Báo Thể thao & Văn hóa - Thông tấn xã Việt Nam. Truy cập 4 tháng 6 năm 2014. 
  99. ^ Nhân năm Dần nói chuyện... Hổ | Thể thao & Văn hóa
  100. ^ a ă â http://www.nguoiduatin.vn/the-gioi-ngam-cua-nhung-ong-trum-buon-nanh-vuot-thu-du-vung-tay-bac-a86205.html
  101. ^ a ă http://news.zing.vn/dai-gia-viet-chi-ngan-do-de-deo-nanh-vuot-post362793.html
  102. ^ a ă http://thanhnien.vn/thoi-su/nanh-ho-rao-ban-thuc-ra-larang-cho-656893.html
  103. ^ Một mình truy lùng cọp "chúa" thành tinh-danh nhau voi cop |Tin tuc
  104. ^ “Những chuyện xung quanh "ông Ba Mươi". Báo Pháp luật & Xã hội. Văn Thông. Ngày 9 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2013. 
  105. ^ “Cọp khổng lồ và mối thù phải trả với thợ săn U Minh Hạ”. VTC News. Phạm Ngọc Dương. Ngày 16 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2013. 
  106. ^ Thú chơi móng vuốt ngàn đô của đại gia - VietNamNet
  107. ^ Cuộc chơi nanh vuốt: Bỏ ngàn đô săn lùng hàng giả - VietNamNet
  108. ^ Nhân năm Dần nói chuyện... Hổ | Thể thao & Văn hóa
  109. ^ a ă http://cand.com.vn/Ban-doc-cand/Hoi-chung-tam-nanh-san-vuot-manh-ho-86204/
  110. ^ http://www.24h.com.vn/tin-tuc-trong-ngay/dai-gia-san-nanh-heo-doc-lam-bua-ho-menh-c46a580429.html
  111. ^ a ă Huyền bí bùa ngải và tục thờ ma xứ Mường
  112. ^ http://vnexpress.net/tin-tuc/khoa-hoc/kham-pha-the-gioi-bua-ngai-thoi-co-dai-2094509.html
  113. ^ a ă http://antg.cand.com.vn/Su-kien-Binh-luan-antg/Su-that-ve-ngai-an-thit-Huyen-thoai-tu-ngoi-den-co-De-Thien-307368/
  114. ^ CHUỘT TRONG VĂN HÓA THẾ GIỚI
  115. ^ Con hổ trong quan niệm của người Trung Quốc
  116. ^ Phat Giao Bac Lieu - Hình tượng con hổ trong văn hóa thời Nguyễn (Hải Vân)
  117. ^ Bí ẩn tục thờ cúng thần hổ
  118. ^ Sống chung với hổ để bảo tồn loài
  119. ^ Ông Địa trong tâm thức dân gian miền Nam
  120. ^ Vì sao gọi hổ là "ông Ba mươi"?
  121. ^ Ông Ba Mươi
  122. ^ Con vật trong truyện kể dân gian và tín ngưỡng thờ con vật của một số dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
  123. ^ a ă Dấu ấn “ông hổ” trong tín ngưỡng dân gian
  124. ^ http://www.baoangiang.com.vn/Chuyen-muc-khac/Trong-tinh/Dau-an-ong-ho-trong-tin-nguong-dan-gian.html
  125. ^ Cọp trong tâm thức người dân Nam bộ
  126. ^ Văn hóa của cư dân miền Đông Nam Bộ-tiếp cận sinh thái văn hóa
  127. ^ http://www.vtc.vn/phong-su-kham-pha/ky-la-tang-da-hoa-ho-nghien-thuoc-o-bien-gioi-d110645.html
  128. ^ Kỳ 2: Tiêu diệt cọp dữ
  129. ^ Tuyên Quang: Hổ dữ trả thù tàn khốc khiến 30 con dê mất mạng
  130. ^ Kỳ 2: Hổ cướp xác voọc trước mắt thợ săn
  131. ^ Cọp trong văn học – Báo Giác ngộ
  132. ^ Tín ngưỡng thờ thần Độc Cước ở Bắc Giang
  133. ^ Chuyện ly kỳ ở ngôi miếu thờ thần hổ
  134. ^ “Vào nơi từng là tâm điểm của ma trành, thần hổ”. VTC News. Gia Linh. Ngày 19 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2013. 
  135. ^ a ă Chen lấn sờ "Hổ thần chùa Hương" mong tiêu trừ bệnh tật
  136. ^ a ă Chen chân xức dầu tượng hổ ở Hương Tích mong… chữa bệnh
  137. ^ a ă Về huyền thoại Thần Hổ chữa bách bệnh ở Hương Tích
  138. ^ Chen nhau xức dầu gió, xoa mòn tượng hổ mong chữa bệnh
  139. ^ a ă Ly kỳ chuyện săn và thờ cọp ở xứ Quảng
  140. ^ a ă â b c d Truyền thuyết bầy cọp dữ trấn yểm Hải Vân Quan
  141. ^ Hổ dữ bắt người và ký ức kinh hoàng về cuộc huyết chiến “ông ba mươi” ngay trước sân nhà
  142. ^ a ă Kì bí dải lụa trắng và ông Bạch hổ Sơn quân ở làng Mỹ Sơn xưa
  143. ^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Tục thờ thần Bạch Hổ ở Trà Bồng
  144. ^ Những di tích kỳ bí - Kỳ 13: Thầy tu đả hổ
  145. ^ a ă â Huyền tích miếu Ông Cọp
  146. ^ Ly kỳ chuyện thoát khỏi nanh cọp
  147. ^ Ly kỳ chuyện cọp: Cọp bị ngộ sát
  148. ^ Những chuyện kỳ bí: Chúa sơn lâm bảo vệ dân làng
  149. ^ Chuyện về cọp ba móng khoái khẩu món thịt người ở Đồng Nai
  150. ^ a ă http://plo.vn/ho-so-phong-su/ky-la-dan-lap-mieu-tho-ba-mu-vuon-569134.html
  151. ^ “Huyền thoại ly kỳ về “cốt cậu Bảy””. 
  152. ^ Vị trí vùng đất Mô Xoài trong tiến tình mở cõi về phương Nam
  153. ^ a ă â Tín ngưỡng dân gian của cư dân Mô Xoài
  154. ^ Chuyện về miễu Ông Hổ và cây gõ cổ thụ
  155. ^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Tục thờ thần hổ
  156. ^ Đình Hưng Phú
  157. ^ a ă â Dấu xưa Đồng Tháp Mười: Cọp làm Hương cả
  158. ^ Chuyện thờ hộp sọ cọp khổng lồ trong ngôi đền 300 năm tuổi
  159. ^ a ă http://www.doisongphapluat.com/xa-hoi/chuyen-tho-hop-so-cop-khong-lo-trong-ngoi-den-300-nam-tuoi-a49001.html
  160. ^ a ă â Ngôi đình làng thờ đầu ông Cả Cọp
  161. ^ a ă An Giang: Dấu ấn “ông hổ” trong tín ngưỡng dân gian
  162. ^ Về Cù lao ông Hổ
  163. ^ Chuyện thú vị bộ cốt 'Ông Cọp' ở Cần Thơ
  164. ^ a ă Giai thoại về bộ cốt ông Cả cọp ở đình Bình Thủy
  165. ^ Tôn giáo - tín ngưỡng -- Đình Cần Thơ - văn hóa và tín ngưỡng
  166. ^ Chuyện thờ cọp ở chùa Vàm Sát
  167. ^ Sự tích đồi ngũ hổ

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]