Tchya

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tchya

Tchya
Sinh 1908
Quảng Xương, Thanh Hóa, Việt Nam
Mất 8 tháng 8 năm 1969, thọ 61 tuổi.
Sài Gòn, Việt Nam
Công việc Nhà văn, Nhà thơ

Tchya (1908 - 1969), tên thật Đái Đức Tuấn, bút danh khác: Mai Nguyệt, là một nhà văn, nhà thơ Việt Nam.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tchya[1] quê ở làng Ngọc Giáp, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá. Xuất thân trong một gia đình quan lại, sau khi tốt nghiệp tú tài toàn phần, ông làm tham tá ở Nha học chánh Đông Dương từ năm 1930. Đái Đức Tuấn bắt đầu viết báo, viết văn từ 1935 cho các tờ Đông Tây, Nhật Tân, Tiểu thuyết thứ bảy. Đến năm 1940 ông xin nghỉ việc và sang cư ngụ tại Côn Minh, Trung Quốc. Đến năm 1945 ông trở lại Việt Nam tiếp tục làm báo. Năm 1950 ông dạy học ở trường Quốc học Huế.

Năm 1946 Đái Đức Tuấn tham gia Việt Nam Quốc Dân Đảng [2]. Đái Đức Tuấn từng bị bắt gia nhập quân đội Việt Nam Cộng Hòa cấp bậc đại úy đồng hóa[3] và giải ngũ năm 1956.

Ông mất ngày 8 tháng 8 năm 1969[4] tại Sài Gòn.

Tác phẩm chính[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1937 - Thần hổ
  • 1938 - Linh hồn hay xác thịt
  • 1940 - Kho vàng Sầm Sơn
  • 1942 - Ai hát giữa rừng khuya
  • 1943 - Đầy vơi (Thơ)

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Vũ Ngọc Phan nhận xét:

Văn của Tchya “không phải thứ văn chương hàm súc hay linh hoạt, nên những truyện ngắn của ông đều dài dòng, cổ lỗ…chỉ những tập truyện truyền kỳ là còn kha khá.
Và cũng như văn, thơ ông đượm rất nhiều phong vị cổ. Ở văn, gọt giũa quá, nhiều khi tai hại; nhưng ở thơ, nó lại có được đôi phần hay là lời điêu luyện, già giặn. Tôi nói “có được đôi phần hay”, vì nếu gọt giũa lắm vẻ tự nhiên, sự thành thật sẽ không còn nữa…
Sống liều nghịch với sầu thương
Thuyền cô đẫm bóng tà dương nhẹ chèo
Sương tàn lả ngọn ba tiêu,
Lòng trần thoảng sạch bể chiều nhấp nhô
(trích Thoát tục)
…Về không nổi, ngày thêm tẻ
Ở chẳng nên chi, tóc điểm vàng
Gánh nợ thê noa nào trã nữa
Chân trời đâu nhỉ cái bồng tang?...
(trích Mưa Gió)
Về thơ, ông chịu ảnh hưởng thơ Đường rất nhiều, còn về tiểu thuyết truyền kỳ, ông cũng lại chịu ảnh hưởng Liêu trai. Ông là một nhà văn và là một nhà thơ không có cái gì đặc sắc.”[5]

Sau này, Nguyễn Vinh Phúc có những đánh giá tương tự:

Về tiểu thuyết, Tchya sử dụng “quá nặng màu sắc thần bí và định mệnh, văn chương lại xen nghị luận, giảng thuyết nên tư tưởng mà tác giả muốn gửi gắm không có gì đáng kể. May mà, cốt truyện hấp dẫn, cách kết cấu các chương khéo, phần đuôi của câu chuyện trước lại khởi đầu cho một câu chuyện ly kỳ khác ở chương sau…”
Còn tập thơ Đầy vơi, “tuy ra đời vào cuối phong trào thơ mới, nhưng ý vị khá cổ, lời nhiều sáo ngữ, rất ít tứ mới, từ mới. Tuy nhiên, nhờ kỹ thuật gọt giũa công phu nên thơ Tchya nói chung cũng tao nhã…”[4]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Về bút danh Tchya, có người cho rằng chữ A trong bút danh phải được viết hoa mới đúng theo ý của Đái Đức Tuấn. Nguyễn Vỹ trong Văn sĩ tiền chiến (NXB Văn học, 2007, tr. 413-417), Vũ Bằng trong 40 năm nói láo (NXB Thông tin, năm 1993, tr.59), Tạ Tỵ khi vẽ chân dung ông Tuấn đều ghi rõ bút danh của Đái Đức Tuấn là TchyA; nhưng trong Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan (NXB Sống mới, Sài Gòn, 1959, tr.985) và các bộ sách từ điển văn học được xuất bản gần đây, như Từ điển Văn học (bộ mới), Từ điển tác gia Văn hóa Việt Nam (NXB VH-TT, Hà Nội, 1999) đều ghi là Tchya.
  2. ^ Theo Từ điển Văn học (bộ mới. NXB Thế Giới, 2004, tr.1617)
  3. ^ Từ "đồng hóa' dùng để chỉ những công chức có xuất thân là dân sự nay chuyển sang ngành quân sự. Ví dụ: Phạm Xuân Ẩn trong khoảng những năm 1952-1953 là "thượng sĩ đồng hóa".
  4. ^ a b Theo Từ điển Văn học (bộ mới) NXB Thế Giới, 2004, tr.1617
  5. ^ Nhà văn hiện đại, NXB Sống mới, Sài Gòn, 1959, tr. 985- 994