Trà
Trà Long Tỉnh được hãm trong chén trà | |
| Phân loại | Thức uống dùng nóng hoặc lạnh |
|---|---|
| Quốc gia xuất xứ | Trung Quốc[1] |
| Ra mắt | Lần đầu tiên được ghi chép tài liệu từ Trung Quốc vào năm 59 trước Công nguyên, mặc dù có lẽ bắt nguồn từ sớm hơn[2] |
Trà (hay chè) là đồ uống phổ biến thứ hai trên thế giới (sau nước uống).[3] Nó làm bằng cách ngâm lá, chồi, hay cành của cây trà (Camellia sinensis) vào nước sôi từ vài phút đến vài giờ. Lá trà có thể được oxy hóa (ủ để lên men), sấy rang, phơi, hay pha thêm các loài thảo mộc khác như hoa, gia vị, hay trái cây khác trước khi chế vào nước sôi. Thi thoảng, trà cũng được làm từ vài giống cây khác cùng họ, nhưng trường hợp này khá hiếm. Thi thoảng, trà cũng được làm từ vài giống cây khác cùng họ như Camellia taliensis hay Camellia formosensis, nhưng những trường hợp này khá hiếm gặp.[4][5][6][7]
Trong phạm vi thức uống chế từ Camellia sinensis thì có bốn loại trà thật: Trà đen, Trà Ô Long, Trà xanh và Trà trắng. Nước trà là nguồn caffein, theophylline và chất chống oxy hóa (antioxidant) tự nhiên và gần như không có mỡ, carbohydrate, hay protein. Nước trà có mùi thơm, vị hơi đắng và chát. Trà có tác dụng kích thích hệ thần kinh, giúp con người tỉnh táo.[8]
Chuyện uống trà đã được danh y Hoa Đà ghi lại trong sách thuốc từ thế kỷ thứ 3. Tuy nhiên, phải đến đời nhà Đường, trà mới trở thành thú vui thưởng thức phổ biến và lan rộng khắp Đông Á. Đến thế kỷ 16, các linh mục và thương nhân Bồ Đào Nha mang thức uống này sang châu Âu.[9] Đến thế kỷ 17, uống trà trở thành trào lưu thời thượng của người Anh. Sau đó, họ mở rộng trồng trọt cây chè quy mô lớn tại Ấn Độ.
Cần lưu ý, "trà thảo mộc" dùng để chỉ các loại đồ uống không được làm từ cây chè (Camellia sinensis). Chúng thực chất là nước hãm từ trái cây, lá hoặc các bộ phận khác của thực vật, ví dụ như nụ tầm xuân, hoa cúc La Mã hoặc hồng trà Nam Phi (rooibos). Những loại đồ uống này còn được gọi là tisane hoặc nước hãm thảo mộc để tránh nhầm lẫn với loại trà được làm từ cây chè truyền thống.
Nguồn gốc và lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]Nguồn gốc cây trồng
[sửa | sửa mã nguồn]Cây chè là loài thực vật bản địa của Đông Á, với trung tâm khởi phát nhiều khả năng nằm gần thượng nguồn sông Irrawaddy. Từ khu vực này, loài cây đã lan tỏa về phía đông nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương và vùng Assam. Phạm vi phân bố tự nhiên của cây chè nằm trong một khu vực hình quạt tương đối nhỏ: phía tây dọc biên giới Myanmar qua các vùng Nagaland, Manipur và Mizoram; phía đông qua Trung Quốc đến tận tỉnh Chiết Giang; và phía nam qua các triền núi xuống Myanmar, Thái Lan và Việt Nam. Xét về toạ độ địa lý, trục Đông - Tây của vùng phân bố này dài khoảng 2.400 km, trải từ kinh độ 95° đến 120° Đông. Trục Bắc - Nam kéo dài khoảng 1.920 km, bắt đầu từ phía bắc Myanmar ở vĩ độ 29° Bắc, đi qua Vân Nam, Bắc Bộ (Việt Nam), Thái Lan, Lào và tiếp tục xuống phía nam đến vĩ độ 11° Bắc.[10]
Về mặt phân loại và nguồn gốc di truyền, giống trà lá nhỏ Trung Quốc (C. sinensis var. sinensis) có thể bắt nguồn từ miền nam Trung Quốc, nhiều khả năng là kết quả của quá trình lai tạo với các giống chè hoang dã chưa xác định. Do hiện nay không còn tìm thấy quần thể hoang dã nào của giống trà này, nguồn gốc chính xác của chúng vẫn chỉ là giả thuyết.[11][12]
Đối với giống trà Assam Trung Quốc (C. sinensis var. assamica), các khác biệt di truyền tạo thành những nhánh riêng biệt cho thấy chúng có thể mang hai nguồn gốc khác nhau: một dòng từ nam Vân Nam (Tây Song Bản Nạp, Phổ Nhĩ) và một dòng từ tây Vân Nam (Lâm Thương, Bảo Sơn). Nhiều loại trà Assam nam Vân Nam đã được lai tạo với loài cận huyết Camellia taliensis. Ngược lại, trà Assam tây Vân Nam lại chia sẻ nhiều điểm tương đồng về di truyền với giống trà Assam Ấn Độ (cũng thuộc C. sinensis var. assamica). Điều này gợi ý rằng trà Assam tây Vân Nam và trà Assam Ấn Độ có thể cùng xuất phát từ một cây mẹ tại khu vực tiếp giáp giữa tây nam Trung Quốc, Ấn Độ - Myanmar và Tây Tạng. Tuy nhiên, do trà Assam Ấn Độ không chia sẻ kiểu gen đơn bội (haplotypes) với trà Assam tây Vân Nam, nhiều khả năng trà Assam Ấn Độ đã được thuần hóa một cách độc lập. Một số giống trà Assam Ấn Độ còn cho thấy dấu hiệu lai với loài Camellia pubicosta.[13][14]
Nếu giả định mỗi thế hệ kéo dài 12 năm, các ước tính cho thấy trà lá nhỏ Trung Quốc đã phân tách khỏi trà Assam vào khoảng 22.000 năm trước, tương ứng với thời kỳ Cực đại Băng hà cuối cùng. Trong khi đó, sự phân tách giữa trà Assam Trung Quốc và trà Assam Ấn Độ diễn ra muộn hơn, cách đây khoảng 2.800 năm.[15][16]
Ghi chép sớm nhất
[sửa | sửa mã nguồn]
Cư dân Đông Á cổ đại đã sử dụng trà như một loại thực phẩm trong nhiều thế kỷ, thậm chí có thể là hàng thiên niên kỷ, trước khi chuyển sang dùng như một loại thức uống. Họ thường nhai lá trà sống, thêm vào các món canh, rau, hoặc ủ men để nhai tương tự như tục ăn trầu.[18]
Tục uống trà có thể đã khởi nguồn tại vùng Vân Nam, nơi trà ban đầu được dùng cho mục đích dược liệu. Tại Tứ Xuyên, người ta tin rằng "Từ thuở ấy, trà được chắt lấy tinh hoa, nước cốt đậm đà giữ trọn hương vị, không pha lẫn thảo mộc. Trà trở thành thức uống tỉnh thần, vị đắng mà thanh, không còn chỉ là phương thuốc đơn thuần nữa".[19]
Truyền thuyết Hoa Hạ cho rằng Thần Nông (miền Trung và Bắc Trung Quốc) chính là vị thủy tổ phát minh ra trà, từ thuở năm 2737 trước Công nguyên, dù có chứng cứ cho thấy tục uống trà có lẽ từ vùng Tây Nam truyền sang.[20] Những ghi chép văn bản sớm nhất về trà đều xuất phát từ Trung Quốc. Chữ đồ (荼) xuất hiện trong Kinh Thi và các cổ thư khác dùng để chỉ một loại "khổ thái" (rau đắng); rất có thể từ này bao hàm nhiều loài thực vật khác nhau như rau diếp dại, rau cúc đắng, hay nghể, cũng như cây trà.[21] Sách Hoa Dương Quốc Chí chép rằng người nước Ba từng dâng trà lên Chu Vương. Sau khi Tần thôn tính Ba Thục, người phương Bắc mới bắt đầu biết thưởng trà. Cố Viêm Vũ trong Nhật Tri Lục từng nhận định: "Người Tần sau khi chiếm Thục mới biết uống trà."[2] Lại có ghi chép về việc tướng quân Lưu Côn thời Tần viết thư xin "chân trà", ấy cũng là một trong những dấu tích sớm của trà trong sử sách.[22]
Bằng chứng vật lý sớm nhất về trà[23] được phát hiện vào năm 2016 tại lăng mộ Hán Cảnh Đế ở Tây An, cho thấy trà thuộc chi Camellia đã được các hoàng đế triều Hán thưởng thức từ thế kỷ thứ 2 TCN.[24] Trước đó, trong sách Đồng Ước của Vương Bảo (năm 59 TCN) cũng đã ghi lại phương pháp nấu trà sớm nhất còn lưu trong sử sách.[25] Theo khế ước, tiểu đồng phụng sự có hai trọng trách: một là “châm trà mãn trà cụ”, hai là “mãi trà ư Vũ Dương”.[2] Giai đoạn này cũng ghi nhận canh tác trà sớm nhất, diễn ra tại Mông Sơn, cận kề Thành Đô.[26]
Trong tịch y thư của danh y Hoa Đà, ghi chép cổ truyền có niên đại thế kỷ thứ ba sau Công nguyên, chép rằng: "Thường ẩm khổ đồ, tư tứ minh sảng" (Thường uống trà đắng, tư duy thông suốt.).[27] Song, trước thời Đại Đường, trà đạo chủ yếu lưu hành tại Giang Nam, tập trung quanh vùng Kiến Khang.[28] Bấy giờ, vương công quý tộc Bắc triều thường xem khinh trà, coi đó là thứ thức uống quê mùa, thấp kém, không sánh bằng nê chưởng (sữa lên men) của người phương Bắc.[29][30]
Đến thời nhà Đường, trà mới thực thịnh hành, từ đó lan rộng sang Cao Ly, Nhật Bản cùng An Nam. Vào thế kỷ thứ tám, Lục Vũ soạn bộ Trà Kinh, chuyên luận về trà đạo và nghệ thuật chế trà. Cũng trong tác phẩm này, chữ "trà" (茶) hiện đại lần đầu xuất hiện, được giản hóa từ chữ "đồ" (荼) cổ.[31] Lục Vũ từ đó được tôn làm "Trà thánh", ảnh hưởng sâu rộng đến văn hóa ẩm trà của hậu thế.[32]
Phát triển
[sửa | sửa mã nguồn]
Trải qua nhiều triều đại, nghệ thuật chế biến và hình thái của trà cũng không ngừng biến đổi. Dưới thời Hán và Lục triều, trà thường được hấp, giã nhuyễn, ép thành bánh, sấy nhẹ lửa rồi phơi gió. Khi dùng, người ta bẻ miếng bánh trà đun sôi, pha thêm vỏ quýt, táo tàu, bạc hà, gừng hoặc hành lá để tăng hương vị.[33] Đến thời Đường, trà dạng bánh vẫn thịnh hành nhưng kỹ thuật đã dần thay đổi.[34] Sang thời Tống, trà lá rời (tán trà) bắt đầu xuất hiện và được ưa chuộng. Từ đời Nguyên, Minh, kỹ thuật chao xao, vò, phơi đã giữ được sắc xanh cho lá trà, ngăn chặn quá trình oxy hóa làm trà đổi màu thâm sẫm. Sang thế kỷ 15, trà Ô Long được sáng chế bằng cách để lá héo úa (ôxy hóa) một phần trước khi sao, tạo nên hương vị đặc trưng.[28]
Trong khi đó, khẩu vị phương Tây lại chuộng trà đen (hồng trà), loại trà được oxy hóa hoàn toàn. Còn hoàng trà là một phát hiện tình cờ dưới thời Minh, khi những lá trà xanh để sót lên men nhẹ, chuyển màu vàng và cho ra hương vị độc đáo riêng biệt.[35]
Lan rộng ra toàn cầu
[sửa | sửa mã nguồn]Vào thế kỷ 16, các giáo sĩ và thương nhân phương Tây đến Trung Hoa lần đầu được biết đến trà, gọi theo âm Hán là chá.[36] Ghi chép sớm nhất về trà trong văn liệu châu Âu xuất hiện năm 1545, trong tác phẩm Delle navigationi e viaggi của người Venezia là Ramusio, với từ chiai để chỉ trà.[37] Năm 1607, Công ty Đông Ấn Hà Lan vận chuyển chuyến hàng trà đầu tiên từ Ma Cao đến Java. Hai năm sau, họ mua lô trà từ Hirado (Nhật Bản) chuyển về châu Âu.[38] Từ Hà Lan, trà nhanh chóng trở thành thức uống thời thượng, rồi được lan tỏa sang Đức, Pháp và vùng Tân Amsterdam (nay là New York, Mỹ).[39]

Năm 1567, người Nga lần đầu tiếp xúc với trà qua chuyến thăm Trung Hoa của hai nhà thám hiểm người Cossack là Petrov and Yalyshev.[40] Năm 1638, Sa hoàng Mikhail I được tặng 65–70 kg trà từ một vị Hãn Mông Cổ.[41] Tương truyền, vào khoảng năm 1636, sứ thần Starkov của Nga được Altyn Khan tặng 250 pound trà, dù ban đầu ông đã từ chối vì không hiểu giá trị của "thứ lá khô" này, nhưng về sau trà đã chính thức được du nhập vào nước Nga. Đến năm 1679, Nga ký hiệp định thường kỳ nhập trà từ Trung Quốc bằng đoàn lạc đà, đổi lấy lông thú. Từ đó, trà dần trở thành thức uống mang tính biểu tượng của đất nước này.
Trà xuất hiện lần đầu trong văn thư tiếng Anh qua thư tín của Richard Wickham, chủ một thương điếm Đông Ấn tại Nhật, vào năm 1615, khi ông gửi lời nhờ mua "loại chaw (trà) thượng hạng" từ một thương nhân ở Ma Cao. Đến năm 1637, thương nhân kiêm nhà du hành Peter Mundy khi đến Phúc Kiến đã mô tả trà là: "chaa – chỉ là nước với một thứ cỏ đun sôi".[42][43]
Ở Luân Đôn, trà bắt đầu được bán trong tiệm cà phê từ năm 1657. Samuel Pepys nếm thử trà năm 1660, và khi Catherine xứ Braganza kết hôn với Quốc vương Charles II năm 1662, bà đã mang thói quen thưởng trà vào hoàng cung Anh. Tuy vậy, mãi đến thế kỷ 18, trà mới thực sự phổ biến tại quần đảo Anh và vẫn là thức uốnɡ xa xỉ tại đây cho đến cuối thế kỷ. Người Anh ưa thêm đường và sữa vào hồng trà, và đến thập niên 1720, hồng trà đã vượt qua lục trà về mức độ ưa chuộng.[44]
Việc buôn lậu trà trong thế kỷ 18 đã giúp công chúng có thể tiếp cận trà với giá phải chăng hơn.. Đến năm 1785, triều đình Anh Quốc bãi bỏ thuế trà, chấm dứt hoạt động buôn lậu. Ban đầu, tại Anh và Ireland, trà chỉ xuất hiện trong những dịp quan trọng như lễ hội, tang lễ hay hội họp gia đình. Sang thế kỷ 19, giá trà hạ dần, nhất là khi trà Ấn Độ ồ ạt nhập khẩu; đến cuối thế kỷ, trà đã trở thành thức uống thường nhật của mọi giai tầng xã hội.

Sự hưng thịnh của trà còn ghi dấu ấn trong nhiều sự kiện trọng đại: Đạo luật Trà năm 1773 châm ngòi Sự kiện Tiệc trà Boston, dẫn đến Cách mạng Hoa Kỳ. Gánh nặng thâm hụt thương mại từ nhập khẩu trà cũng đưa Anh đến Chiến tranh Nha phiến với nhà Thanh. Trước đó, Hoàng đế Khang Hi đã ban chiếu chỉ cấm ngoại hóa, năm 1685 quy định mọi giao dịch với Trung Hoa phải thanh toán bằng bạc.[45] Để cân bằng thương mại, thương nhân phương Tây tìm đến thuốc phiện – thứ hàng hóa có thể đổi lấy bạc để mua trà và các sản vật phương Đông.[46]
Vào năm 1836, người Anh vì muốn phá thế độc tôn về trà của Trung Nguyên, bèn đem giống trà lá nhỏ vào gieo trồng tại đất Ấn Độ.[47] Năm 1841, Archibald Campbell mang hạt giống trà từ vùng Kumaun về thử nghiệm trồng tại Darjeeling. Đến năm 1856, vườn trà Alubari được khai trương, đánh dấu sự ra đời của danh trà Darjeeling nức tiếng về sau.[48] Năm 1848, Robert Fortune vâng mệnh Công ty Đông Ấn, lặng lẽ sang Trung Hoa trong khoảng lặng giữa hai cuộc Chiến tranh Nha phiến, với sứ mệnh bí mật đưa cây trà về Anh quốc.[49] Những cây trà Trung Hoa ấy sau được đem lên trồng ở vùng Hi Mã Lạp Sơn, song vì thủy thổ không hợp, phần lớn đều khô héo mà chết. May thay, người Anh lại tìm được một giống trà bản địa tại Assam và vùng Đông Bắc Ấn, bèn đem lai ghép với giống trà lá nhỏ của Trung Hoa. Lại học theo kỹ nghệ canh tác của người Hoa, chính quyền thực dân Anh lúc bấy giờ ban đất tại Assam cho bất cứ người Âu châu nào cam kết trồng trà để xuất khẩu, khiến ngành trà Ấn Độ từ đó mà hưng thịnh.[50] Ban đầu, trà chỉ là thức uống riêng của giới Anh-Ấn quyền quý. Nhưng đến thập niên 1950, nhờ chiến dịch quảng bá hiệu quả của Hội đồng Trà Ấn Độ, trà thực sự trở thành thức uống thân thuộc khắp xứ Ấn. Năm 1867, nghề trà cũng theo chân người Anh mà truyền đến xứ Tích Lan (Sri Lanka ngày nay).[51]
Trồng và thu hoạch
[sửa | sửa mã nguồn]Camellia sinensis là loài thực vật thường xanh mọc chủ yếu trong các vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới.[52] Nhiều giống cũng có thể thích nghi với khí hậu biển và được trồng đến tận phía bắc như Pembrokeshire ở Đảo Anh lục địa[53] và Washington ở Hoa Kỳ.[54]


Cây trà được nhân giống từ hạt và cắt; nó mất khoảng 4 đến 12 năm để cây ra hạt giống, và khoảng 3 năm trước khi một cây mới sẵn sàng cho thu hoạch.[52] Ngoài khu 8 hay vùng khí hậu ấm hơn, cây trà cần ít nhất 1270 mm lượng mưa mỗi năm và môi trường đất chua.[55] Nhiều cây trà chất lượng cao được trồng ở những độ cao lên đến 1.500 m (4.900 ft) so với mực nước biển. Ở độ cao này, cây phát triển chậm hơn, chúng cho ra mùi vị đặc biệt hơn.[56]
Tùy vào tình trạng thu hái phần búp mà người ta có thể làm ra các loại trà với mùi vị khác nhau như trà búp (1 tôm 2 lá), trà tôm nõn (1 tôm 1 lá), trà lộc đỉnh (nõn chè nguyên chất) và trà đinh ngọc (chồi non tinh khiết)[57]
Hai giống thường được trồng là Camellia sinensis var. sinensis, được dùng làm trà ở Trung Quốc, Đài Loan và Nhật Bản, và giống Camellia sinensis var. assamica, được dùng trong Pu-erh và trà Ấn Độ (không phải Darjeeling). Trong các giống thực vật này, có nhiều chủng và giống vô tính hiện đại. Kích thước lá là tiêu chuẩn chính trong việc phân loại cây trà, với 3 cách phân loại cơ bản là,[58] Assam, đặc trưng bởi lá lớn nhất; trà Trung Quốc, đặc trưng bởi lá nhỏ nhất; trà Campuchia, đặc trưng bởi lá có kích thước trung bình.
Cây chè lớn cao đến 16 m (52 ft) nếu không bị tác động,[52] nhưng các loại cây trồng thường được tỉa cành để độ cao của chúng ngang với thắt lưng nhằm để tuốt (thu hoạch). Do vậy, khi tỉa thường xuyên và thân thấp thì có nhiều chồi non và làm tăng chất lượng trà.[59] Chỉ có 1-2 inch phần lá trên cùng của cây được chọn để hái.[60] Một cây trưởng thành cho lá trong vòng 7 đến 15 ngày trong mùa phát triển.
Nhiều loại trà được phân loại dựa theo từng lứa hái riêng biệt. Chẳng hạn, trà Darjeeling được chia thành trà lứa đầu (loại này thường có giá rất cao), lứa hai, lứa mùa mưa và lứa mùa thu. Riêng với trà Assam, lứa hái thứ hai – hay còn gọi là trà "tippy" (tức trà nhiều búp) – lại được xếp vào hàng thượng hạng, vượt trội hơn lứa đầu nhờ những búp non màu vàng óng xuất hiện trên lá.
Về mặt canh tác, cây chè có thể bị tấn công bởi nhiều loại dịch hại, trong đó có bọ xít muỗi thuộc chi Helopeltis. Cần lưu ý đây là loài thuộc bộ Cánh nửa (true bugs), không nên nhầm lẫn với các côn trùng bộ Hai cánh thuộc họ Culicidae (loài muỗi thông thường). Bọ xít muỗi gây hại cho lá chè thông qua cả việc chích hút nhựa cây lẫn đẻ trứng vào bên trong mô thực vật; trong trường hợp này, việc phun thuốc trừ sâu tổng hợp có thể được xem là biện pháp xử lý phù hợp.[61] Ngoài ra, các loài sâu ăn lá thuộc bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) và nhiều loại bệnh hại khác cũng là những đe dọa đối với sự phát triển của cây chè.
Thành phần hóa học
[sửa | sửa mã nguồn]Về mặt vật lý, trà mang đặc tính của cả dung dịch lẫn huyền phù. Nó là dung dịch chứa các hợp chất tan trong nước được chiết xuất từ lá trà, tiêu biểu là các nhóm polyphenol và axit amin.[62]
Caffeine chiếm khoảng 3% trọng lượng khô của trà; hàm lượng này tương đương 30 đến 90 miligam trong mỗi tách 250 ml, tùy thuộc vào chủng loại, thương hiệu[63] và phương pháp pha chế.[64] Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng hàm lượng caffeine trong một gam trà đen dao động từ 22 đến 28 mg, trong khi ở trà xanh là từ 11 đến 20 mg.[65] Ngoài ra, trà còn chứa một lượng nhỏ theobromine và theophylline, vốn là các hợp chất thuộc nhóm xanthine có tác dụng kích thích tương tự như caffeine.[66]
Vị chát đặc trưng của trà chủ yếu do sự hiện diện của các polyphenol. Đây là nhóm hợp chất dồi dào nhất trong lá trà, chiếm tới 30–40% thành phần cấu tạo.[67] Các polyphenol trong trà bao gồm flavonoid, epigallocatechin gallate (EGCG) và nhiều loại catechin khác.[68][69] Mặc dù đã có các nghiên cứu lâm sàng sơ bộ về khả năng phòng ngừa bệnh tật của trà xanh và trà đen, hiện vẫn chưa có bằng chứng xác thực nào khẳng định polyphenol trong trà có tác dụng trực tiếp đối với sức khỏe hay giúp làm giảm nguy cơ mắc bệnh ở người.[70][71]
Lợi ích sức khỏe
[sửa | sửa mã nguồn]Mặc dù trong suốt lịch sử tiêu thụ Camellia sinensis, con người luôn tin rằng thức uống này mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe, song hiện không có bằng chứng chất lượng cao nào xác nhận việc uống trà đem lại những lợi ích đáng kể, ngoại trừ khả năng gia tăng sự tỉnh táo nhờ hàm lượng caffeine trong lá.[72][73] Các nghiên cứu lâm sàng được thực hiện vào đầu thế kỷ 21 cũng khẳng định chưa có bằng chứng khoa học nào chỉ ra rằng việc tiêu thụ trà có tác động điều trị đối với bất kỳ loại bệnh nào hay giúp cải thiện sức khỏe tổng thể.[74]
Về mặt dinh dưỡng, trà đen và trà xanh hầu như không chứa các dưỡng chất thiết yếu với hàm lượng đáng kể, ngoại trừ khoáng chất mangan. Một tách trà cung cấp khoảng 0,5 mg mangan.[75] Bên cạnh đó, florua đôi khi cũng xuất hiện trong trà. Đặc biệt, một số loại "trà bánh" (brick tea) được làm từ lá già và cành cây thường chứa hàm lượng florua cao, đủ để gây rủi ro cho sức khỏe nếu tiêu thụ quá nhiều.[76]
Sản xuất
[sửa | sửa mã nguồn]Năm 2003, sản lượng lá trà trên thế giới hàng năm là 3,21 triệu tấn.[77] Đến năm 2010, sản lượng trà của thế giới vượt mức 4,52 triệu tấn.[77] Nước sản xuất lớn nhất là Trung Quốc, Ấn Độ, Kenya, Sri Lanka, và Thổ Nhĩ Kỳ.
Bảng dưới đây thể hiện sản lượng lá trà (tấn) xếp theo các nước sản xuất nhiều nhất. Dữ liệu theo FAO của Liên Hợp Quốc đến tháng 2 năm 2012.[77]
| Hạng | Quốc gia[77] | 2008 | 2009 | 2010 | 2011 |
|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 1.274.984 | 1.375.780 | 1.467.467 | 1.640.310 | |
| 2 | 987.000 | 972.700 | 991.180 | 1.063.500 | |
| 3 | 345.800 | 314.100 | 399.000 | 377.912 | |
| 4 | 318.700 | 290.000 | 282.300 | 327.500 | |
| 5 | 198.046 | 198.601 | 235.000 | 221.600 | |
| 6 | 173.500 | 185.700 | 198.466 | 206.600 | |
| 7 | 165.717 | 165.717 | 165.717 | 162.517 | |
| 8 | 150.851 | 146.440 | 150.000 | 142.400 | |
| 9 | 80.142 | 71.715 | 88.574 | 96.572 | |
| 10 | 96.500 | 86.000 | 85.000 | 82.100 | |
| Tổng | Thế giới | 4.211.397 | 4.242.280 | 4.518.060 | 4.321.011 |
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]- Trà (thực vật)
- Trà sen
- Nấm thủy sâm, thức uống được sản xuất từ vi khuẩn và nấm men được trồng trên trà
- Ngày Chè Quốc tế
Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ Fuller, Thomas (ngày 21 tháng 4 năm 2008). "A Tea From the Jungle Enriches a Placid Village". The New York Times. New York. tr. A8.
- ^ a b c Mair & Hoh 2009, tr. 29–30.
- ^ Macfarlane, Alan; Macfarlane, Iris (2004). The Empire of Tea. The Overlook Press. tr. 32. ISBN 978-1-58567-493-0.
- ^ Saikia, Gautam Kumar (ngày 19 tháng 9 năm 2021). "Origin And Distribution Of The Tea Plant". teaorb.com. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2023.
- ^ "Yunnan da Bai Silver Needles – Tea Trekker".
- ^ Liu et al. (2012)
- ^ Su, Mong-Huai; Hsieh, Chang-Fu; Tsou, Chih-Hua (2009). "The confirmation of Camellia formosensis (Theaceae) as an independent species based on DNA sequence analyses" (PDF). Botanical Studies. 50: 477–485 – qua eJournal.
- ^ Saikia, Gautam Kumar (ngày 19 tháng 9 năm 2021). "Origin And Distribution Of The Tea Plant". teaorb.com. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2023.
- ^ Bennett Alan Weinberg; Bonnie K. Bealer (2001). The World of Caffeine: The Science and Culture of the World's Most Popular Drug. Psychology Press. tr. 63. ISBN 978-0-415-92722-2. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2016.
- ^ Saikia, Gautam Kumar (ngày 19 tháng 9 năm 2021). "Origin And Distribution Of The Tea Plant". teaorb.com. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2023.
- ^ Meegahakumbura, MK; Wambulwa, MC; Thapa, KK; và đồng nghiệp (2016). "Indications for three independent domestication events for the tea plant (Camellia sinensis (L.) O. Kuntze) and new insights into the origin of tea germplasm in China and India revealed by nuclear microsatellites". PLOS ONE. 11 (5) e0155369. Bibcode:2016PLoSO..1155369M. doi:10.1371/journal.pone.0155369. PMC 4878758. PMID 27218820.
- ^ Meegahakumbura MK, Wambulwa MC, Li MM, và đồng nghiệp (2018). "Domestication origin and breeding history of the tea plant (Camellia sinensis) in China and India based on nuclear microsatellites and cpDNA sequence data". Frontiers in Plant Science. 8 2270. Bibcode:2018FrPS....8.2270M. doi:10.3389/fpls.2017.02270. PMC 5788969. PMID 29422908.
- ^ Meegahakumbura, MK; Wambulwa, MC; Thapa, KK; và đồng nghiệp (2016). "Indications for three independent domestication events for the tea plant (Camellia sinensis (L.) O. Kuntze) and new insights into the origin of tea germplasm in China and India revealed by nuclear microsatellites". PLOS ONE. 11 (5) e0155369. Bibcode:2016PLoSO..1155369M. doi:10.1371/journal.pone.0155369. PMC 4878758. PMID 27218820.
- ^ Meegahakumbura MK, Wambulwa MC, Li MM, và đồng nghiệp (2018). "Domestication origin and breeding history of the tea plant (Camellia sinensis) in China and India based on nuclear microsatellites and cpDNA sequence data". Frontiers in Plant Science. 8 2270. Bibcode:2018FrPS....8.2270M. doi:10.3389/fpls.2017.02270. PMC 5788969. PMID 29422908.
- ^ Meegahakumbura, MK; Wambulwa, MC; Thapa, KK; và đồng nghiệp (2016). "Indications for three independent domestication events for the tea plant (Camellia sinensis (L.) O. Kuntze) and new insights into the origin of tea germplasm in China and India revealed by nuclear microsatellites". PLOS ONE. 11 (5) e0155369. Bibcode:2016PLoSO..1155369M. doi:10.1371/journal.pone.0155369. PMC 4878758. PMID 27218820.
- ^ Meegahakumbura MK, Wambulwa MC, Li MM, và đồng nghiệp (2018). "Domestication origin and breeding history of the tea plant (Camellia sinensis) in China and India based on nuclear microsatellites and cpDNA sequence data". Frontiers in Plant Science. 8 2270. Bibcode:2018FrPS....8.2270M. doi:10.3389/fpls.2017.02270. PMC 5788969. PMID 29422908.
- ^ Yee, L.K., Tea's Wonderful History, The Chinese Historical and Cultural Project, Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 8 năm 2002, truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2013,
year 1996–2012
- ^ Driem, George van (2019). "The Primordial Origins of Tea". The tale of tea: a comprehensive history of tea from prehistoric times to the present day (bằng tiếng Anh). Leiden; Boston: Brill. tr. 20. ISBN 978-90-04-38625-9.
- ^ Heiss & Heiss 2007, tr. 6–7.
- ^ Yee, L.K., Tea's Wonderful History, The Chinese Historical and Cultural Project, Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 8 năm 2002, truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2013,
year 1996–2012
- ^ Mair & Hoh 2009, tr. 264–65.
- ^ Driem, George van (2019). "The Primordial Origins of Tea". The tale of tea: a comprehensive history of tea from prehistoric times to the present day (bằng tiếng Anh). Leiden; Boston: Brill. tr. 20. ISBN 978-90-04-38625-9.
- ^ Driem, George van (2019). "The Primordial Origins of Tea". The tale of tea: a comprehensive history of tea from prehistoric times to the present day (bằng tiếng Anh). Leiden; Boston: Brill. tr. 20. ISBN 978-90-04-38625-9.
- ^ Driem, George van (2019). "The Primordial Origins of Tea". The tale of tea: a comprehensive history of tea from prehistoric times to the present day (bằng tiếng Anh). Leiden; Boston: Brill. tr. 20. ISBN 978-90-04-38625-9.
- ^ Driem, George van (2019). "The Primordial Origins of Tea". The tale of tea: a comprehensive history of tea from prehistoric times to the present day (bằng tiếng Anh). Leiden; Boston: Brill. tr. 20. ISBN 978-90-04-38625-9.
- ^ Mair & Hoh 2009, tr. 30–31.
- ^ Driem, George van (2019). "The Primordial Origins of Tea". The tale of tea: a comprehensive history of tea from prehistoric times to the present day (bằng tiếng Anh). Leiden; Boston: Brill. tr. 20. ISBN 978-90-04-38625-9.
- ^ a b Benn 2015, tr. 42.
- ^ Driem, George van (2019). "The Primordial Origins of Tea". The tale of tea: a comprehensive history of tea from prehistoric times to the present day (bằng tiếng Anh). Leiden; Boston: Brill. tr. 20. ISBN 978-90-04-38625-9.
- ^ Scott Pearce; Audrey G. Spiro; Patricia Buckley Ebrey, biên tập (2001). Culture and Power in the Reconstitution of the Chinese Realm, 200–600. Harvard University Asia Center. tr. 22. ISBN 0-674-00523-6.
- ^ Benn 2015, tr. 22.
- ^ Miranda Brown (ngày 2 tháng 3 năm 2022). "The Medieval Influencer Who Convinced the World to Drink Tea—Not Eat It". Atlas Obscura.
- ^ Albert E. Dien (2007). Six Dynasties Civilization. Yale University Press. tr. 362. ISBN 978-0-300-07404-8.
- ^ Mair & Hoh 2009, tr. 39–41.
- ^ Mair & Hoh 2009, tr. 118.
- ^ Bennett Alan Weinberg; Bonnie K. Bealer (2001). The World of Caffeine: The Science and Culture of the World's Most Popular Drug. Psychology Press. tr. 63. ISBN 978-0-415-92722-2. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2016.
- ^ Mair & Hoh 2009, tr. 165.
- ^ Mair & Hoh 2009, tr. 106.
- ^ Mair & Hoh 2009, tr. 169.
- ^ "Russian Tea History". www.apollotea.com. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2019.
- ^ Great Soviet Encyclopedia. Советская энциклопедия. 1978. tr. vol. 29, p. 11.
- ^ "Russian Tea History". www.apollotea.com. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2019.
- ^ Peter Mundy Merchant Adventurer, 2011, ed.
- ^ "Russian Tea History". www.apollotea.com. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2019.
- ^ "Russian Tea History". www.apollotea.com. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2019.
- ^ "Russian Tea History". www.apollotea.com. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2019.
- ^ Colleen Taylor Sen (2004). Food Culture in India. Greenwood Publishing Group. tr. 26. ISBN 978-0-313-32487-1. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2016.
Ironically, it was the British who introduced tea drinking to India, initially to anglicized Indians. Tea did not become a mass drink there until the 1950s when the India Tea Board, faced with a surplus of low-grade tea, launched an advertising campaign to popularize it in the north, where the drink of choice was milk.
- ^ Mair & Hoh 2009, tr. 214.
- ^ Sarah Rose (2010). For All the Tea in China. Penguin Books. tr. 1–5, 89, 122, 197.
- ^ Colleen Taylor Sen (2004). Food Culture in India. Greenwood Publishing Group. tr. 26. ISBN 978-0-313-32487-1. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2016.
Ironically, it was the British who introduced tea drinking to India, initially to anglicized Indians. Tea did not become a mass drink there until the 1950s when the India Tea Board, faced with a surplus of low-grade tea, launched an advertising campaign to popularize it in the north, where the drink of choice was milk.
- ^ "TED Case Studies – Ceylon Tea". American University, Washington, DC. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2013.
- ^ a b c "Camellia Sinensis". Purdue University Center for New Crops and Plants Products. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2010.
- ^ Turner, Robin (ngày 3 tháng 10 năm 2009). "Duo plant tea in Wales". Wales Online. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2011.
- ^ "Tea" (PDF). The Compendium of Washington Agriculture. Washington State Commission on Pesticide Registration. 2010. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 10 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2011.
- ^ Jim Rolfe & Yvonne Cave (2003). Camellias: A Practical Gardening Guide. Timber Press. ISBN 0-88192-577-2.
- ^ Pruess, Joanna (2006). Tea Cuisine: A New Approach to Flavoring Contemporary and Traditional Dishes. Globe Pequot. ISBN 1-59228-741-7.
- ^ "Các loại chè Thái Nguyên phổ biến và cao cấp hiện nay - Trà Tân Cương Thái Nguyên". ngày 13 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2025.
- ^ Mondal, T.K. (2007). "Tea". Trong Pua, E.C.; Davey, M.R. (biên tập). Biotechnology in Agriculture and Forestry. Quyển 60: Transgenic Crops V. Berlin: Springer. tr. 519–520. ISBN 3-540-49160-0.
- ^ Britannica Tea Cultivation. Truy cập June 2007.
- ^ Elizabeth S. Hayes (1980). Spices and Herbs: Lore and Cookery. Courier Dover Publications. tr. 74. ISBN 0-486-24026-6.
- ^ Saikia, Gautam Kumar (ngày 19 tháng 9 năm 2021). "Origin And Distribution Of The Tea Plant". teaorb.com. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2023.
- ^ Yang, Ziyin; Baldermann, Susanne; Watanabe, Naoharu (ngày 1 tháng 10 năm 2013). "Recent studies of the volatile compounds in tea". Food Research International. Tea – from bushes to mugs: composition, stability and health aspects. 53 (2): 585–599. doi:10.1016/j.foodres.2013.02.011. ISSN 0963-9969.
- ^ Yang, Ziyin; Baldermann, Susanne; Watanabe, Naoharu (ngày 1 tháng 10 năm 2013). "Recent studies of the volatile compounds in tea". Food Research International. Tea – from bushes to mugs: composition, stability and health aspects. 53 (2): 585–599. doi:10.1016/j.foodres.2013.02.011. ISSN 0963-9969.
- ^ Yang, Ziyin; Baldermann, Susanne; Watanabe, Naoharu (ngày 1 tháng 10 năm 2013). "Recent studies of the volatile compounds in tea". Food Research International. Tea – from bushes to mugs: composition, stability and health aspects. 53 (2): 585–599. doi:10.1016/j.foodres.2013.02.011. ISSN 0963-9969.
- ^ Yang, Ziyin; Baldermann, Susanne; Watanabe, Naoharu (ngày 1 tháng 10 năm 2013). "Recent studies of the volatile compounds in tea". Food Research International. Tea – from bushes to mugs: composition, stability and health aspects. 53 (2): 585–599. doi:10.1016/j.foodres.2013.02.011. ISSN 0963-9969.
- ^ Yang, Ziyin; Baldermann, Susanne; Watanabe, Naoharu (ngày 1 tháng 10 năm 2013). "Recent studies of the volatile compounds in tea". Food Research International. Tea – from bushes to mugs: composition, stability and health aspects. 53 (2): 585–599. doi:10.1016/j.foodres.2013.02.011. ISSN 0963-9969.
- ^ Yang, Ziyin; Baldermann, Susanne; Watanabe, Naoharu (ngày 1 tháng 10 năm 2013). "Recent studies of the volatile compounds in tea". Food Research International. Tea – from bushes to mugs: composition, stability and health aspects. 53 (2): 585–599. doi:10.1016/j.foodres.2013.02.011. ISSN 0963-9969.
- ^ Yang, Ziyin; Baldermann, Susanne; Watanabe, Naoharu (ngày 1 tháng 10 năm 2013). "Recent studies of the volatile compounds in tea". Food Research International. Tea – from bushes to mugs: composition, stability and health aspects. 53 (2): 585–599. doi:10.1016/j.foodres.2013.02.011. ISSN 0963-9969.
- ^ Yang, Ziyin; Baldermann, Susanne; Watanabe, Naoharu (ngày 1 tháng 10 năm 2013). "Recent studies of the volatile compounds in tea". Food Research International. Tea – from bushes to mugs: composition, stability and health aspects. 53 (2): 585–599. doi:10.1016/j.foodres.2013.02.011. ISSN 0963-9969.
- ^ "Green Tea". National Center for Complementary and Integrative Health, US National Institutes of Health, Bethesda, MD. 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2014.
- ^ Yang, Ziyin; Baldermann, Susanne; Watanabe, Naoharu (ngày 1 tháng 10 năm 2013). "Recent studies of the volatile compounds in tea". Food Research International. Tea – from bushes to mugs: composition, stability and health aspects. 53 (2): 585–599. doi:10.1016/j.foodres.2013.02.011. ISSN 0963-9969.
- ^ "Black tea". MedlinePlus, US National Library of Medicine. ngày 30 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2018.
- ^ "Green Tea". National Center for Complementary and Integrative Health, US National Institutes of Health, Bethesda, MD. 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2014.
- ^ "Black tea". MedlinePlus, US National Library of Medicine. ngày 30 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2018.
- ^ "Tea, brewed, prepared with tap water [black tea], one cup, USDA Nutrient Tables, SR-21". Conde Nast. 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2014.
- ^ "Tea, brewed, prepared with tap water [black tea], one cup, USDA Nutrient Tables, SR-21". Conde Nast. 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2014.
- ^ a b c d Food and Agriculture Organization of the United Nations—Production FAOSTAT Lưu trữ ngày 15 tháng 11 năm 2011 tại Wayback Machine. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2010.
=Tài liệu
[sửa | sửa mã nguồn]- Claud Bald: Indian Tea. A Textbook on the Culture and Manufacture of Tea. Fifth Edition. Thoroughly Revised and Partly Rewritten by C.J. Harrison. Thacker, Spink & Co., Calcutta 1940 (first edition, 1933).
- Kit Chow, Ione Kramer (1990): All the Tea in China, China Books & Periodicals Inc. ISBN 0-8351-2194-1 References are to Czech translation by Michal Synek (1998): Všechny čaje Číny, DharmaGaia Praha. ISBN 80-85905-48-5
- Cook, Eleanor. A Reader's Guide to Wallace Stevens. 2007: Princeton University Press.
- John C. Evans (1992): Tea in China: The History of China's National Drink, Greenwood Press. ISBN 0-313-28049-5
- Harler, C.R.: The Culture and Marketing of Tea. Second edition. Oxford University Press, New York and Bombay, Reprinted 1958 (First edition 1933, second edition 1956).
- Eelco Hesse (1982), Tea: The eyelids of Bodhidharma, Prism Press.
- Hobhouse, Henry (2005). "Seeds of Change: Six Plants that Transformed Mankind". Shoemaker & Hoard. ISBN 1-59376-049-3.
{{Chú thích tạp chí}}: Chú thích magazine cần|magazine=(trợ giúp) - Lu Yu (陆羽): Cha Jing (茶经) (The classical book on tea). References are to Czech translation of modern-day edition (1987) by Olga Lomová (translator): Kniha o čaji. Spolek milců čaje, Praha, 2002. (in Czech)
- Roy Moxham (2003), Tea: Addiction, Exploitation, and Empire
- Nye, Gideon (1850). Tea: and the tea trade Parts first and second. New York: Printed by G.W. Wood.
- Jane Pettigrew (2002), A Social History of Tea
- Stephan Reimertz (1998): Vom Genuß des Tees: Eine heitere Reise durch alte Landschaften, ehrwürdige Traditionen und moderne Verhältnisse, inklusive einer kleinen Teeschule (In German)
- Yamamoto, T; Kim, M; Juneja, L R (1997). "Chemistry and Applications of Green Tea". CRC Press.
{{Chú thích tạp chí}}: Chú thích magazine cần|magazine=(trợ giúp). - James Norwood Pratt (2005), Tea Dictionary
- Kiple, Kenneth F.; Ornelas, Kriemhild Coneè, biên tập (2000). The Cambridge World History of Food. Quyển 1. Cambridge: Cambridge University Press. ISBN 0521402166..
- Mondal, T.K. (2007). "Tea". Trong Pua, E.C.; Davey, M.R. (biên tập). Biotechnology in Agriculture and Forestry. Quyển 60: Transgenic Crops V. Berlin: Springer. tr. 519–535. ISBN 3540491600..
- Sanyal, Amitava (ngày 13 tháng 4 năm 2008). "How India came to be the largest tea drinking nation". Hindustan Times. New Delhi. tr. 12. [liên kết hỏng].
- Karmakar, Rahul (ngày 13 tháng 4 năm 2008). "The Singpho: The cup that jeers". Hindustan Times. New Delhi. tr. 12. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2011..
- Lester Packer, Choon Nam Ong, Barry Halliwell (2004): Herbal and Traditional Medicine: Molecular Aspects of Health, CRC Press, ISBN 0-8247-5436-0
- Nutrition, CS (1999). "Tea and Health". Nutrition (Burbank, Los Angeles County, Calif.). Quyển 15 số 11–12. tr. 946–949. PMID 10575676.
- Journal of Epidemiology and Community Health, M; Tunstall-Pedoe, H (1999). "Coffee and tea consumption in the Scottish Heart Health Study follow up: conflicting relations with coronary risk factors, coronary disease, and all cause mortality". Journal of epidemiology and community health. Quyển 53 số 8. tr. 481–487. doi:10.1136/jech.53.8.481. ISSN 0143-005X. PMC 1756940. PMID 10562866.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]
Tư liệu liên quan tới Tea tại Wikimedia Commons- Trà trên DMOZ
- Tea trên chương trình In Our Time của BBC. (Nghe tại đây)
- Hiệp hội trà Việt Nam
- Hiệp hội trà xanh thế giới
- ^ Trà thảo mộc không được làm từ Camellia sinensis vì vậy về mặt kỹ thuật không được gọi là trà.