Protein

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hình mô phỏng cấu trúc không gian của myoglobin, trong đó mỗi vòng xoắn alpha được tô các màu khác nhau. Cấu trúc tinh thể của protein này được Max PerutzSir John Cowdery Kendrew xây dựng vào năm 1958, sau đó nhóm tác giả đã được nhận Giải Nobel về hoá học.
Cấu trúc chung của axit amin

Protein phát âm tiếng Việt: Prồ-tê-in (Protein) là những đại phân tử được cấu tạo theo nguyên tắc đa phân mà các đơn phân là axít amin. Chúng kết hợp với nhau thành một mạch dài nhờ các liên kết peptide (gọi là chuỗi polypeptide). Các chuỗi này có thể xoắn cuộn hoặc gấp theo nhiều cách để tạo thành các bậc cấu trúc không gian khác nhau của protein.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tất cả các tế bào sống đều chứa chất protid, điều đó có nghĩa protid là chất cần thiết cho sự sống. Nó tham gia vào thành phần mỗi một tế bào và là yếu tố tạo hình chính. Vì vậy người ta cho rằng protid là thành phần quan trọng nhất trong các vật chất của sự sống, cho nên trong tiếng Anh protid hay protein có nguồn gốc từ chữ Hy Lạp là "Protos", có nghĩa là trước nhất, quan trọng nhất.

Cấu trúc của Protein[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Cấu trúc protein

Protein là một hợp chất đại phân tử được tạo thành từ rất nhiều các đơn phân là các axit amin. Axit amin được cấu tạo bởi ba thành phần: một là nhóm amin (-NH2), hai là nhóm cacboxyl (-COOH) và cuối cùng là nguyên tử cacbon trung tâm đính với 1 nguyên tử hyđro và nhóm biến đổi R quyết định tính chất của axit amin. Người ta đã phát hiện ra được tất cả 20 axit amin trong thành phần của tất cả các loại protein khác nhau trong cơ thể sống. Các axit amin được liệt kê đầy đủ dưới bảng sau:

Tên axit amin Viết tắt Tính chất
Glycine Gly Không phân cực, kỵ nước
Alanine Ala
Valine Val
Leucine Leu
Isoleucine Ile
Methionine Met
Phenylalanine Phe
Tryptophan Trp
Proline Pro
Serine Ser Phân cực, ưa nước
Threonine Thr
Cysteine Cys
Tyrosine Tyr
Asparagine Asn
Glutamine Gln
Aspartic acid Asp Tích điện (axit)
Glutamic acid Glu
Lysine Lys Tích điện (bazơ)
Arginine Arg
Histidine His

Đơn vị tạo thành cơ bản của protein là các axit amin. Trong cơ thể con người có hơn 20 loại axit amin, thành phần và số lượng axit amin của mỗi loại protein không giống nhau do đó hình thành nên hàng nghìn các protein khác nhau. Mặc dù cơ thể con người cần tất cả các axit amin, nhưng phần lớn các axit amin là do cơ thể tự tổng hợp được hoặc do các axit amin khác chuyển hóa thành, do đó trên thực tế các axit amin mà cơ thể người trưởng thành cần hấp thụ qua thức ăn chỉ có 8 loại, còn trẻ em là 9 loại, là những chất được cho rằng là axit amin thiết yếu.

  • Các bậc cấu trúc của protein

Người ta phân biệt ra 4 bậc cấu trúc của protein.

    • Cấu trúc bậc một: Các axit amin nối với nhau bởi liên kết peptit hình thành nên chuỗi polypeptide. Đầu mạch polypeptide là nhóm amin của axit amin thứ nhất và cuối mạch là nhóm carboxyl của axit amin cuối cùng. Cấu trúc bậc một của protein thực chất là trình tự sắp xếp của các axit amin trên chuỗi polypeptide. Cấu trúc bậc một của protein có vai trò tối quan trọng vì trình tự các axit amin trên chuỗi polypeptide sẽ thể hiện tương tác giữa các phần trong chuỗi polypeptide, từ đó tạo nên hình dạng lập thể của protein và do đó quyết định tính chất cũng như vai trò của protein. Sự sai lệch trong trình tự sắp xếp của các axit amin có thể dẫn đến sự biến đổi cấu trúc và tính chất của protein.
    • Cấu trúc bậc hai: là sự sắp xếp đều đặn các chuỗi polypeptide trong không gian. Chuỗi polypeptide thường không ở dạng thẳng mà xoắn lại tạo nên cấu trúc xoắn α và cấu trúc nếp gấp β, được cố định bởi các liên kết hyđro giữa những axit amin ở gần nhau. Các protein sợi như keratin, collagen... (có trong lông, tóc, móng, sừng)gồm nhiều xoắn α, trong khi các protein cầu có nhiều nếp gấp β hơn.
    • Cấu trúc bậc ba: Các xoắn α và phiến gấp nếp β có thể cuộn lại với nhau thành từng búi có hình dạng lập thể đặc trưng cho từng loại protein. Cấu trúc không gian này có vai trò quyết định đối với hoạt tính và chức năng của protein. Cấu trúc này lại đặc biệt phụ thuộc vào tính chất của nhóm -R trong các mạch polypeptide. Chẳng hạn nhóm -R của cysteine có khả năng tạo cầu đisulfur (-S-S-), nhóm -R của proline cản trở việc hình thành xoắn, từ đó vị trí của chúng sẽ xác định điểm gấp, hay những nhóm -R ưa nước thì nằm phía ngoài phân tử, còn các nhóm kị nước thì chui vào bên trong phân tử... Các liên kết yếu hơn như liên kết hydro hay điện hóa trị có ở giữa các nhóm -R có điện tích trái dấu.
    • Cấu trúc bậc bốn: Khi protein có nhiều chuỗi polypeptide phối hợp với nhau thì tạo nên cấu trúc bậc bốn của protein. Các chuỗi polypeptide liên kết với nhau nhờ các liên kết yếu như liên kết hyđro.

Chức năng của protein[sửa | sửa mã nguồn]

Loại protein Chức năng Ví dụ
Protein cấu trúc Cấu trúc, nâng đỡ CollagenElastin tạo nên cấu trúc sợi rất bền của mô liên kết, dây chẳng, gân. Keratin tạo nên cấu trúc chắc của da, lông, móng. Protein tơ nhện, tơ tằm tạo nên độ bền vững của tơ nhện, vỏ kén
Protein Enzyme Xúc tác sinh học: tăng nhanh, chọn lọc các phản ứng sinh hóa Các Enzyme thủy phân trong dạ dày phân giải thức ăn, Enzyme Amylase trong nước bọt phân giải tinh bột chín, Enzyme Pepsin phân giải Protein, Enzyme Lipase phân giải Lipid
Protein Hormone Điều hòa các hoạt động sinh lý Hormone InsulinGlucagon do tế bào đảo tụy thuộc tuyến tụy tiết ra có tác dụng điều hòa hàm lượng đường Glucose trong máu động vật có xương sống
Protein vận chuyển Vận chuyển các chất Huyết sắc tố Hemoglobin có chứa trong hồng cầu động vật có xương sống có vai trò vận chuyển Oxy từ phổi theo máu đi nuôi các tế bào
Protein vận động Tham gia vào chức năng vận động của tế bào và cơ thể Actinin, Myosin có vai trò vận động cơ. Tubulin có vai trò vận động lông, roi của các sinh vật đơn bào
Protein thụ quan Cảm nhận, đáp ứng các kích thích của môi trường Thụ quan màng của tế bào thần kinh khác tiết ra (chất trung gian thần kinh) và truyền tín hiệu
Protein dự trữ Dự trữ chất dinh dưỡng Albumin lòng trắng trứng là nguồn cung cấp axit amin cho phôi phát triển. Casein trong sữa mẹ là nguồn cung cấp Acid Amin cho con. Trong hạt cây có chứa nguồn protein dự trữ cần cho hạt nảy mầm

Sự biến tính của protein[sửa | sửa mã nguồn]

Khái niệm sự biến tính[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới tác dụng của các tác nhân vật lý như tia cực tím, sóng siêu âm, khuấy cơ học... hay tác nhân hóa học như axit, kiềm mạnh, muối kim loại nặng,... các cấu trúc bậc hai, ba và bậc bốn của protein bị biến đổi nhưng không phá vỡ cấu trúc bậc một của nó, kèm theo đó là sự thay đổi các tính chất của protein so với ban đầu. Đó là hiện tượng biến tính protein. Sau khi bị biến tính, protein thường thu được các tính chất sau:

  • Độ hòa tan giảm do làm lộ các nhóm kỵ nước vốn đã chui vào bến trong phân tử protein
  • Khả năng giữ nước giảm
  • Mất hoạt tính sinh học ban đầu
  • Tăng độ nhạy đối với sự tấn công của enzim proteaza do làm xuất hiện các liên kết peptit ứng với trung tâm hoạt động của proteaza
  • Tăng độ nhớt nội tại
  • Mất khả năng kết tinh

Tính kỵ nước của protein[sửa | sửa mã nguồn]

  • Do các gốc kỵ nước của các acid amin(aa) trong chuỗi polipeptit của protein hướng ra ngoài các gốc này liên kết với nhau tạo liên kết kỵ nước.
  • độ kỵ nước có thể giải thích như sau: do các gốc aa có chứa các gốc R- không phân cực nên nó không có khả năng tác dụng với nước.

VD: chúng ta có các aa trong nhóm 7aa không phân cực: glysin, alanin, valin, prolin, methionin, lơxin, isoloxin chúng không tác dụng với nước.

Tính kỵ nước sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến tính tan của protein. VD: có 7aa liên kết peptit với nhau, trong đó có 3aa không phân cực(kỵ nước) nếu như các aa này cùng nằm ở 1 đầu thì tính tan sẽ giảm so với khi các aa này đứng xen kẽ nhau trong liên kết đó

Tính chất của dung dịch keo[sửa | sửa mã nguồn]

Khi hoà tan protein thành dung dịch keo thì nó không đi qua màng bán thấm.

Hai yếu tố đảm bảo độ bền của dung dịch keo:

  • Sự tích điện cùng dấu của các protein.
  • Lớp vỏ hidrat bao quanh phân tử protein.

Có 2 dạng kết tủa: kết tủa thuận nghịch va không thuận nghịch:

  • Kết tủa thuận nghịch: sau khi chúng ta loại bỏ các yếu tố gây kết tủa thì protein vẫn có thể trở lại trạng thái dung dịch keo bền như ban đầu.
  • Kết tủa không thuận nghịch: là sau khi chúng ta loại bỏ các yếu tố gây kết tủa thì protein không trở về trạng thái dung dịch keo bền vững như trước nữa.

Tính chất điện ly lưỡng tính[sửa | sửa mã nguồn]

Acid amin có tính chất lưỡng tính vì trong aa có chứa cả gốc axit(COO-) và gốc bazo(NH2-) suy ra protein cung có tính chất lưỡng tính.

Vai trò của protein đối với sự sống[sửa | sửa mã nguồn]

Là chất nền tảng tạo nên sức sống của cơ thể[sửa | sửa mã nguồn]

Protein đóng vai trò chính trong việc sản sinh và tái tại hệ mô. Ví dụ, phục hồi vết thương hoặc vết bỏng, hay giúp tóc mọc lại sau khi cắt tỉa. Các tế bào và hệ thống không thể được tái tạo nếu không có protein - Protein là yếu tố tạo hình chính, tham gia vào thành phần các cơ bắp, máu, bạch huyết, hocmôn, men, kháng thể, các tuyến bài tiết và nội tiết. Cơ thể bình thường chỉ có mật và nước tiểu không chứa protein. Do vai trò này, protein có liên quan đến mọi chức nǎng sống của cơ thể (tuần hoàn, hô hấp, sinh dục, tiêu hóa, bài tiết hoạt động thần kinh và tinh thần...).

Tham gia vận chuyển các chất dinh dưỡng và kích thích ngon miệng[sửa | sửa mã nguồn]

Protein kích thích sự thèm ǎn và vì thế nó giữ vai trò chính tiếp nhận các chế độ ǎn khác nhau. Thiếu protein gây ra các rối loạn quan trọng trong cơ thể như ngừng lớn hoặc chậm phát triển, mỡ hóa gan, rối loạn hoạt động nhiều tuyến nội tiết (giáp trạng, sinh dục), thay đổi thành phần protein máu, giảm khả nǎng miễn dịch sinh học của cơ thể và tǎng tính cảm thụ của cơ thể với các bệnh nhiễm khuẩn. Tình trạng suy dinh dưỡng do thiếu protein đã ảnh hưởng đến sức khỏe trẻ em ở nhiều nơi trên thế giới.

Điều hòa chuyển hóa nước và duy trì thăng bằng kiềm tan[sửa | sửa mã nguồn]

Protein có nhiệm vụ điều chỉnh mật độ của các chất trong cơ thể dưới dạng nước. Nhờ tính hút nước, protein giúp duy trì sự cân bằng chất lỏng trong tế bào. Protein cũng giúp chuyển hóa các chất như muối, Ka-li và chất điện phân trong và ngoài cơ thể.

Là chất bảo vệ cơ thể[sửa | sửa mã nguồn]

Protein là một thành phần chính của các tế bào bạch cầu, có nhiệm vụ chống lại vi khuẩn. Vì vậy Protein rất cần thiết để đẩy lùi tình trạng nhiễm trùng và các loại bệnh. Đây cũng là dưỡng chất cần thiết cho sự hình thành kháng thể.

Các cơ bắp, xương cốt và nội tạng cơ thể chủ yếu đều do protein tạo thành. Protein chính là thứ vật chất đã phát huy tác dụng quan trọng trong hoạt động của cơ thể, đồng thời còn đóng vai trò chất kích thích miễn dịch trong cơ thể, là thành phần cung cấp vitamin, vật chất miễn dịch và năng lượng cho cơ thể.

Cung cấp năng lượng[sửa | sửa mã nguồn]

Enzyme được sinh ra từ protein và có nhiệm vụ chuyển hóa thức ăn thành năng lượng. Vì vậy, protein có tác động trực tiếp lên quá trình sản sinh năng lượng của cơ thể. Protein cũng là thành phần chủ chốt trong hormone, ảnh hưởng đến đường huyết và sự trao đổi chất của cơ thể.

Protein thường cung cấp 10%-15% nǎng lượng của khẩu phần, 1g protein đốt cháy trong cơ thể cho 4 Kcal, nhưng về mặt tạo hình không có chất dinh dưỡng nào có thể thay thế protein

Giá trị dinh dưỡng của protein[sửa | sửa mã nguồn]

Vai trò của protein trong dinh dưỡng người[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi loại tế bào đều có chất protein chính nó. Thành phần của protein là axit amin. Hiện đã biết có hơn 21 loại axit amin. Trong axit amin có chứa cacbon, hydro, oxy và nitơ, các axit amin khác nhau có thể qua các hình thức tổ hợp khác nhau cấu tạo nên những protein khác nhau. Có vài nghìn loại protein. Chẳng hạn, chất protein trong thịt là loại protein ta đã biết. Thế nhưng, trong thịt có chứa ít nhất là 12 đến 15 loại protein.

Thức ăn có chứa protein, là những loại thức ăn rất quan trọng đối với cơ thể người, như sữa, trứng, thịt nạc, cá, đậu và một số loài ngũ cốc. Sở dĩ những thực phẩm đó quan trọng đối với loài người vì chúng có thể cung cấp những axit amin mà cơ thể người không thể tổng hợp được. Loài người nhất thiết phải hấp thu những axit amin đó từ thực phẩm họ ăn. Trên thực tế, những loại axit amin này gọi là axit amin tất yếu nghĩa là không có chúng thì con người không thể sống được.

Cơ thể con người tất phải có một lượng nhất định các axit amin nào đó. Protein thực vật, như protein trong cây họ đậu và trong các loại cốc không chứa đủ tất cả các axit amin tất yếu. Nếu một loại thực phẩm vừa chứa những protein của các thực vật kể trên, lại chứa cả protein của một số động vật, thì giá trị của thực phẩm thực vật đó sẽ rất cao.

Loài người không thể tích trữ axit amin trong cơ thể mình đề khi cần thì lấy ra dùng. Nghĩa là nói, con người cần phải đồng thời hấp thu vào cơ thể mình các loại axit amin tất yếu. Trong một bữa ăn, ta phải đồng thời ăn bánh mỳ và sữa bò, như vậy các axit amin do những thực phẩm đó cung cấp sẽ được cơ thể đồng thời sử dụng để tạo ra những tổ chức cơ thể mới.

  • Nuôi dưỡng da và tóc 90% thành phần của tóc và mô da là protein. Sự thiếu hụt protein sẽ khiến tóc trở nên giòn, dễ gãy và da xuất hiện các nếp nhăn.
  • Thành phần quan trọng của máu

Protein thường có trong các loại thực phẩm có nguồn gốc từ động thực vật, Tuy nhiên, protein động vật chứa hàm lượng chất béo cao. Vì thế, khi tiêu thụ với số lượng nhiều protein động vật sẽ góp phần làm tăng nguy cơ mắc bệnh của cơ thể như bệnh cao huyết áp và các bệnh về tim mạch.

Trong khi đó, protein từ thực vật(như gạo, ngũ cốc, các loại đậu, đặc biệt là đậu nành) có ít chất béo và được chứng minh giúp làm giảm lượng cholesterol trong máu và giảm nguy cơ mắc các bệnh trên. Do đó, việc kết hợp hài hòa giữa protein động vật và thức vật sẽ giúp bạn có được hỗn hợp protein tốt hơn cho sức khỏe.

Cơ thể và thực phẩm đều do các axit amin khác nhau tạo nên. Con người cần đến trên 20 loại axit amin, trong đó có 8 loại không thể tự có trong cơ thể, rất cần hấp thụ từ các món ăn, đó là isoleucin, leucin, valin, methionin, phenibalanin, threonin, tryptophan và lysin. Để thoả mãn nhu cầu protein do các axit amin tạo ra, mỗi ngày cơ thể cần ăn những món ăn có dinh dưỡng khác nhau với một lượng vừa đủ.

Nguồn protein trong thực phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Protein động vật và protein thực vật[sửa | sửa mã nguồn]

Có thể chia nguồn protein mà con người cần hấp thụ thành 2 loại lớn:

  • Protein động vật:

Thực phẩm nguồn gốc động vật (thịt, cá, trứng, sữa) là nguồn protein quý, nhiều về số lượng, và cân đối hơn về thành phần và đậm độ axit amin cần thiết cao

Loại thực phẩm có nhiều protein động vật nhất là thịt gà có 23,3g/100g. Các loại thuỷ hải sản có hàm lượng protein cao nhất, tiếp đến là các loại thịt, cá nước ngọt, sữa, trứng...

  • Protein thực vật:

Thực phẩm nguồn gốc thực vật (đậu tương, gạo, mì, ngô, các loại đậu khác...) là nguồn protein quan trọng. Hàm lượng axit amin cần thiết cao trong đậu tương còn các loại khác thì hàm lượng axit amin cần thiết không cao, tỉ lệ các axit amin kém cân đối hơn so với nhu cầu cơ thể. Nhưng việc có sẵn trong thiên nhiên một khối lượng lớn với giá rẻ nên protein thực vật có vai trò quan trọng đối với khẩu phần của con người

Thực phẩm có nhiều protein nhất là đậu vàng, cứ 100g thì có 36,6g, tiếp đến là các loại đậu khác, vừng, ngũ cốc...

Danh sách những thực phẩm giàu protein[sửa | sửa mã nguồn]

1. Trứng

Trứng chứa nhiều loại acid amin do protein cung cấp. Vì thế đây là nguồn protein lý tưởng nhất. Lòng trắng trứng là phần tốt nhất của quả trứng. Chỉ một cốc lòng trắng trứng chứa khoảng 26g protein. Nếu bạn đang giảm béo thì lòng trắng trứng là lời khuyên cho bạn. Nó cũng cung cấp năng lượng đủ để khiến bạn cảm thấy khỏe mạnh cả ngày.

2. Sữa và các chế phẩm từ sữa

Sữa là nguồn protein tuyệt vời. Cứ khoảng 28,5g sữa có chứa 1g protein. Ngoài việc cung cấp calci và vitamin cho cơ thể, protein trong sữa còn bổ sung năng lượng cho cơ thể và giúp phục hồi các mô cơ thể. Mỗi người nên uống ít nhất một cốc sữa mỗi ngày. Nếu không bạn có thể thay thế sữa đơn thuần bằng những sản phẩm thơm ngon hơn như sữa khuấy, pho mát, kem, sữa chua và các chế phẩm từ sữa khác.

3. Các loại hạt

Thay vì ăn khoai tây chiên và bánh khi đói, bạn có thể chuyển sang những sản phẩm lành mạnh hơn như các loại hạt. Hạnh nhân, quả óc chó, hạt điều, đậu phộng, tất cả đều có hàm lượng protein cao có lợi cho cơ thể. Các loại hạt rất giàu acid béo omega 3 và các acid amin giúp cơ bắp chắc khỏe và cũng rất tốt cho làn da của bạn.

4. Hải sản

Hải sản là sự lựa chọn protein tốt nhất cho bạn. Cá hồi, cá tuyết, cá ngừ và các loại hải sản có vỏ là những thực phẩm thật sự lành mạnh. Chúng chứa các acid omega 3 và 6, rất có lợi cho da và tóc của bạn.

5. Súp lơ xanh

Súp lơ xanh không chỉ ít chất béo mà còn là loại rau xanh chứa nhiều protein. Một chén súp lơ xanh tương đương với 4 gram protein. Súp lơ xanh có thể được chế biến theo nhiều cách: làm salad, luộc, nướng, chiên tùy theo sở thích của bạn.

6. Quả chà là

Quả chà là là loại quả mọc từ cây họ cọ. Chúng là loại thực phẩm lành mạnh chứa protein. Quả chà là không làm cho bạn béo, có thể dùng làm bữa ăn nhẹ và cũng có mùi vị rất thơm ngon.

7. Chuối

Loại trái cây nhiệt đới này không chỉ rất tốt cho tiêu hóa mà còn chứa nhiều protein giúp nó trở thành một phần thiết yếu trong thực đơn hàng ngày. Cứ mỗi 100g chuối sẽ có 4g protein. Chuối có thể cho vào khuấy với sữa, được ăn riêng hoặc kết hợp trong món salad trái cây.

8. Ngô ngọt

Cứ 100g ngô ngọt chứa khoảng 3g protein. Bạn có thể ăn ngộ luộc hoặc hấp, cũng có thể thêm vào món mì, salad và súp.

9. Rau bina

Một chén rau này chứa khoảng 5g protein cần thiết cho cơ thể. Không có gì đáng ngạc nhiên khi tầm quan trọng của loại rau này được phổ biến cho trẻ thậm chí qua phim hoạt hình.

10. Quả bơ

Không giống nhiều loại thực phẩm chứa protein khác, bơ rất dễ tiêu hóa. Có thể chế biến bơ thành món sinh tố thơm ngon bổ dưỡng với nhiều protein. Một số người cho rằng bơ chứa chất béo. Tuy nhiên, sự thật là bơ chỉ chứa chất béo lành mạnh cần thiết cho cơ thể bạn.

11. Táo

Bạn đã từng nghe câu: “Một quả táo mỗi ngày giúp tránh xa bác sĩ”. Có nhiều sự thật trong đó vì táo là món quà lành mạnh nhất bạn có thể mang đến cho cơ thể mỗi ngày. Nó chứa một lượng lớn protein và cũng có rất nhiều lợi ích sức khỏe. Táo giúp tăng cường khả năng miễn dịch để chống lại nhiều loại bệnh. Ăn táo cả vỏ là tốt hơn.

12. Thịt

Thịt tất cả các loài nói chung chứa nhiều nước, lượng nước lên tới 70-75%. Protit chiếm 15-20%, lượng lipit dao động nhiều (1-30%) tùy thuộc vào loại súc vật và độ béo của nó. Giá trị sinh học protein thịt 74%, độ đồng hóa protein thịt 96-97%. Trong thịt ngoài các protein có giá trị sinh học cao, còn có colagen và elastin là loại protein khó hấp thu, giá trị dinh dưỡng thấp vì thành phần của nó hầu như không có tryptophan và xystin là hai axit amin có giá trị cao. Loại này tập trung nhiều ở PHẦN THỊT BỤNG, THỦ, CHÂN GIÒ. COLAGEN khi đun nóng chuyển thành gelatin là chất đông keo. Còn elastin gần như không bị tác dụng của men phân giải protein. Vì vậy ăn vào và thải ra nguyên dạn.

Protein dạng bột[sửa | sửa mã nguồn]

Protein dạng bột là dạng nguyên chất được chiết suất từ sữa, đậu nành hoặc casein và được đóng hộp dưới dạng bột. Hiện nay việc sử dụng protein dạng bột được phổ biết ở các phòng tập thể hình vì những tác dụng tuyệt vời của nó trong việc phát triển cơ bắp. Khi sử dụng protein này giúp cho việc phát triển các khối cơ nhanh hơn việc sử dụng các loại thực phẩm.

Trên thị trường có rất nhiều loại protein dạng bột điển hình như: whey protein, casein protein, vegan protein, pea protein...

whey protein: Đây là loại protein có nguồn gốc từ sữa và nó là sự lựa chọn phổ biến nhất cho các huấn luyện viên trong phòng tập thể hình. Trong thành phần của whey protein có chứa khoảng 20% là sữa tự nhiên và 80% là các thành phần protein casein. Các loại bột protein trên thị trường hiện nay có chứa whey protein đó là thành phần quan trọng nhất. Whey protein chứa các thành phần tự nhiên, vì vậy đó là sự lựa chọn tốt nhất cho các vận động viên vì chất lượng cũng như giá thành của whey protein khá hợp lý. Khi sản xuất, whey protein được thêm vào một số hương liệu khác nhau để làm tăng thêm phong phú cho người sử dụng. Khi sử dụng whey protein còn có khả năng làm tăng thêm hệ thống miễn dịch của cơ thể.

Casein Protein Powder: Mặc dù loại này không được phổ biến như whey protein nhưng nó cũng có các thành phần tương đồng về cấu tạo của chúng. Đây cũng là một sản phẩm được cấu tạo từ sữa, và chủ yếu là sữa bò. Sử dụng Casein Protein nó rất chậm trong quá trình tiêu hóa chủ yếu là do sự tương tác phức tạp của nó với các loại axit trong dạ dày. Kết quả là tỷ lệ giải phóng các axit amin và protein cần thiết trong cơ thể là khá chậm. Nó phù hợp cho những người cần một khoảng thời gian đủ dài từ 8 - 10 tiếng giữa các bữa ăn hoặc trong khi ngủ.

Vegan Protein Powder: Đây là dạng protein được tổng hợp từ các nguồn thực vật như: gạo, cây gai dầu, đậu Hà Lan... Bằng cách này người ta có thể tận dụng tốt các thành phần trong thực vật. Điều này sẽ giúp cho người sử dụng có thể hấp thụ tốt nhất các protein so với việc sử dụng thực vật thông thường.

Pea protein Powder: Đây là một loại protein được tổng hợp từ đậu Hà Lan, nó có thể cung cấp một số lượng ích độc đáo mà không phải loại nào cũng có được. Nó phù hợp với một số người có yêu cầu ăn uống đặc biệt, tránh được sự khó chịu của dạ dày khi phải sử dụng bột đậu thường xuyên.

Nhu cầu protein[sửa | sửa mã nguồn]

Thiếu protein tất sẽ dẫn đến thiếu dinh dưỡng, dễ mắc các bệnh phù thủng, loạn nhịp tim, mệt mỏi, thiếu máu, trẻ em chậm phát triển, đầu óc kém minh mẫn, ảnh hưởng đến kinh nguyệt, sức đề kháng kém, ăn không ngon, cơ bắp teo lại, khớp xương rã rời...

Tuy nhiên cũng không thể ăn quá nhiều chất protein trong thức ăn. Khi chất protein thay thế trong cơ thể sẽ sản sinh ra amin, nước tiểu chứa chất azote, trong đó amoniac là chất có hại, phải trải qua xử lí giải độc ở gan mới có thể từ thận bài tiết ra ngoài, ăn nhiều protein sẽ gây hại cho gan và thận.

Ăn nhiều protein tuy có thể tăng cường cơ bắp nhưng nếu không tập luyện thì chất protein dư thừa chuyển hoá thành chất béo ở dưới da, cơ thể sẽ trở nên béo

Các món ăn giàu protein[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]