Max Perutz

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Max Ferdinand Perutz
Sinh 19 tháng 5 năm 1914
Viên, Đế quốc Áo-Hung[1][2]
Mất 6 tháng 2, 2002 (87 tuổi)
Cambrigde, Cambrigdeshire, Anh
Quốc tịch  Áo Anh
Ngành Hóa học tinh thể, Sinh học phân tử
Nơi công tác

Đai học Cambrigde

Phòng thí nghiệm Sinh học phân tử
Alma mater

Đại học Viên

Peterhouse, Cambrigde
Người hướng dẫn luận án tiến sĩ JD Bernal
Các sinh viên nổi tiếng

John Kendrew

Francis Crick
Giải thưởng

Max Ferdinand Perutz (sinh ngày 19 tháng 5 năm 1914 - mất ngày 6 tháng 2 năm 2002[3]) là nhà hóa học người Anh gốc Áo. Ông đoạt Giải Nobel Hóa học năm 1962 chung với John Kendrew vì những nghiên cứu về cấu trúc của protein hình cầu.

Làm việc với các cậu học trò[sửa | sửa mã nguồn]

John Kendrew[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1958, Max Perutz và John Kendrew nhận dạng cấu trúc của myoglobin bằng phương pháp tinh thể tia X. Đây là phát hiện quan trrongj, giúp cả hai đều nhận Giải Nobel Hóa học. Nói chung trong sự nghiệp của mình, hai người là những nhà khoa học đi tiên phong trong tinh thể học protein.

Francis Crick[sửa | sửa mã nguồn]

Giữa tháng 2 năm 1953, Max Perutz có đưa cho Francis Crick một bản sao bài báo cáo cho Hội đồng Nghiên cứu Y khoa nhân chuyến thăm đến King's vào tháng 12 năm 1952, trong đó có rất nhiều tính toán về tinh thể học của Rosalind Franklin. Nhờ có bản sao này, Crick cùng với James Watson đã tìm ra được cấu tạo của ADN và giành Giải Nobel Y học và Sinh lý học năm 1962.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Academic offices
Tiền nhiệm:
Andrew Fielding Huxley
Fullerian Professor of Physiology
1973–1979
Kế nhiệm:
David Chilton Phillips