John B. Goodenough

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
John Goodenough
225px
SinhJohn Bannister Goodenough
25 tháng 7, 1922 (97 tuổi)
Jena, Đức
NgànhVật lý học
Nơi công tácViện công nghệ Massachusetts
Đại học Oxford
Đại học Texas tại Austin
Người hướng dẫn luận án tiến sĩClarence Zener
Học vịĐại học Yale (BS)
Đại học Chicago (MS, PhD)
Sinh viên đáng chú ýBill David (postdoc)[1]
Nổi tiếng vìpin sạc li-ion, Goodenough–Kanamori rules
Giải thưởngJapan Prize (2001)
giải Enrico Fermi Award (2009)
National Medal of Science (2011)
IEEE Medal for Environmental and Safety Technologies(2012)
giải Charles Stark Draper (2014)
giải Welch (2017)
Copley Medal (2019)
giải Nobel Hóa học (2019)

John Bannister Goodenough (sinh ngày 25 tháng 7 năm 1922) là một giáo sưnhà vật lý thể rắn người Mỹ. Ông hiện là giáo sư về kỹ thuật cơ khíkhoa học vật liệu tại Đại học Texas ở Austin. Ông được tín nhiệm rộng rãi trong việc xác định và phát triển pin lithium-ion cũng như phát triển các quy tắc Goodenough-Kanamori để xác định dấu hiệu của siêu trao đổi từ tính trong vật liệu.

Năm 2014, ông nhận được giải Charles Stark Draper cho những đóng góp của mình cho pin lithium-ion.[2] Năm 2019, ông được trao giải Nobel hóa học, khiến ông trở thành người đoạt giải Nobel già nhất từ trước đến nay. Ông cùng nhận giải Nobel cùng M. Stanley WhittinghamAkira Yoshino.

Tuổi thơ và giáo dục ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Goodenough được sinh ra ở Jena, Đức, với cha mẹ là Erwin Ramsdell Goodenough (1893-1965) và Helen Meriam Goodenough. Cha ông từng học Ph.D. tại Trường Thần học Harvard vào thời điểm John chào đời và sau đó trở thành Giáo sư về lịch sử tôn giáo tại Yale. John cũng là em trai của nhà nhân chủng học quá cố Ward Goodenough của Đại học Pennsylvania. John và anh trai Ward đã học trường nội trú tại trường Groton [3]. John Goodenough nhận bằng Cử nhân Toán học, summa cum laude, từ Đại học Yale năm 1944, nơi ông là thành viên của Skull and Bones.[4] Sau khi phục vụ trong Quân đội Hoa Kỳ với tư cách là nhà khí tượng học [5] trong Thế chiến II, ông trở lại để hoàn thành bằng tiến sĩ. trong Vật lý dưới sự giám sát của Clarence Zener tại Đại học Chicago năm 1952.

Sự nghiệp ban đầu tại Phòng thí nghiệm Lincoln[sửa | sửa mã nguồn]

Trong sự nghiệp ban đầu của mình, ông là một nhà khoa học nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm Lincoln của MIT. Trong thời gian này, ông là thành viên của một nhóm liên ngành chịu trách nhiệm phát triển bộ nhớ từ tính truy cập ngẫu nhiên. Những nỗ lực nghiên cứu về RAM đã khiến ông phát triển các khái niệm về trật tự quỹ đạo hợp tác, còn được gọi là biến dạng hợp tác Jahn, Teller, trong các vật liệu oxit, và sau đó dẫn đến việc ông phát triển các quy tắc về dấu hiệu của siêu trao đổi từ trong vật liệu, hiện được biết đến như các quy tắc Goodenough của Kanamori (cùng phát triển với Junjiro Kanamori).

Nhiệm kỳ tại Đại học Oxford[sửa | sửa mã nguồn]

Bia kỷ niệm xanh được dựng lên bởi Hiệp hội Hóa học Hoàng gia kỷ niệm công trình hướng tới pin liti-ion có thể sạc lại ở Oxford

Vào cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980, ông tiếp tục sự nghiệp của mình với tư cách là người đứng đầu Phòng thí nghiệm Hóa học vô cơ tại Đại học Oxford, nơi ông xác định và phát triển LixCoO2 là vật liệu catốt lựa chọn cho pin sạc Li-ion hiện có mặt ở khắp mọi nơi trong các thiết bị điện tử cầm tay ngày nay. Mặc dù Sony chịu trách nhiệm thương mại hóa công nghệ, nhưng ông được ghi công rộng rãi với việc nhận dạng và phát triển ban đầu. Ông đã nhận được giải Nhật Bản năm 2001 vì những khám phá về các vật liệu quan trọng đối với sự phát triển của pin sạc nhẹ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Thackeray, M. M.; David, W. I. F.; Bruce, P. G.; Goodenough, J. B. (1983). “Lithium insertion into manganese spinels”. Materials Research Bulletin 18 (4): 461–472. doi:10.1016/0025-5408(83)90138-1. 
  2. ^ Charles Stark Draper Prize News, National Academy of Engineering. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2015.
  3. ^ LeVine, Steve (ngày 5 tháng 2 năm 2015). “The man who brought us the lithium-ion battery at the age of 57 has an idea for a new one at 92”. Quartz (publication) (Atlantic Media Company). Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2015. 
  4. ^ Goodenough, John B. (2008). Witness to Grace. PublishAmerica. ISBN 9781462607570. 
  5. ^ “His current quest | The University of Chicago Magazine”. mag.uchicago.edu (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2018. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Scholia

Bản mẫu:2019 Nobel Prize winners Bản mẫu:Copley Medallists 2001–nay Bản mẫu:Charles Stark Draper Prize

Bản mẫu:FRS 2010