DDT

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
DDT
P,p'-dichlorodiphenyltrichloroethane.svg
Cấu trúc hoá học của DDT
DDT-from-xtal-3D-balls.png
DDT-from-xtal-3D-vdW.png
Danh pháp IUPAC Test
Nhận dạng
Số CAS 50-29-3
PubChem 3036
KEGG D07367
ChEBI 16130
Mã ATC P03AB01,QP53AB01
Ảnh Jmol-3D ảnh
SMILES
InChI 1/C14H9Cl5/c15-11-5-1-9(2-6-11)13(14(17,18)19)10-3-7-12(16)8-4-10/h1-8,13H
Thuộc tính
Khối lượng riêng 0.99 g/cm³[1]
Điểm nóng chảy 108,5 °C (381,6 K; 227,3 °F)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]
Điểm sôi 260 °C (533 K; 500 °F)
Các nguy hiểm
Phân loại của EU Chất độc T Nguy hiểm cho môi trường N
NFPA 704

NFPA 704.svg

2
2
0
 
Chỉ dẫn R R25 R40 R48/25 R50/53
Chỉ dẫn S (S1/2) Bản mẫu:S22 Bản mẫu:S36/37 S45 S60 S61
LD50 113 mg/kg (rat)

DDT - dichloro diphenyl trichlorothane là một nhóm các chất hữu cơ cao phân tử có chứa clo dạng bột màu trắng, mùi rất đặc trưng, không tan trong nước. DDT được sử dụng như là một loại thuốc trừ sâu có độ bền vững và độc tính cao. trong cơ thể DDT dễ dàng bị phân hủy sinh học thành DDE là một hoạt chất có độc tính cao hơn cả DDT. DDT có tác dụng lên hệ thần kinh của động vật: hệ thần kinh ngoại biên gây nên các sự rối loạn của hệ thống thần kinh dẫn đến tê liệt.

Ứng dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1939 bác sĩ Paul Muller xác nhận DDT là hóa chất hữu hiệu trong việc trừ sâu rầy và không có nguy hại cho người. Ngay khi mới xuất hiện DDT đã tỏ ra là một thần dược trong việc bảo vệ thực vật, nó có tác dụng gần như ngay lập tức lên các côn trùng hại nông phẩm, dập tắt dịch sốt rét và rầy ở nhiều nước. nó được sử dụng rộng rãi trong quân đội đồng minh và dân thường để kiểm soát bệnh phát ban và sốt rét côn trùng. Sau năm 1945 nó được sử dụng rộng rãi trong nông nghiệp. Đến năm 1970 thì nó đã bị cấm ở Thụy Điển và tới năm 1972 thì bị cấm ở Mỹ do các tác hại tới môi trường và sức khỏe mà nó gây ra.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]