Nhân tế bào

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
tế bào HeLa được nhuộm bằng kỹ thuật nhuộm Hoechst để DNA trong nhân phát ra màu huỳnh quang xanh nước biển. Tế bào ở giữa và bên phải đang trong kỳ trung gian nên có thể thấy được toàn bộ nhân của chúng. Còn tế bào bên trái thì đang trong quá trình nguyên phân và DNA của nó đã cô đặc lại.
Sinh học tế bào
Tế bào động vật
Animal Cell.svg

Trong sinh học tế bào, nhân tế bào là một bào quan được bao bọc bởi màng tế bào tồn tại bên trong các tế bào nhân thực. Sinh vật nhân thực chỉ có một nhân. Tuy nhiên, hồng cầu của lớp thú không có nhân, và một số loại tế bào khác có nhiều nhân, ví dụ là tế bào hủy xương (osteoclast). Cấu trúc chính của nhân tế bào là màng nhânma trận nhân (bao gồm lưới lót màng nhân). Màng nhân là màng kép bao phủ toàn bộ nhân và tách biệt nó khỏi tế bào chất. Ma trận nhân là một mạng lưới bên trong nhân có chức năng hỗ trợ cấu trúc nhân giống như cách bộ xương tế bào hỗ trợ cấu trúc tế bào.

Nhân tế bào chứa hết bộ gen của sinh vật, ngoại trừ DNA ty thể, được cuộn lại thành nhiều chuỗi DNA bao gồm các phức hợp protein. Phức hợp protein có nhiều loại protein khác nhau, ví dụ histone, để cấu thành các nhiễm sắc thể. Gen trong các nhiễm sắc thể có cấu trúc đặc thù để thúc đẩy chức năng của tế bào. Nhân tế bào bảo quản độ ổn định của gen và quản lý các hoạt động của tế bào bằng cách điều chỉnh biểu hiện gen. Do đó, nhân tế bào được coi là trung tâm điều khiển của tế bào.

Bởi vì các phân tử lớn không thể đi xuyên qua màng nhân, lỗ nhân điều tiết cơ chế vận chuyển phân tử lớn ra vào nhân. Lỗ nhân thông qua cả hai màng nhân hình thành kênh ion để các phân tử lớn có thể thông qua bằng các protein vận chuyển, và các phân tử và ion nhỏ có thể di chuyển ra vào tự do. Dịch chuyển các phân tử lớn như protein và RNA ra vào nhân tế bào là điều cần thiết để biểu hiện gen và bảo quản nhiễm sắc thể.

Mặc dù bên trong nhân tế bào không được chia ra thành các gian, các chất bên trong không được đồng dạng. Nhiều nhân thể (nuclear bodies) khác nhau tồn tại; chúng được hình thành bằng các protein độc nhất, phân tử RNA, và một phần riêng biệt của nhiễm sắc thể. Bộ phận đặc trưng nhất của nhân tế bào là nhân con; nó có chức năng sản xuất ribosome. Sau khi được sản xuất ở trong nhân con, ribosome được vận chuyển ra tế bào chất để dịch mã mRNA.

Cấu trúc[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu đồ của nhân tế bào mô tả ribosome (rải khắp màng nhân), lỗ nhân, chất nhiễm sắc, và nhân con.

Nhân tế bào chứa đựng gần hết toàn bộ DNA của tế bào. Nó được bao phủ bởi sợi trung gian và được bao bọc bởi màng nhân kép. Màng nhân bao phủ nhân tế bào, và bên trong có chứa chất nhân. Kích cỡ của nhân tùy thuộc vào kích thước của tế bào đó, thường thì nhân chiếm 8% tổng thể tích tế bào.[1] Nhân là bào quan lớn nhất trong tế bào động vật.[2]:12 Trong tế bào của lớp thú, đường kính trung bình của nhân là khoảng 6 micrometer (µm).[3]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Cantwell H, Nurse P (2019). “Unravelling nuclear size control”. Current Genetics (Springer) 65 (6): 1282. PMC 6820586. PMID 31147736. doi:10.1007/s00294-019-00999-3. 
  2. ^ Lodish HF, Berk A, Kaiser C, Krieger M, Bretscher A, Ploegh H và đồng nghiệp (2016). Molecular Cell Biology . New York: W.H. Freeman. ISBN 978-1-4641-8339-3. 
  3. ^ Alberts B, Johnson A, Lewis J, Raff M, Roberts K, Walter P (2002). Molecular biology of the cell (ấn bản 4). New York: Garland Science. tr. 197. ISBN 978-0-8153-4072-0. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]