Histone

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Schematic representation of the assembly of the core histones into the nucleosome.

Trong sinh học, histone (histôn) là các protein có độ kiềm cao tìm thấy ở nhân tế bào của sinh vật nhân thực có chức năng đóng gói và sắp xếp DNA thành các đơn vị cấu trúc gọi là nucleosome.[1][2] Chúng là thành phần protein chính của chất nhiễm sắc, đóng vai trò là cái ống để DNA cuốn quanh, và cũng đồng thời cũng đóng vai trò trong việc điều hòa gen. Nếu không có histone thì ADN chưa được cuốn trong nhiễm sắc thể sẽ trở nên rất dài (tỉ lệ dài rộng sẽ là 10 triệu trên 1 đối với ADN người). Ví dụ, mỗi tế bào lưỡng bội của người (chứa 23 cặp nhiễm sắc thể) có khoảng 1,8 mét ADN; cuốn quanh histone, tế bào lưỡng bội có khoảng 90 milimét (0,09 mm) chất nhiễm sắc. Khi tế bào lưỡng bội nhân đôi và đặc lại trong nguyên phân, kết quả là khoảng 120 milimét nhiễm sắc thể.[3]

Chức năng[sửa | sửa mã nguồn]

Đóng gói ADN[sửa | sửa mã nguồn]

Histone đóng vai trò là cái ống để ADN cuốn quanh, giúp nén ADN lại để có thể để vừa cả bộ gien lớn của sinh vật nhân thực vào trong nhân tế bào: nguyên tử nén ngắn hơn 40.000 lần so với nguyên tử chưa được đóng gói.

Điều hòa chất nhiễm sắc[sửa | sửa mã nguồn]

Histone trải qua sự biến đổi sau khi giải mã gien, làm thay đổi tương tác của nó với ADN và các protein nhân. Histone H3 và H4 có cái đuôi dài thò ra từ nucleosome, thứ có thể biến đổi theo hướng cộng hóa trị ở những vị trí khác nhau. Biến đổi của đuôi có thể là methyl hóa, acetyl hóa, phosphoryl hóa, ubiquitination, SUMOylation, citrullination, và ADP-ribosylation.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Youngson RM (2006). Collins Dictionary of Human Biology. Glasgow: HarperCollins. ISBN 978-0-00-722134-9. 
  2. ^ Cox M, Nelson DR, Lehninger AL (2005). Lehninger Principles of Biochemistry. San Francisco: W.H. Freeman. ISBN 978-0-7167-4339-2. 
  3. ^ Redon C, Pilch D, Rogakou E, Sedelnikova O, Newrock K, Bonner W (tháng 4 năm 2002). “Histone H2A variants H2AX and H2AZ”. Current Opinion in Genetics & Development 12 (2): 162–9. PMID 11893489. doi:10.1016/S0959-437X(02)00282-4. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]