Màng tế bào

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sinh học tế bào
tế bào động vật
Animal Cell.svg
Thành phần tế bào động vật điển hình:
  1. Hạch nhân
  2. Nhân tế bào
  3. Ribosome (những chấm nhỏ)
  4. Túi tiết
  5. Mạng lưới nội chất thô ráp
  6. Bộ máy Golgi (hoặc "thể Golgi")
  7. Bộ xương tế bào
  8. Mạng lưới nội chất mịn
  9. Ty thể
  10. Không bào
  11. Phần bào tan (Chất lỏng có chứa các bào quan)
  12. Tiêu thể
  13. Trung thể
  14. Màng tế bào

Vỏ bọc bên ngoài của một tế bào eukaryote gọi là màng sinh chất (plasma membrane). Màng này cũng có ở các tế bào prokaryote nhưng được gọi là màng tế bào (cell membrane). Màng có chức năng bao bọc và phân tách tế bào với môi trường xung quanh. Màng được cấu thành bởi một lớp phospho lipid kép và các protein. Các phân tử protein hoạt động như các kênh vận chuyểnbơm được nằm khảm vào lớp phospho lipid một cách linh động (có thể di chuyển tương đối).

Năm 1972, hai nhà khoa học là SingerNicolson đã đưa ra mô hình cấu trúc màng sinh chất gọi là mô hình khảm - động. Theo mô hình này, màng sinh chất có lớp kép phôtpholipit. Liên kết phân tử prôtêin và lipit còn có thêm nhiều phân tử cacbohidrat. Ngoài ra, màng sinh chất ở tế bào động vật còn có thêm nhiều phân tử côlestêrôn có tác dụng tăng cường sự ổn định. Màng sinh chất là ranh giới bên ngoài và là bộ phận chọn lọc các chất từ môi trường đi vào tế bào và ngược lại. Màng sinh chất đảm nhận nhiều chức năng quan trọng của tế bào như: vận chuyển các chất, tiếp nhận và truyền thông tin từ bên ngoài vào trong tế bào, là nơi định vị của nhiều loại enzim, các prôtêin màng làm nhiệm vụ ghép nối các tế bào trong một mô... Màng sinh chất có các "dấu chuẩn" là glicôprôtêin đặc trưng cho từng loại tế bào. Nhờ vậy, các tế bào của cùng một cơ thể nhận biết ra nhau và nhận biết được các tế bào lạ của cơ thể khác.


Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]