Bước tới nội dung

Sri Lanka

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Dân chủ Sri Lanka
Tên bản ngữ
    • ශ්‍රී ලංකා ප්‍රජාතාන්ත්‍රික සමාජවාදී ජනරජය (tiếng Sinhala)
    • இலங்கை சனநாயக சோசலிசக் குடியரசு (tiếng Tamil)
    • Tiếng Sinhala:Śrī Laṅkā Prajātāntrika Samājavādī Janarajaya
      Tiếng Tamil:Ilaṅkai Caṉanāyaka Cōcalicak Kuṭiyaracu
Quốc huy Sri Lanka
Quốc huy

Quốc ca: "Sri Lanka Matha"
ශ්‍රී ලංකා මාතා (Sinhala)
ஸ்ரீ லங்கா தாயே (Tamil)
(tiếng Anh: "Mother Sri Lanka")
Location of Sri Lanka
Tổng quan
Thủ đô
Thành phố lớn nhấtColombo
Ngôn ngữ chính thức
 Ngôn ngữ quốc gia được công nhậnNgôn ngữ quốc gia
Ngôn ngữ được công nhậnTiếng Anh
Sắc tộc
(2024[4])
Tôn giáo
(2024)
Tên dân cưNgười Sri Lanka
Chính trị
Chính phủCộng hòa bán tổng thống chế đơn nhất[5]
Anura Kumara Dissanayake
Harini Amarasuriya
Jagath Wickramaratne
Murdu Fernando
Lập phápQuốc hội
Lịch sử
Hình thành
543 TCN
377 TCN – 1017 CN
1017–1232
1232–1592
1592–1815
1815–1948
4 tháng 2 năm 1948
22 tháng 5 năm 1972
7 tháng 9 năm 1978
Địa 
Diện tích  
 Tổng cộng
65,610,2 km2 (hạng 120)
25,332 mi2
 Mặt nước (%)
4.4
Dân số 
 Ước lượng 2024
21,763,170[7] (hạng 60)
 Điều tra 2024
21,763,170 [8]
337.7/km2 (hạng 43)
874,6/mi2
Kinh tế
GDP  (PPP)Ước lượng 2024
 Tổng số
Tăng342.6 tỷ đô la Mỹ[9] (hạng 62)
Tăng 15,000 đô la Mỹ[9] (hạng 111)
GDP  (danh nghĩa)Ước lượng 2024
 Tổng số
Tăng 98.9 tỷ đô la Mỹ[10] (hạng 71)
 Bình quân đầu người
Tăng 4,516 đô la Mỹ (hạng 120)
Đơn vị tiền tệRupee Sri Lanka (Rs) (LKR)
Thông tin khác
Gini? (2023)Giảm theo hướng tích cực 39.8[11]
trung bình
HDI? (2023)Giảm 0.776[12]
cao · hạng 89
Múi giờUTC+5:30 (SLST)
Giao thông bêntrái
 điện thoại+94
 ISO 3166LK
Tên miền Internet
Trang web
gov.lk

Sri Lanka,[a] quốc hiệu là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Dân chủ Sri Lanka và từng được gọi là Tích Lan,[b] là một đảo quốc với đa số dân theo Phật giáoNam Á, nằm cách khoảng 53 km ngoài khơi bờ biển bang Tamil Nadu phía nam Ấn Độ. Quốc gia này thường được gọi là "Hòn ngọc Ấn Độ Dương". Dân số Sri Lanka khoảng 20 triệu người.

Là một quốc gia nằm trên đường nối hàng hải chiến lược giữa Tây ÁĐông Nam Á, Sri Lanka từng là trung tâm tôn giáo và văn hóa Phật giáo thời cổ. Một số người dân nước này theo Hindu giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo và các tôn giáo thổ dân khác. Người Sinhala chiếm đa số (74,8%), ngoài ra còn có các cộng đồng người người Tamil, người Moor, Burgher và người thổ dân khác. Nổi tiếng về sản xuất và xuất khẩu chè, cà phê, cao sudừa, cũng có một nền kinh tế công nghiệp hiện đại và đang phát triển. Vẻ đẹp tự nhiên của những cánh rừng nhiệt đới Sri Lanka, các bãi biển và phong cảnh cũng như sự giàu có về các di sản văn hóa biến nước này thành điểm đến nổi tiếng với du khách thế giới.

Sau hơn một ngàn năm dưới quyền cai trị của các vương quốc độc lập và từng bị sáp nhập vào Đế chế Chola, Sri Lanka bị Bồ Đào NhaHà Lan chiếm làm thuộc địa trước khi bị chuyển qua tay Đế chế Anh.Trong Chiến tranh thế giới thứ hai nước này là một căn cứ chiến đấu quan trọng chống lại Nhật Bản. Một phong trào chính trị đòi độc lập đã xuất hiện trong nước vào đầu thế kỷ XX, cuối cùng Sri Lanka được trao trả độc lập năm 1948. Dù đã có một giai đoạn dân chủ ổn định và phát triển kinh tế, nước này đã bị tàn phá bởi cuộc nội chiến đẫm máu giữa người Sinhala nắm chính phủ và lực lượng ly khai của người Tamil do LTTE lãnh đạo, lực lượng này yêu cầu thành lập một nhà nước Tamil độc lập ở phía đông bắc Sri Lanka. Những trận sóng thần do vụ động đất Ấn Độ Dương 2004 gây ra đã tàn phá các vùng phía nam và đông bắc nước này, khiến nhiều người thiệt mạng và rất nhiều người khác phải di chuyển nhà cửa.

Tên gọi

[sửa | sửa mã nguồn]

Sri Lanka là một thuộc địa hoàng gia do người Anh cai trị từ năm 1815, tên chính thức là "Ceylon", tiếng Trung Quốc phiên âm thành "Xī lán" (錫蘭 - Tích Lan). Tên tiếng Anh này có nguồn gốc từ tiếng Bồ Đào Nha "Ceilão". Từ năm 1972 thì Trung Quốc và Đài Loan gọi Sri Lanka bằng tên mới 斯里蘭卡 (Sīlǐlánkǎ) được lấy từ tiếng Anh Sri Lanka, phiên âm Hán Việt của 斯里蘭卡 là Tư Lý Lan Tạp.[14]

Năm 1972, tên chính thức của đất nước được đổi thành "Cộng hòa Sri Lanka Tự do, Chủ quyềnĐộc lập " (ශ්‍රී ලංකා śrī lankā trong tiếng Sinhala (trong khi chính hòn đảo này tự gọi mình là ලංකාව lankāva), இலங்கை ilaṅkai trong tiếng Tamil). Năm 1978 nó được đổi thành "Cộng hòa Sri Lanka xã hội chủ nghĩa dân chủ". Trước năm 1972, Sri Lanka được gọi bằng nhiều cái tên khác nhau: các nhà địa lý học Hy Lạp cổ đại gọi nó là Taprobane, người Ả rập gọi là Serendib, Ceilão là tên chính thức do người Bồ Đào Nha đặt khi họ tới hòn đảo này, nhưng có lẽ tên nổi tiếng nhất là Ceylon. "Sri Lanka" (nguyên gốc từ tiếng Phạn) được dịch thành "Lanka đáng kính", "śrī" nghĩa là "đáng kính trọng" và "laṃkā" là tên cổ của hòn đảo đã được kiểm chứng trong cuốn Mahabharata và sử thi Ramayana.

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Những khu định cư của loài người từ thời kỳ đồ đá cũ đã được phát hiện tại các điểm khai quật trong nhiều hang động tại vùng đồng bằng phía tây và phía tây nam vùng Đồi Trung tâm. Các nhà nhân loại học tin rằng một số kiểu nghi thức mai táng và những đồ trang trí cho thấy những sự tương đồng giữa những cư dân đầu tiên trên hòn đảo này và những cư dân sống tại nam Ấn Độ. Một trong những đoạn văn bản đầu tiên đề cập tới hòn đảo này đã được tìm thấy trong sử thi Ramayana của Ấn Độ, trong đó miêu tả hoàng đế Ravana là vua của vương quốc hùng mạnh Lanka. Những đoạn văn quan trọng khác đề cập tới lịch sử đất nước cũng được tìm thấy trong các cuốn biên niên sử MahavansaDipavamsa.

Những cư dân đầu tiên trên hòn đảo Sri Lanka ngày nay có thể là tổ tiên của người Wanniyala-Aetto, cũng được gọi là Veddahs với dân số khoảng 3.000 người. Phân tích ngữ âm cho thấy có sự tương quan giữa tiếng Sinhala và các ngôn ngữ SindhGujarat, dù đa số các nhà sử học tin rằng cộng đồng Sinhala đã xuất hiện sau sự đồng hóa nhiều nhóm dân tộc khác. Người Dravidia có thể đã bắt đầu di cư tới hòn đảo này từ thời tiền sử. Một số điểm khảo cổ học đáng chú ý, gồm cả tàn tích Sigiriya, được gọi là "Pháo đài trên bầu trời", và các công trình công cộng lớn có từ thời cổ đại. Trong số những công trình công cộng đó có những "bể nước" hay hồ chứa nước lớn, đóng vai trò quan trọng trong việc tích trữ nước cho mùa khô, và các hệ thống cống dẫn nước tinh vi, với độ nghiêng được xác định chỉ là một inch trên mỗi dặm. Sri Lanka cổ đại cũng là một trong những đất nước đầu tiên trên thế giới đã thành lập một bệnh viện chuyên môn tại Mihintale từ thế kỷ thứ IV trước Công Nguyên. Sri Lanka cổ đại cũng là nhà xuất khẩu quế hàng đầu thế giới, quế đã được xuất khẩu sang Ai Cập ngay từ năm 1.400 trước Công Nguyên. Sri Lanka cũng là nước Châu Á đầu tiên có vua cai trị là nữ giới, Nữ hoàng Anula (4742 TCN).

Sri Lanka cổ đại nằm dưới quyền quản lý của nhiều tiểu quốc, chia thành nhiều vùng khác nhau. Hòn đảo này thỉnh thoảng cũng phải chống trả các cuộc xâm lược từ phía các vương triều Nam Ấn và nhiều phần của nó cũng phải trải qua các giai đoạn cai trị của triều đại Chola, triều đại Pandya, triều đại Cheratriều đại Pallava. Sri Lanka cũng từng bị các vương quốc Kalinga (Orissa hiện đại) và các vương quốc từ Bán đảo Malay xâm chiếm. Phật giáo từ Ấn Độ được Tỳ kheo Mahinda, con trai của hoàng đế Maurya Ashoka, đưa tới đây từ thế kỷ thứ III TCN. Phái đoàn của Mahinda đã chiếm được lòng tin của vua Singhalese là Devanampiyatissa xứ Mihintale, vị vua quyết định theo tôn giáo mới và truyền bá nó trong khắp dân cư Sinhala. Các vương quốc Phật giáo tại Sri Lanka xây dựng một số lượng lớn các trường Phật học và đền chùa, và hỗ trợ việc truyền bá đạo Phật vào vùng Đông Nam Á.

Sri Lanka luôn là một cảng biển và đầu mối thương mại quan trọng của thế giới cổ đại, và các tàu buôn từ Trung Đông, Ba Tư, Myanmar, Thái Lan, Malaysia, Indonesia cũng như các vùng khác ở Đông Nam Á ngày càng lui tới đây đông hơn. Các nhà thám hiểm Châu Âu đầu tiên tới vùng Đông Nam Á đã biết tới hòn đảo này và nhiều thương gia Ả rập cũng như Malaysia đã định cư ở nơi đây. Một sứ đoàn thực dân Bồ Đào Nha tới đây năm 1505. Ở thời điểm ấy, hòn đảo gồm ba vương quốc, là Yarlpanam (Anh hóa Jaffna) ở phía bắc, Kandy ở vùng Đồi Trung tâm và Kotte ở bờ biển phía tây. Người Hà Lan đã tới đây vào thế kỷ XVII. Dù phần lớn Sri Lanka bị các cường quốc châu Âu xâm chiếm làm thuộc địa, vùng phía trong, vùng đồi núi, với thủ đô là Kandy vẫn giữ được độc lập. Công ty Đông Ấn Anh đã hoàn thành việc xâm chiếm hòn đảo vào năm 1796, tuyên bố Sri Lanka là một thuộc địa hoàng gia năm 1802, dù Sri Lanka không được kết nối chính thức với Ấn Độ thuộc Anh. Sự sụp đổ của vương quốc Kandy năm 1815 làm toàn bộ hòn đảo bị Đế quốc Anh đô hộ.

Thực dân châu Âu đã thiết lập hàng loạt các đồn điền chè, quế, cao su, đường, cà phêchàm. Người Anh cũng mang tới một lượng lớn công nhân hợp đồng từ Tamil Nadu để làm việc tại các đồn điền đó. Thành phố Colombo được dựng lên làm trung tâm hành chính, và người Anh lập ra các trường học, đại học, đường sá và nhà thờ hiện đại, áp đặt nền giáo dục và văn hóa châu Âu lên người bản xứ. Sự bất bình ngày càng tăng về việc hạn chế nhân quyền, đối xử bất bình đẳng và lạm dụng người dân bản xứ của chính quyền thuộc địa khiến cuộc đấu tranh giành độc lập bắt đầu diễn ra từ thập kỷ 1930, khi Liên đoàn Tuổi trẻ phản đối "Bản ghi nhớ của các vị bộ trưởng," theo đó đòi hỏi chính quyền thuộc địa phải tăng quyền lực cho hội đồng bộ trường mà không trao cho nhân dân quyền đại diện cũng như các quyền tự do cá nhân. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, hòn đảo này trở thành một căn cứ quân sự quan trọng của Đồng Minh. Một phần quan trọng của hạm đội Anh, Mỹ đã được triển khai tại đây, và hàng chục nghìn binh sĩ đã tham chiến chống Nhật Bản tại vùng Đông Nam Á.

Đương đại

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau chiến tranh, áp lực của dân chúng đòi quyền độc lập ngày càng tăng. Ngày 4 tháng 2 năm 1948 nước này giành được độc lập với tên gọi Thịnh vượng chung Ceylon. Don Stephen Senanayake trở thành Thủ tướng đầu tiên của Sri Lanka. Năm 1972, nước này trở thành một nước cộng hòa bên trong Khối thịnh vượng chung, và đổi tên thành Sri Lanka. Ngày 21 tháng 7 năm 1960 Sirimavo Bandaranaike trở thành người phụ nữ đầu tiên lãnh đạo chính phủ thời hậu thuộc địa tại Châu Á khi bà chính thức nhận chức thủ tướng. Trong thập kỷ 1970, những cuộc xung đột chính trị nổ ra giữa các cộng đồng Sinhala và Tamil. Cộng đồng Tamil chỉ trích sự phân biệt đối xử và việc tước quyền chính trị ngày càng tăng và đòi hỏi nhiều quyền tự trị cho vùng mình. Trong thập kỷ 1980, hòa bình và sự ổn định từ lâu trên hòn đảo đã bị tan vỡ khi phong trào ly khai Tamil do lực lượng Những con hổ giải phóng Tamil (LTTE), dẫn đầu yêu cầu thành lập một nhà nước Ealam độc lập tại đông bắc Sri Lanka. Một thỏa thuận hòa bình năm 1986 do Ấn Độ trung gian đã tan vỡ năm 1988 khi binh lính gìn giữ hòa bình Ấn Độ đụng độ quân sự trực tiếp với LTTE trong khi đang nỗ lực giải giáp. Những người quốc gia Sri Lanka yêu cầu rút quân Ấn Độ, và tới năm 2000, 50.000 người đã thiệt mạng trong các trận chiến giữa Quân đội Sri LankaLTTE, đang nắm quyền kiểm soát nhiều vùng phía đông bắc. Một cuộc ngừng bắn tạm thời đã tái lập hòa bình cho hòn đảo khi chính phủ và LTTE bắt đầu cuộc đàm phán ngoại giao với sự trung gian của Na Uy. Trận động đất Ấn Độ Dương 2004 đã gây ra những cơn sóng thần mạnh tàn phá bờ biển phía nam và phía đông nước này, giết chết và buộc gần 40.000 người dân phải chuyển chỗ ở.

Từ năm 1985 đến 2006, chính phủ Sri Lanka và phiến quân Tamil đã tổ chức bốn vòng đàm phán hòa bình nhưng không thành công. Cả LTTE và chính phủ đều nối lại giao tranh vào năm 2006, và chính phủ chính thức rút khỏi thỏa thuận ngừng bắn vào năm 2008.[15] Năm 2009, dưới nhiệm kỳ Tổng thống của Mahinda Rajapaksa, Lực lượng Vũ trang Sri Lanka đã đánh bại LTTE, chấm dứt cuộc nội chiến kéo dài 26 năm vào ngày 19 tháng 5 năm 2009,[16][17][18][19] và tái thiết lập quyền kiểm soát của Chính phủ Sri Lanka trên toàn bộ đất nước.[20] Nhìn chung, có từ 60.000 đến 100.000 người đã thiệt mạng trong suốt 26 năm xung đột.[21][22]

Các vụ đánh bom lễ Phục sinh tại Sri Lanka năm 2019 do nhóm khủng bố National Thowheeth Jama'ath thực hiện vào ngày 21 tháng 4 năm 2019 đã cướp đi sinh mạng của 261 người vô tội một cách tàn bạo.[23] Vào ngày 26 tháng 4 năm 2019, một chiến dịch chống khủng bố nhằm vào National Thowheeth Jama'ath đã được Lục quân Sri Lanka thực hiện thành công, đánh dấu sự chấm dứt cuộc nổi dậy của nhóm này.[24][25][26]

Người dân Sri Lanka biểu tình trước Ban Thư ký Tổng thống ở Colombo, ngày 13 tháng 4 năm 2022

Những rắc rối về kinh tế ở Sri Lanka bắt đầu từ năm 2019, khi một cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng xảy ra do nợ nước ngoài tăng nhanh, thâm hụt ngân sách chính phủ khổng lồ do cắt giảm thuế, lượng kiều hối sụt giảm, khủng hoảng lương thực do quy định bắt buộc canh tác hữu cơ đi kèm lệnh cấm phân bón hóa học, cùng vô số các yếu tố khác.[27] Chính phủ Sri Lanka chính thức tuyên bố cuộc khủng hoảng đang diễn ra là cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất ở nước này trong vòng 73 năm.[28] Vào tháng 8 năm 2021, tình trạng khẩn cấp về lương thực đã được ban bố.[29] Đến tháng 6 năm 2022, Thủ tướng Ranil Wickremesinghe đã tuyên bố sự sụp đổ của nền kinh tế Sri Lanka trước quốc hội.[30] Cuộc khủng hoảng này đã khiến Sri Lanka lần đầu tiên trong lịch sử vỡ nợ với khoản nợ công lên tới 51 tỷ USD, đi kèm với lạm phát ở mức hai con số, một cuộc khủng hoảng năng lượng tê liệt dẫn đến việc cắt điện khoảng 15 giờ mỗi ngày, tình trạng thiếu hụt nhiên liệu trầm trọng dẫn đến việc ngừng cung cấp xăng dầu cho tất cả các phương tiện không thiết yếu, cùng nhiều rối loạn kinh tế khác.[31][32] Do hậu quả của cuộc khủng hoảng, các cuộc biểu tình đường phố quy mô lớn đã nổ ra trên khắp cả nước, với việc người dân yêu cầu Tổng thống Gotabaya Rajapaksa từ chức. Các cuộc biểu tình lên đến đỉnh điểm với việc xông vào và bao vây Dinh Tổng thống vào ngày 9 tháng 7 năm 2022, khiến Tổng thống Gotabaya Rajapaksa phải tháo chạy sang Singapore[33] và sau đó gửi email từ chức tới quốc hội, chính thức tuyên bố thoái vị và trở thành tổng thống Sri Lanka đầu tiên từ chức giữa nhiệm kỳ.[34] Cùng ngày Dinh Tổng thống bị thất thủ, những người biểu tình cũng đã bao vây, đột nhập vào dinh thự riêng của thủ tướng và phóng hỏa thiêu rụi tòa nhà này.[35]

Sau khi Quốc hội bầu Ranil Wickremesinghe làm tân tổng thống vào ngày 20 tháng 7 năm 2022, Wickremesinghe đã tuyên thệ nhậm chức Tổng thống thứ chín của Sri Lanka.[36] Ông đã triển khai hàng loạt cải cách nhằm ổn định nền kinh tế Sri Lanka, qua đó giúp tình hình kinh tế có những bước cải thiện nhẹ kể từ đó.[37][38] Vào ngày 23 tháng 9 năm 2024, ứng cử viên cánh tả Anura Kumara Dissanayake đã tuyên thệ nhậm chức tân tổng thống của Sri Lanka sau khi giành chiến thắng trong cuộc bầu cử.[39] Ngày 14 tháng 11 năm 2024, liên minh thiên tả Quyền lực Nhân dân Quốc gia (NPP) của Tổng thống Anura Kumara Dissanayake đã giành được thế đa số hai phần ba tại quốc hội trong cuộc bầu cử quốc hội Sri Lanka.[40]

Địa lý và khí hậu

[sửa | sửa mã nguồn]
Bản đồ địa hình Sri Lanka.

Hòn đảo Sri Lanka nằm ở Ấn Độ Dương, phía tây nam Vịnh Bengal và phía đông nam Biển Ả rập.Vịnh MannarEo biển Palk ngăn cách đảo này với tiểu lục địa Ấn Độ. Theo thần thoại Hindu, thần Rama đã cho đắp một cây cầu nối hải đảo với lục địa Ấn Độ, mệnh danh là "cầu của Rama" hoặc "cầu của Adam". Công trình huyền thoại này nay một dải đá vôi và bãi cát ngầm chỉ nhô lên khi thủy triều xuống. Theo những văn bản ghi chép tại những ngôi đền, con đường nổi thiên nhiên này trước kia đã tồn tại, nhưng đã bị một cơn bão mạnh (có thể là một cơn lốc xoáy) năm 1480 phá huỷ. Chiều rộng của Eo biển Palk khá nhỏ nền từ bờ biển Sri Lanka có thể quan sát thấy điểm xa nhất gần thị trấn Rameswaram của Ấn Độ. Hòn đảo với hình dạng viên ngọc trai này chủ yếu gồm các đồng bằng phẳng, núi non chỉ có ở phần trung nam. Núi Sri Pada với điểm cao nhất là Pidurutalagala (cũng được gọi là Mt Pedro), cao 2.524 mét (8.281 ft). Mahaweli ganga (sông Mahaweli) và các con sông chính khác là nguồn cung cấp nước ngọt.

Khí hậu

[sửa | sửa mã nguồn]
Phân loại khí hậu Köppen của Sri Lanka

Khí hậu Sri Lanka có thể coi là nhiệt đới và khá nóng. Vị trí nằm giữa vĩ độ 5 và 10 độ bắc khiến nước này có khí hậu ấm, được các cơn gió đại dương giữ ôn hòa và cung cấp khá nhiều lượng hơi ẩm. Nhiệt độ trung bình trong khoảng từ mức thấp 16 °C tại Nuwara Eliya ở vùng Cao nguyên Trung tâm (nơi có thể xuất hiện băng giá trong một số ngày mùa đông) tới mức cao 32 °C tại Trincomalee tại bờ biển phía đông bắc (nhiệt độ cao nhất có thể lên đến 38 °C). Nhiệt độ trung bình năm cả nước từ 28 đến 30 °C. Nhiệt độ ngày và đêm có thể chênh lệch từ 4 đến 7 độ. Vào tháng 1, tháng lạnh nhất, người dân vùng đồi núi và một số nơi khác phải mặc áo khoác và áo len. Tháng 5, tháng nóng nhất, cũng là tháng trước mùa mưa. Lượng mưa bị ảnh hưởng bởi gió mùa từ Ấn Độ Dương và Vịnh Bengal, bị địa hình vùng Cao nguyên Trung tâm ngăn cản, chúng gây mưa lớn ở những vùng núi và khu vực phía tây nam hòn đảo. Một số nơi ở phía núi chắn gió lượng mưa có thể lên tới 2500 mm mỗi tháng, nhưng phía đông và đông bắc đối diện, lượng mưa thấp hơn hẳn. Những cơn gió mạnh định kỳ và những cơn lốc xoáy bất thường che phủ bầu trời và mang mưa tới khu vực tây nam, đông bắc, và những vùng phía đông hòn đảo. Khoảng thời gian từ tháng 12 tới tháng 3, gió mùa từ phía đông bắc thổi đến, mang theo hơi ẩm từ Vịnh Bengal. Độ ẩm ở vùng tây nam và vùng núi nói chung cao hơn và phụ thuộc vào lượng mưa theo mùa. Ví dụ, tại Colombo, độ ẩm ban ngày cao hơn 70% trong cả năm, lên tới khoảng 90% vào tháng 6, mùa gió mùa. Anuradhapura có độ ẩm ban ngày ở mức thấp 60% vào thời kỳ gió mùa tháng 3, nhưng lên tới mức cao 79% trong mùa mưa tháng 11 và tháng 12. Ở vùng cao nguyên, độ ẩm ban ngày tại Kandy thường thay đổi trong khoảng 70 và 79%.

Hệ động thực vật

[sửa | sửa mã nguồn]

Mô hình hệ sinh thái Sri Lanka phụ thuộc trực tiếp vào lượng mưa. Vùng núi và vùng phía tây nam đất nước, được gọi là "vùng ẩm," có lượng mưa trung bình hàng năm 2500 mm. Đa số phần phía đông nam, đông và bắc đất nước là "vùng khô", với lượng mưa trung bình hàng năm 1200 tới 1900 mm. Đa số lượng mưa tại các khu vực đó xảy ra từ tháng 10 tới tháng 1; trong khoảng thời gian còn lại của năm, lượng mưa rất thấp, và mọi loài động thực vật phải biết cách gìn giữ hơi ẩm quý giá. Vùng bờ biển tây bắc và đông nam khô cằn nhận lượng mưa thấp nhất — 600 tới 1200 mm hàng năm — tập trung chủ yếu trong giai đoạn gió mùa mùa đông ngắn ngủi. Thời kỳ ra hoa đa dạng của cây keo thích ứng tốt với điều kiện cằn cỗi nhờ vậy loại cây này phát triển tốt trên Bán đảo Jaffna. Trong số những loài cây của các khu rừng đất khô, một số loài như sơn tiêu, mun, thiết mộc, và dái ngựa có phát triển trên đảo. Ở vùng ẩm, hệ thực vật chủ yếu là các loài cây nhiệt đới xanh tốt quanh năm, những loại cây cao, cây lá rộng và các loại cây leo phong phú. Những khu rừng cận nhiệt đới xanh tốt tương tự với những khu rừng ôn đới tại các vùng cao hơn. Trước kia rừng cây từng bao phủ hầu như toàn bộ hòn đảo, nhưng tới cuối thế kỷ XX, những vùng đất được xếp hạng là rừng và khu bảo vệ rừng chỉ chiếm một phần năm diện tích. Vườn Quốc gia Ruhunu ở phía đông nam là nơi sinh sống của những bầy voi, hươu nai và công, Vườn Quốc gia Wilpattu là nơi bảo tồn và sinh sống của nhiều loài chim nước như cò, bồ nông, cò quăm và cò thìa. Trong Chương trình Mahaweli Ganga thời những năm 1970 1980 ở phía bắc Sri Lanka, chính phủ đã lập bốn vùng với tổng diện tích lên tới 1.900 km² để thành lập các Vườn Quốc gia. Hòn đảo này có ba khu dự trữ sinh quyền, Hurulu, Sinharaja, và Kanneliya-Dediyagala-Nakiyadeniya.

Chính phủ và chính trị

[sửa | sửa mã nguồn]
Tòa nhà Quốc hội cũ của Sri Lanka, gần Galle Face Green ở Colombo. Hiện nay, nơi đây là trụ sở của Ban Thư ký Tổng thống.

Sri Lanka là một nước cộng hòa dân chủ và là một nhà nước đơn nhất vận hành theo hệ thống bán tổng thống.[41] Sri Lanka cũng là nền dân chủ lâu đời nhất ở châu Á.[42] Hầu hết các điều khoản của hiến pháp có thể được sửa đổi với sự đồng thuận của đa số hai phần ba tại quốc hội. Việc sửa đổi một số đặc điểm cơ bản nhất định của hiến pháp, bao gồm các điều khoản về biểu tượng quốc gia, tôn giáo, giới hạn nhiệm kỳ, việc gọi Sri Lanka là một nhà nước đơn nhất, và bản thân cơ chế bảo vệ hiến pháp, đòi hỏi cả đa số hai phần ba tại Quốc hội và sự chấp thuận thông qua một cuộc trưng cầu dân ý trên toàn quốc.[43][44] Hiến pháp Sri Lanka chính thức tuyên bố nước này là một nhà nước xã hội chủ nghĩa.[45]

Giống như nhiều nền dân chủ khác, chính phủ Sri Lanka có ba nhánh quyền lực:

  • Hành pháp: Tổng thống Sri Lankanguyên thủ quốc gia; tổng tư lệnh lực lượng vũ trang; người đứng đầu cơ quan hành pháp, và được bầu phổ thông với nhiệm kỳ 5 năm.[46] Tổng thống đứng đầu nội các và bổ nhiệm các bộ trưởng từ các nghị sĩ quốc hội đắc cử.[47] Tổng thống được miễn trừ truy tố pháp lý trong thời gian tại vị đối với bất kỳ hành động nào đã làm hoặc bỏ qua không làm với tư cách chính thức hoặc cá nhân.[48] Sau khi thông qua tu chính án hiến pháp thứ 19 vào năm 2015, chức vụ tổng thống bị giới hạn tối đa hai nhiệm kỳ, thay vì không giới hạn nhiệm kỳ như trước đây.
  • Lập pháp: Quốc hội Sri Lanka là cơ quan lập pháp đơn viện gồm 225 thành viên, với 196 thành viên được bầu từ 22 khu vực bầu cử có nhiều ghế và 29 thành viên được bầu theo đại diện tỷ lệ.[49] Các nghị sĩ được bầu thông qua phổ thông đầu phiếu với nhiệm kỳ 5 năm. Tổng thống có quyền triệu tập, đình chỉ hoặc kết thúc một kỳ họp lập pháp và giải tán Quốc hội bất cứ lúc nào sau bốn năm rưỡi. Quốc hội nắm giữ quyền lập ra mọi đạo luật.[50] Cấp phó của tổng thống và người đứng đầu chính phủ, tức thủ tướng, là người lãnh đạo đảng cầm quyền trong quốc hội và chia sẻ nhiều trách nhiệm hành pháp, chủ yếu trong các vấn đề đối nội.
Tòa án Tối cao Sri Lanka, Colombo
  • Tư pháp: Hệ thống tư pháp của Sri Lanka bao gồm một Tòa án Tối cao—tòa án cấp cao nhất và là tòa án cấp phúc thẩm cuối cùng,[50] một Tòa phúc thẩm, các Tòa án Cấp cao và một số tòa án cấp dưới. Hệ thống pháp luật hết sức phức tạp này phản ánh những ảnh hưởng văn hóa đa dạng.[51] Luật hình sự hầu như dựa hoàn toàn vào luật pháp nước Anh. Dân luật cơ bản bắt nguồn từ Luật La Mã-Hà Lan. Các đạo luật liên quan đến hôn nhân, ly hôn và thừa kế được áp dụng riêng cho từng cộng đồng.[52] Do các tập tục và tôn giáo cổ xưa, luật tục Sinhala (luật Kandyan), luật Thesavalamai và luật Sharia được áp dụng trong một số trường hợp đặc biệt.[53] Tổng thống bổ nhiệm các thẩm phán cho Tòa án Tối cao, Tòa phúc thẩm và các Tòa án Cấp cao. Một ủy ban dịch vụ tư pháp, bao gồm chánh án và hai thẩm phán Tòa án Tối cao, có quyền bổ nhiệm, thuyên chuyển và cách chức các thẩm phán tòa án cấp dưới.

Phân cấp hành chính

[sửa | sửa mã nguồn]
Các tỉnh Sri Lanka
Tỉnh của Sri Lanka

Sri Lanka được chia thành 9 tỉnh[54] và 25 quận.[55] Mỗi tỉnh được quản lý hành chính trực tiếp bởi một ủy ban tỉnh do nhân dân trực tiếp bầu ra. Các tỉnh gồm (tên tỉnh lị nằm trong dấu ngoặc đơn):

  1. Trung Bộ (Kandy)
  2. Bắc Trung Bộ (Anuradhapura)
  3. Bắc Bộ (Jaffna)
  4. Đông Bộ (Trincomalee)
  5. Tây Bắc Bộ (Kurunegala)
  6. Nam Bộ (Galle)
  7. Uva (Badulla)
  8. Sabaragamuwa (Ratnapura)
  9. Tây Bộ (Colombo)

Chính trị

[sửa | sửa mã nguồn]

Văn hóa chính trị hiện tại ở Sri Lanka là cuộc cạnh tranh giữa hai liên minh đối thủ: một bên là Liên minh Tự do Nhân dân Thống nhất (UPFA) có khuynh hướng trung tảtiến bộ, bắt nguồn từ Đảng Tự do Sri Lanka (SLFP); và bên kia là Đảng Quốc gia Thống nhất (UNP) có khuynh hướng cánh hữu và ủng hộ tư bản. Sau năm 2018, hai đảng chính trị lớn đã tách ra khỏi hai liên minh này: đảng Samagi Jana Balawegaya tách khỏi UNP, và đảng Sri Lanka Podujana Peramuna tách khỏi UPFA. Cánh thứ ba là đảng Janatha Vimukthi Peramuna ngày càng giành được nhiều sự ủng hộ kể từ năm 2022.[56]

Về cơ bản, Sri Lanka là một nền dân chủ đa đảng với nhiều đảng phái chính trị nhỏ đại diện cho Phật giáo, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa dân tộc Tamil. Tính đến tháng 7 năm 2011, có 67 đảng chính trị được đăng ký tại quốc gia này.[57] Trong số đó, Đảng Lanka Sama Samaja (LSSP), thành lập năm 1935, là đảng lâu đời nhất.[58]

UNP, do D. S. Senanayake thành lập năm 1946, cho đến gần đây vẫn là đảng chính trị đơn lẻ lớn nhất.[59] Đây là nhóm chính trị duy nhất luôn có đại diện trong tất cả các nhiệm kỳ quốc hội kể từ khi đất nước độc lập.[59] SLFP do S. W. R. D. Bandaranaike thành lập vào tháng 7 năm 1951.[60] SLFP giành chiến thắng đầu tiên vào năm 1956, đánh bại đảng cầm quyền UNP trong cuộc bầu cử quốc hội năm 1956.[60] Sau cuộc bầu cử quốc hội vào tháng 7 năm 1960, Sirimavo Bandaranaike trở thành thủ tướng và là người đứng đầu chính phủ dân bầu đầu tiên trên thế giới là nữ.[61]

G. G. Ponnambalam, một người theo chủ nghĩa dân tộc Tamil có tầm ảnh hưởng tương đương S. W. R. D. Bandaranaike,[62] đã thành lập Đảng Đại hội Tamil Toàn Ceylon (ACTC) vào năm 1944. Phản đối việc Ponnambalam hợp tác với D. S. Senanayake, một nhóm bất đồng chính kiến do S.J.V. Chelvanayakam lãnh đạo đã tách ra vào năm 1949 và thành lập đảng Illankai Tamil Arasu Kachchi (ITAK), còn được gọi là Đảng Liên bang, trở thành đảng chính trị chính của người Tamil ở Sri Lanka trong hai thập kỷ tiếp theo.[63] Đảng Liên bang chủ trương một lập trường cứng rắn hơn đối với người Sinhala.[64] Cùng với những cải cách hiến pháp năm 1972, ACTC và ITAK đã sáp nhập thành Mặt trận Thống nhất Tamil (sau này là Mặt trận Giải phóng Thống nhất Tamil). Sau một thời kỳ hỗn loạn khi các chiến binh Tamil trỗi dậy nắm quyền vào cuối những năm 1970, Liên minh Quốc gia Tamil đã tiếp quản vai trò của các đảng phái chính trị Tamil này vào tháng 10 năm 2001.[64][65]

Janatha Vimukthi Peramuna, một đảng chính trị Mác-Lênin do Rohana Wijeweera thành lập năm 1965, đóng vai trò là lực lượng thứ ba trong bối cảnh chính trị hiện tại.[66] Đảng này ủng hộ các chính sách cánh tả có phần cấp tiến hơn so với nền chính trị cánh tả truyền thống của LSSP và Đảng Cộng sản.[64] Đại hội Hồi giáo Sri Lanka được thành lập năm 1981 là đảng chính trị Hồi giáo lớn nhất tại quốc gia này.[67]

Tổng thống Mahinda Rajapaksa thất bại trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2015, chấm dứt 10 năm cầm quyền của ông. Tuy nhiên, người kế nhiệm ông ở vị trí Tổng thống Sri Lanka, Maithripala Sirisena, đã quyết định không tái tranh cử vào năm 2019.[68] Gia tộc Rajapaksa giành lại quyền lực trong cuộc bầu cử tổng thống tháng 11 năm 2019 khi em trai của Mahinda và là cựu chỉ huy quốc phòng thời chiến Gotabaya Rajapaksa đắc cử, sau đó ông tuyên thệ nhậm chức tân tổng thống của Sri Lanka.[69][70] Quyền lực của họ càng được củng cố vững chắc hơn qua cuộc bầu cử quốc hội vào tháng 8 năm 2020. Đảng chính trị của gia tộc này, Mặt trận Nhân dân Sri Lanka (được biết đến với tên viết tắt tiếng Sinhala là SLPP), đã giành chiến thắng vang dội và chiếm đa số áp đảo tại quốc hội. Năm thành viên của gia tộc Rajapaksa đã giành được ghế trong quốc hội khóa mới. Cựu tổng thống Mahinda Rajapaksa trở thành tân thủ tướng.[71]

Năm 2022, một cuộc khủng hoảng chính trị đã nổ ra do cuộc tranh giành quyền lực giữa Tổng thống Gotabaya RajapaksaQuốc hội Sri Lanka. Cuộc khủng hoảng này bị châm ngòi bởi các cuộc biểu tình chống chính phủ của người dân cũng như tình trạng ngày càng tồi tệ của nền kinh tế Sri Lanka kể từ năm 2019. Làn sóng phẫn nộ với chính phủ trên khắp Sri Lanka đã gây ra bất ổn chính trị chưa từng có, tạo nên những cú sốc lớn trên chính trường nước này.[72]

Ngày 20 tháng 7 năm 2022, Ranil Wickremesinghe đã được bầu làm Tổng thống thông qua một cuộc bầu cử tại quốc hội.[73] Tổng thống Ranil Wickremesinghe sau đó đã thất bại trước ứng cử viên thiên tả Anura Kumara Dissanayake trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2024.[74]

Đối ngoại

[sửa | sửa mã nguồn]

Sri Lanka là một thành viên sáng lập của Phong trào không liên kết. Sri Lanka có quan hệ đối ngoại thân mật với Ấn Độ.[75] Sri Lanka gia nhập Liên Hợp Quốc vào năm 1955. Hiện tại, Sri Lanka là thành viên của Khối Thịnh vượng chung, Hiệp hội Nam Á vì sự Hợp tác Khu vực, Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Phát triển châu ÁChương trình Colombo.

Theo truyền thống, Đảng Quốc gia Thống nhất ưu tiên các mối quan hệ với phương Tây, trong khi Đảng Tự do Sri Lanka lại nghiêng về mối quan hệ với phương Đông.[75] Bộ trưởng Tài chính Sri Lanka J. R. Jayewardene cùng với Bộ trưởng Ngoại giao Úc lúc bấy giờ là Ngài Percy Spencer đã đề xuất Kế hoạch Colombo tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Khối Thịnh vượng chung được tổ chức ở Colombo năm 1950.[76] Tại Hội nghị Hòa bình San Francisco năm 1951, trong khi nhiều quốc gia còn e ngại, Sri Lanka đã lên tiếng ủng hộ một nước Nhật Bản tự do và từ chối nhận bồi thường cho những thiệt hại trong Chiến tranh thế giới thứ hai vì tin rằng điều đó sẽ gây tổn hại cho nền kinh tế của Nhật Bản.[77] Mối quan hệ Sri Lanka - Trung Quốc bắt đầu ngay từ khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập vào năm 1949. Hai nước đã ký kết Hiệp ước Cao su-Gạo quan trọng vào năm 1952.[78] Sri Lanka đóng vai trò then chốt tại Hội nghị Á - Phi năm 1955, một bước đi quan trọng trong việc hình thành Phong trào Không liên kết.[79]

Chính phủ Bandaranaike năm 1956 đã thay đổi đáng kể các chính sách thân phương Tây của chính phủ UNP. Chính phủ này đã công nhận nhà nước Cuba dưới sự lãnh đạo của Fidel Castro vào năm 1959. Ngay sau đó, nhà cách mạng Cuba Che Guevara đã có chuyến thăm tới Sri Lanka.[80] Hiệp ước Sirima–Shastri năm 1964[81] và Hiệp ước Sirima–Gandhi năm 1974[82] đã được ký kết giữa các nhà lãnh đạo Sri Lanka và Ấn Độ nhằm nỗ lực giải quyết cuộc tranh chấp lâu năm về tình trạng của những công nhân đồn điền gốc Ấn Độ. Năm 1974, Kachchatheevu, một hòn đảo nhỏ nằm ở Eo biển Palk, chính thức được nhượng lại cho Sri Lanka.[83] Mối quan hệ giữa Sri Lanka và Ấn Độ trở nên căng thẳng dưới thời chính quyền của J. R. Jayawardene.[84][85] Vì lý do này, Sri Lanka đã từng áp dụng trong một thời gian ngắn chính sách 'Hướng Đông',[86]:1 và có thời điểm họ đã theo đuổi việc gia nhập ASEAN thay vì gia nhập SAARC.[87][88]:64 Sự rạn nứt ngày càng trầm trọng đã dẫn đến việc Ấn Độ can thiệp vào Nội chiến Sri Lanka và sau đó triển khai Lực lượng Gìn giữ Hòa bình Ấn Độ vào năm 1987.[89] Hiện nay, Sri Lanka đang duy trì các mối quan hệ chặt chẽ với Trung Quốc,[90] Nga,[91] và Pakistan.[92]

Quân sự

[sửa | sửa mã nguồn]

Lực lượng Vũ trang Sri Lanka, bao gồm Lục quân Sri Lanka, Hải quân Sri Lanka và Không quân Sri Lanka, chịu sự quản lý của Bộ Quốc phòng.[93] Tổng quân số của ba quân chủng này là khoảng 346.000 người, cùng với gần 36.000 quân dự bị.[94] Sri Lanka không áp dụng chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc.[95] Các đơn vị bán quân sự bao gồm Lực lượng Đặc nhiệm, Lực lượng An ninh Dân sự và Lực lượng Tuần duyên Sri Lanka.[96][97]

Kể từ khi giành độc lập vào năm 1948, trọng tâm chính của lực lượng vũ trang nước này là đảm bảo an ninh nội địa, trấn áp ba cuộc nổi dậy lớn, trong đó có hai cuộc nổi dậy do các tay súng Marxist thuộc đảng JVP tiến hành và một cuộc xung đột kéo dài 26 năm với Lực lượng Những con hổ giải phóng Tamil (LTTE). Lực lượng vũ trang Sri Lanka đã được đặt trong tình trạng tổng động viên liên tục suốt 30 năm qua.[98][99] Các lực lượng vũ trang của quốc gia này cũng đã tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc từ đầu thập niên 1960, đóng góp quân số cho các đội hình thường trực được triển khai tại một số phái bộ của Liên Hợp Quốc ở Chad, Lebanon và Haiti.[100]

Theo Chỉ số Hòa bình Toàn cầu năm 2024, Sri Lanka là quốc gia hòa bình thứ 100 trên thế giới.[101]

Nhân quyền

[sửa | sửa mã nguồn]

Về mặt chính thức, hiến pháp Sri Lanka bảo đảm các quyền con người như đã được Liên Hợp Quốc phê chuẩn. Tuy nhiên, một số tổ chức như Tổ chức Ân xá Quốc tế, Freedom from Torture, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền,[102] cũng như chính phủ Anh[103]Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã lên tiếng chỉ trích tình trạng vi phạm nhân quyền tại Sri Lanka.[104] Cả Chính phủ Sri Lanka và tổ chức LTTE đều bị cáo buộc vi phạm nhân quyền. Một báo cáo từ ban cố vấn của Tổng thư ký Liên Hợp Quốc đã cáo buộc cả LTTE và chính phủ Sri Lanka phạm tội ác chiến tranh trong những giai đoạn cuối của cuộc nội chiến.[105][106] Tham nhũng vẫn là một vấn nạn lớn ở Sri Lanka, và những người đứng lên chống lại tham nhũng nhận được rất ít sự bảo vệ.[107] Điều 365 của Bộ luật Hình sự Sri Lanka (đã 135 năm tuổi) hình sự hóa các hành vi đồng tính luyến ái, với mức án có thể lên tới 10 năm tù.[108]

Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc đã ghi nhận hơn 12.000 cá nhân bị mất tích sau khi bị lực lượng an ninh Sri Lanka giam giữ. Đây là con số cao thứ hai trên thế giới kể từ khi Nhóm Công tác về vấn đề này được thành lập vào năm 1980.[109] Chính phủ Sri Lanka xác nhận 6.445 người trong số đó đã tử vong. Tuy nhiên, các cáo buộc về lạm dụng nhân quyền vẫn chưa chấm dứt kể cả khi cuộc xung đột sắc tộc đã khép lại.[110]

Cao ủy Nhân quyền Liên Hợp Quốc Navanethem Pillay đã đến thăm Sri Lanka vào tháng 5 năm 2013. Sau chuyến thăm, bà phát biểu: "Chiến tranh [tại Sri Lanka] có thể đã kết thúc, nhưng trong lúc đó, nền dân chủ đã bị suy yếu và pháp quyền bị xói mòn." Bà Pillay đề cập đến sự can thiệp ngày càng sâu của quân đội vào đời sống dân sự cũng như các báo cáo về việc quân đội chiếm đoạt đất đai. Bà cũng cho biết, trong thời gian ở Sri Lanka, dù được tự do đi lại bất cứ đâu mình muốn, nhưng những người dân Sri Lanka đến gặp bà đều bị lực lượng an ninh quấy rối và đe dọa.[111][112]

Năm 2012, tổ chức từ thiện của Anh mang tên Freedom from Torture báo cáo đã tiếp nhận 233 trường hợp nạn nhân sống sót sau tra tấn từ Sri Lanka được chuyển đến để điều trị lâm sàng hoặc sử dụng các dịch vụ khác do tổ chức này cung cấp. Cùng năm đó, nhóm đã xuất bản ấn phẩm Out of the Silence (Thoát khỏi sự im lặng), trong đó ghi lại bằng chứng về các hành vi tra tấn ở Sri Lanka và chứng minh rằng vấn nạn này vẫn tiếp diễn rất lâu sau khi cuộc nội chiến kết thúc vào năm 2009.[113] Vào ngày 29 tháng 7 năm 2020, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền cho biết chính phủ Sri Lanka đã nhắm mục tiêu vào các luật sư, người bảo vệ nhân quyền và nhà báo nhằm đàn áp những tiếng nói chỉ trích chính phủ.[114]

Sự phát triển của GDP thực tế bình quân đầu người, từ năm 1820 đến 2018

Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế, GDP của Sri Lanka tính theo sức mua tương đương đứng thứ hai trong khu vực Nam Á về thu nhập bình quân đầu người. Vào thế kỷ 19 và 20, Sri Lanka trở thành một nền kinh tế đồn điền nổi tiếng với việc sản xuất và xuất khẩu quế, cao su cùng với trà Ceylon, vốn vẫn là một mặt hàng xuất khẩu mang thương hiệu quốc gia cho đến nay.[115] Việc phát triển các cảng biển hiện đại dưới thời cai trị của thực dân Anh đã nâng cao tầm quan trọng chiến lược của hòn đảo.[116] Từ năm 1948 đến 1977, chủ nghĩa xã hội đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến các chính sách kinh tế của chính phủ. Các đồn điền thời thuộc địa bị tháo dỡ, các ngành công nghiệp bị quốc hữu hóa và một nhà nước phúc lợi được thiết lập. Năm 1977, nền kinh tế thị trường tự do được áp dụng, đi kèm với các chính sách tư nhân hóa, bãi bỏ quy định và thúc đẩy doanh nghiệp tư nhân.[117]

Trung tâm Thương mại Thế giới Colombo ở Colombo. Có thể thấy cả Ban Thư ký Tổng thống, Ngân hàng Ceylon và Khách sạn Galadari trong hình.

Mặc dù việc sản xuất và xuất khẩu trà, cao su, cà phê, đường cùng các mặt hàng khác vẫn giữ vai trò quan trọng, nhưng quá trình công nghiệp hóa đã làm tăng thêm tầm quan trọng của các ngành chế biến thực phẩm, dệt may, viễn thông và tài chính. Các lĩnh vực kinh tế chính của đất nước là du lịch, xuất khẩu trà, may mặc, sản xuất lúa gạo và các sản phẩm nông nghiệp khác. Bên cạnh các lĩnh vực này, lao động ở nước ngoài, đặc biệt là ở khu vực Trung Đông, cũng đóng góp một nguồn ngoại tệ đáng kể cho đất nước.[118]

Năm 2020, khu vực dịch vụ chiếm 59,7% GDP, khu vực công nghiệp chiếm 26,2% và khu vực nông nghiệp chiếm 8,4%.[119] Khu vực tư nhân chiếm tới 85% quy mô nền kinh tế.[120] Trung Quốc, Ấn Độ và Hoa Kỳ là những đối tác thương mại lớn nhất của Sri Lanka.[121] Sự chênh lệch kinh tế vẫn tồn tại giữa các tỉnh, trong đó Tỉnh Tây đóng góp 45,1% GDP, còn Tỉnh Nam và Tỉnh Trung tâm đóng góp lần lượt là 10,7% và 10%.[122] Sau khi chiến tranh kết thúc, Tỉnh Bắc đã ghi nhận mức tăng trưởng GDP kỷ lục đạt 22,9% vào năm 2010.[123]

Mặt hàng xuất khẩu nổi tiếng nhất của Sri Lanka, trà Ceylon, được ISO đánh giá là loại trà sạch nhất thế giới về dư lượng thuốc trừ sâu. Sri Lanka cũng là nước xuất khẩu trà lớn thứ ba thế giới.[124]

Thu nhập bình quân đầu người của Sri Lanka đã tăng gấp đôi trong giai đoạn từ năm 2005 đến 2011.[125] Trong cùng thời kỳ, tỷ lệ nghèo đói giảm từ 15,2% xuống 7,6%, tỷ lệ thất nghiệp giảm từ 7,2% xuống 4,9%, vốn hóa thị trường của Sở giao dịch chứng khoán Colombo tăng gấp bốn lần và thâm hụt ngân sách chính phủ tăng gấp đôi.[118] Khoảng 99% hộ gia đình ở Sri Lanka đã có điện; 93,2% dân số được tiếp cận với nguồn nước uống an toàn; và 53,1% được sử dụng nước máy.[119] Tình trạng bất bình đẳng thu nhập cũng đã giảm trong những năm gần đây, thể hiện qua hệ số Gini đạt mức 0,36 vào năm 2010.[126]

Năm 2016, Sri Lanka xếp thứ 5 trong Chỉ số Cho đi Thế giới (World Giving Index), cho thấy mức độ hài lòng và tinh thần từ thiện rất cao trong xã hội nước này.[127] Năm 2010, tờ The New York Times đã xếp Sri Lanka đứng đầu trong danh sách 31 điểm đến nên ghé thăm.[128] Tính đến năm 2018, S&P Dow Jones Indices phân loại Sri Lanka là một thị trường cận biên.[129] Về Chỉ số Phát triển Con người (HDI), Sri Lanka xếp hạng vượt trội so với các quốc gia Nam Á khác với mức điểm 0,750.

Đến năm 2016, do đầu tư mạnh vào phát triển cơ sở hạ tầng, nợ công của đất nước đã tăng vọt đến mức cận kề phá sản, buộc chính phủ phải xin gói cứu trợ từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).[130]

Vào tháng 9 năm 2021, Sri Lanka tuyên bố tình trạng khủng hoảng kinh tế trầm trọng.[131] Thống đốc Ngân hàng Trung ương nước này đã phải từ chức giữa bối cảnh khủng hoảng.[132] Do tình hình cấp bách, Quốc hội đã ban hành các quy định khẩn cấp nhằm ngăn chặn hành vi "đầu cơ tích trữ lương thực".[133][134]

Giao thông

[sửa | sửa mã nguồn]
Colombo-Galle Face Green

Đa số các thành phố Sri Lanka đều được kết nối với mạng đường sắt, do công ty nhà nước Sri Lanka Railways, điều hành. Tuyến đường sắt đầu tiên được khánh thành ngày 26 tháng 4 năm 1867, nối Colombo với Kandy. Tổng chiều dài các con đường tại Sri Lanka vượt quá 11.000 kilômét, đa số đã được trải nhựa. Chính phủ đã đưa ra nhiều chương trình đường cao tốc nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế và hệ thống vận tải quốc gia, gồm tuyến Đường cao tốc Colombo-Katunayake, Đường cao tốc Colombo-Kandy (Kadugannawa), Đường cao tốc Colombo-Padeniya và Xa lộ Vành đai ngoài nhằm giảm nhẹ áp lực giao thông cho Colombo. Cũng có những kế hoạch xây dựng một cây cầu lớn nối Jaffna với thành phố Chennai của Ấn Độ.

Ceylon Transport Board là cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm điều hành các dịch vụ xe buýt trên toàn hòn đảo. Sri Lanka cũng có 430 kilômét đường thủy nội địa. Nước này có các cảng nước sâu tại Colombo, TrincomaleeGalle. Cũng có một cảng nông, và nhỏ hơn tại Kankesanturai, phía bắc Jaffna. Có 12 sân bay có đường băng trải nhựa và 2 sân bay đường băng đất tại Sri Lanka. SriLankan Airlines là hãng vận chuyển hàng không chính thức quốc gia, một phần công ty này hiện do Emirates sở hữu và điều hành. Hãng đã được Skytrax bầu là hãng hàng không tốt nhất khu vực Nam Á. SriLankan Air Taxi là công ty nhỏ hơn, chuyên chở hàng không nội địa, trong khi Expo AviationLankair là những công ty hàng không tư nhân. Sân bay Quốc tế Bandaranaikecảng hàng không quốc tế duy nhất của đất nước, nằm tại Katunayaka, cách Colombo 22 km về phía bắc.

Ngành du lịch Sri Lanka đang trên đà phục hồi, với doanh thu đạt hơn 1,5 tỷ USD trong nửa đầu năm 2024, tăng 78% so với cùng kỳ năm trước. Lượng khách du lịch cũng tăng lên mức 1,01 triệu lượt, cao hơn 62% so với cùng kỳ năm 2023. Sự tăng trưởng này là nhờ vào các biện pháp chủ động của chính phủ cũng như những cải thiện từ hãng hàng không quốc gia SriLankan Airlines.[135] Chính phủ đã triển khai một chiến dịch tiếp thị du lịch toàn cầu và miễn thị thực cho du khách đến từ một số quốc gia nhằm kích cầu du lịch.

Nhân khẩu

[sửa | sửa mã nguồn]
Dân số Sri Lanka, (1871–2001)
Tượng Phật tại Mihintale.
Một ngôi đền Hindu tại Colombo

Sri Lanka là nước đông dân thứ 53 trên thế giới, với tốc độ tăng trưởng dân số hàng năm 0,79%. Sri Lanka có mức sinh 15,63 trẻ trên 1.000 người và mức tử 6,49 trên 1,000 dân. Mật độ dân số cao nhất ở khu vực phía tây Sri Lanka, đặc biệt tại và xung quanh Colombo. Một lượng nhỏ dân số là người Wanniyala-Aetto, cũng được gọi là Veddahs. Họ được cho là nhóm người bản xứ xa xưa nhất của hòn đảo. Người Sinhala là nhóm sắc tộc đông nhất nước, chiếm khoảng 74% tổng dân số. Người Tamil Sri Lanka chiếm 18% dân số và chủ yếu tập trung ở vùng phía đông bắc đất nước. Những người Tamil trước kia được thực dân Anh đưa tới đây từ Ấn Độ với tư cách những lao động giao kèo để làm việc trên những cánh đồng, được gọi là người Tamil "Gốc Ấn Độ". Họ khác biệt với người Tamil bản xứ đã từng sống ở Sri Lanka từ thời cổ đại. Một lượng không nhỏ dân số là người Moor, họ có nguồn gốc từ những nhà buôn và người nhập cư Ả rập. Họ chủ yếu sống tại các tỉnh phía đông. Ngoài ra còn có các nhóm sắc tộc nhỏ khác như Burghers (lai con cháu người châu Âu) và người Malay.

Đô thị

[sửa | sửa mã nguồn]
 
 
20 thành phố hoặc thị xã lớn nhất tại Sri Lanka
(Thống kế năm 2012 của Cục Điều tra dân số và Thống kê)[136]
Hạng Tên Tỉnh Dân số Hạng Tên Tỉnh Dân số
Colombo
Colombo
Kaduwela
Kaduwela
1ColomboTỉnh Tây561,31411GalleTỉnh Nam86,333
2KaduwelaTỉnh Tây252,04112BatticaloaTỉnh Đông86,227
3MaharagamaTỉnh Tây196,42313JaffnaTỉnh Bắc80,829
4KesbewaTỉnh Tây185,12214MataraTỉnh Nam74,193
5Dehiwala-Mount LaviniaTỉnh Tây184,46815GampahaTỉnh Tây62,335
6MoratuwaTỉnh Tây168,28016KatunayakeTỉnh Tây60,915
7NegomboTỉnh Tây142,44917BoralesgamuwaTỉnh Tây60,110
8Sri Jayawardenepura KotteTỉnh Tây107,92518KolonnawaTỉnh Tây60,044
9KalmunaiTỉnh Đông99,89319AnuradhapuraTỉnh Trung Bắc50,595
10KandyTỉnh Trung tâm98,82820TrincomaleeTỉnh Đông48,351

Ngôn ngữ

[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng SinhalaTiếng Tamil là hai ngôn ngữ chính thức của Sri Lanka. Tiếng Anh được khoảng 10% dân số sử dụng, và phần lớn được dùng cho giáo dục, khoa họcthương mại. Các thành viên của cộng đồng Burgher sử dụng các biến thể tiếng Creole Bồ Đào Nhatiếng Hà Lan ở các mức độ khác nhau.

Tôn giáo

[sửa | sửa mã nguồn]

Tôn giáo tại Sri Lanka (Điều tra năm 2024)[137]

  Phật giáo (69.8%)
  Ấn Độ giáo (12.5%)
  Hồi giáo (10.7%)
  Kitô giáo (6.9%)
  Khác (0.1%)

Phật giáo là tôn giáo lớn nhất và được coi là "tôn giáo chính thức" của Sri Lanka theo Chương II, Điều 9 Hiến pháp: "Cộng hòa Sri Lanka sẽ trao cho Phật giáo vị trí hàng đầu và do đó, Nhà nước có nghĩa vụ bảo vệ và bồi dưỡng Phật pháp ".[138][139] 69,8% dân số Sri Lanka là tín đồ Phật giáo, trong đó phần lớn theo truyền thống Phật giáo Nam truyền.[140] Hầu hết tín đồ Phật giáo là người Sinhala cùng một bộ phận nhỏ là người Tamil. Phật giáo được Mahinda Maurya truyền bá vào Sri Lanka vào thế kỷ thứ 2 TCN.[140] Một nhánh của cây Bồ đề nơi Đức Phật giác ngộ cũng được mang đến Sri Lanka trong cùng khoảng thời gian này. Kinh điển Pāli (Thripitakaya), vốn trước đây được lưu giữ bằng hình thức truyền miệng, đã lần đầu tiên được ghi chép lại thành văn bản tại Sri Lanka vào khoảng năm 30 TCN.[141] Sri Lanka có lịch sử Phật giáo liên tục lâu đời nhất so với bất kỳ quốc gia có đa số người dân theo đạo Phật nào.[140]

Mặc dù những người theo Ấn Độ giáo tại Sri Lanka chỉ chiếm thiểu số, tôn giáo này đã hiện diện ở Sri Lanka ít nhất từ thế kỷ thứ 2 TCN.[142] Ấn Độ giáo từng là tôn giáo thống trị tại Sri Lanka trước khi Phật giáo du nhập. Phật giáo được Mahinda, con trai của Hoàng đế Ashoka, truyền bá vào Sri Lanka dưới triều đại của Vua Devanampiya Tissa;[143] người Sinhala đã tiếp nhận Phật giáo trong khi người Tamil vẫn duy trì tín ngưỡng Ấn Độ giáo tại đây. Tuy nhiên, chính các hoạt động giao lưu qua Eo biển Palk mới thực sự tạo nền tảng cho sự tồn tại của Ấn Độ giáo ở Sri Lanka. Shiva giáo (tôn thờ thần Shiva) là nhánh chính được người Tamil thực hành, do đó hầu hết kiến trúc đền đài và triết học truyền thống của Sri Lanka đều chịu ảnh hưởng sâu sắc từ nhánh Ấn Độ giáo này. Thirugnanasambanthar đã nhắc đến tên của một số ngôi đền Hindu tại Sri Lanka trong các tác phẩm của ông.[144]

Hồi giáo là tôn giáo phổ biến thứ ba tại Sri Lanka, được các thương nhân Ả Rập mang đến hòn đảo trong suốt nhiều thế kỷ, bắt đầu từ khoảng giữa hoặc cuối thế kỷ thứ 7 CN. Hầu hết các tín đồ Hồi giáo trên đảo hiện nay là người theo phái Sunni thuộc trường phái Shafi'i[145] và được cho là hậu duệ của các thương nhân Ả Rập với những phụ nữ bản địa mà họ kết hôn.[146]

Các nhà sư Phật giáo ở Sri Lanka tạo thành một cộng đồng lớn cống hiến cho truyền thống Phật giáo Theravada

Kitô giáo đã đến Sri Lanka ít nhất từ thế kỷ thứ 5 (và có thể là từ thế kỷ thứ 1),[147] giành được chỗ đứng rộng rãi hơn nhờ các thực dân phương Tây bắt đầu đến đây vào đầu thế kỷ 16.[148] Khoảng 7,4% dân số Sri Lanka là tín đồ Kitô giáo, trong đó 82% theo Công giáo La Mã, những người có di sản tôn giáo bắt nguồn trực tiếp từ người Bồ Đào Nha. Người Công giáo Tamil cho rằng di sản tôn giáo của họ bắt nguồn từ Thánh Phanxicô Xaviê cũng như các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha. Những giáo phái Kitô giáo còn lại gồm Giáo hội Anh giáo Ceylon và các giáo phái Kháng Cách khác.[149]

Nơi đây cũng có một cộng đồng nhỏ những người nhập cư theo Hỏa giáo (Zoroastrianism) từ Ấn Độ (người Parsi) đã định cư ở Ceylon trong thời kỳ cai trị của thực dân Anh.[150] Cộng đồng này đang ngày càng suy giảm trong những năm gần đây.[151]

Tôn giáo đóng một vai trò nổi bật trong đời sống và văn hóa của người Sri Lanka. Phần lớn những Phật tử tuân thủ các ngày lễ Poya hàng tháng theo âm lịch, trong khi những tín đồ Ấn Độ giáo và Hồi giáo cũng tổ chức các ngày lễ riêng của họ. Trong một cuộc thăm dò của Gallup vào năm 2008, Sri Lanka được xếp hạng là quốc gia sùng đạo thứ ba trên thế giới, với 99% người dân Sri Lanka cho biết tôn giáo là một phần quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của họ.[152]

Giáo dục

[sửa | sửa mã nguồn]
Viện Công nghệ nano Sri Lanka là viện nghiên cứu chuyên về lĩnh vực công nghệ nano.

Sri Lanka có tỷ lệ biết chữ là 92,9%,[119] một trong những tỷ lệ biết chữ cao nhất trong số quốc gia đang phát triển.[153] Tỷ lệ biết chữ thanh niên của Sri Lanka đạt 98,8%,[154] tỷ lệ hiểu biết in học đạt 35%[155] và tỷ lệ học sinh đi học tiểu học đạt hơn 99%.[156] Giáo dục là bắt buộc trong 9 năm.

Có rất nhiều trường học và viện do Phật giáo và Thiên chúa giáo tổ chức. Tại đây học sinh được giảng dạy về tôn giáo và giáo dục hiện đại. Số lượng các madrassah cũng đang ngày càng tăng trong nước. Sri Lanka cũng có một số lượng lớn các trường đại học công và tư. Đa số chúng hoạt động theo mô hình các trường đại học và cao đẳng Anh. Royal College, Colombo là trường lâu đời nhất Sri Lanka, được thành lập năm 1835. Các trường nổi tiếng nhất tại Sri Lanka gồm Đại học Colombo, Đại học Kelaniya, Đại học Sri Jayewardenepura, Đại học Moratuwa, Đại học Peradeniya, Đại học Jaffna, Đại học Ruhuna, và Đại học Đông Sri Lanka.

Sự phát triển của tuổi thọ bình quân

Người dân Sri Lanka có tuổi thọ bình quân tính từ lúc sinh là 75,5 tuổi, cao hơn 10% so với mức trung bình của thế giới.[119][118] Tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh ở mức 8,5 trên 1.000 ca sinh và tỷ lệ tử vong ở thai phụ là 0,39 trên 1.000 ca sinh, ngang bằng với số liệu của các quốc gia phát triển. Hệ thống chăm sóc sức khỏe toàn dân theo định hướng "vì người nghèo"[157] được áp dụng tại Sri Lanka đã đóng góp rất lớn vào những con số ấn tượng kể trên.[158] Sri Lanka đứng đầu trong số các quốc gia Đông Nam Á về tỷ lệ tử vong do tự tử, với 33 ca tử vong trên 100.000 người. Theo Cục Điều tra Dân số và Thống kê, nghèo đói, những thú vui độc hại và việc không có khả năng đối phó với các tình huống căng thẳng là những nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ tự tử cao.[159] Vào ngày 8 tháng 7 năm 2020, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tuyên bố rằng Sri Lanka đã loại trừ thành công bệnh rubellasởi trước mục tiêu đề ra là vào năm 2023.[160]

Các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STI) tại Sri Lanka, bao gồm giang maimụn rộp sinh dục, chủ yếu được ghi nhận ở những khu vực có hoạt động du lịch phát triển và trong các nhóm người có nguy cơ cao.[161]

Văn hóa Sri Lanka bị ảnh hưởng sâu sắc từ Phật giáo, một tôn giáo quan trọng có ảnh hưởng lớn đến chính trị, văn hóa, xã hội Sri Lanka trong suốt hàng nghìn năm qua. Hòn đảo này còn là nơi xuất phát của hai nền văn hóa truyền thống: văn hóa Sinhala (tập trung tại các thành phố cổ Kandy và Anuradhapura) và Tamil (tập trung tại thành phố Jaffna, thư viện công cộng đã bị phá hủy năm 1983 tại đây là trung tâm lưu trữ văn khố Tamil của thế giới). Gần đây hơn xuất hiện thêm nền văn hóa thực dân Anh và sau này là Sri Lanka, đặc biệt tại các khu vực thành thị, và bị ảnh hưởng rất nhiều từ phương tây. Ví dụ, ngay thời gian gần đây, đa số người Sri Lanka sống tại các ngôi làng thường ăn món ăn truyền thống, chế tạo các đồ truyền thống và thể hiện mình thông qua nghệ thuật truyền thống. Nhưng kinh tế tăng trưởng cộng với sự canh tranh ngày càng lớn từ phía các nước phát triển khiến người Sri Lanka phải chuyển đổi cách thức sản xuất, tây phương hóa, đánh mất bản sắc và bị đồng hóa.

Cơm và cà ri Sri Lanka

Người Sri Lanka đã du nhập ảnh hưởng phương tây vào chế độ ăn hàng ngày như gạocàri, pittu (hỗn hợp gạo rang trộn với nước dừa tươi, sau đó được nấu trong ống tre). Kiribath (gạo nấu với nước dừa đặc thành món tráng miệng không ngọt cùng với đồ gia vị rất cay được gọi là ";lunumiris"), wattalapam (đồ tráng miệng nguồn gốc Malay làm từ nước dừa, đường thốt nốt, hạt đào lộn hột, trừng, và nhiều hương vị gồm quế, đinh hương và nhục đậu khấu), kottu, và hublông ("appa"), bột nhão nấu nhanh trong một chiếc chảo nóng, thêm trứng, sữa hay hương vị. Thực phẩm Sri Lanka cũng có ảnh hưởng từ Hà Lan và Bồ Đào Nha, cộng đồng Burgher trên đảo gìn giữ nét văn hóa này thông qua các món ăn ưa thích truyền thống như Lamprais (gạo nấu cuốn trong lá chuối rồi nướng), Breudher (bánh Giáng sinh Hà Lan) và Bolo Fiado (Bánh kiểu Bồ Đào Nha). Là một trong những nhà sản xuất chè lớn nhất thế giới (Gia đình Hoàng gia Vương quốc Anh luôn dùng chè Ceylon), người Sri Lanka uống nhiều chè.

Tôn giáo đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống và văn hóa Sri Lanka. Cộng đồng Phật tử đa số luôn tổ chức Ngày Poya, mỗi lần một tháng theo Âm lịch. Tín đồ HindusHồi giáo cũng tổ chức những ngày lễ của riêng mình. Có nhiều đền thờ Phật giáo tại Sri Lanka và nhiều thánh đường Hồi giáo, đền Ấn giáo cũng như nhà thờ Cơ Đốc giáo trên khắp hòn đảo. Phía Bắc và phía Đông hòn đảo có nhiều đền thờ Hồi giáo và đền Ấn giáo do một bộ phận lớn người TamilHồi giáo sống tại những vùng này. Nhà thờ có nhiều dọc bờ biển phía nam bởi đây là nơi tập trung các tín đồ Cơ Đốc giáo, đặc biệt là Công giáo Rôma. Phía bên trong hòn đảo với đa số tín đồ Phật giáo, nhưng thực tế ở bất cứ nơi nào tại nước này đều có các tín đồ Phật giáo.

Truyền thông

[sửa | sửa mã nguồn]

Radio Ceylontrạm phát sóng radio đầu tiên hoạt động tại châu Á, được Edward Harper thành lập năm 1923, chỉ ba năm sau khi đài phát thanh bắt đầu xuất hiện tại châu Âu. Đây vẫn là một trong những chương trình được nhiều người theo dõi nhất tại châu Á, sóng của nó tới được các nước châu Á lân cận. Đài do Tổ hợp truyền thanh Sri Lanka quản lý và phát sóng các chương trình bằng tiếng Sinhala, Tamil, tiếng Anh và Hindi. Từ thập niên 1980, một lượng lớn các đài phát thanh tư nhân như Raja FM, Shree FMSooriyan FM đã xuất hiện và thu được những thành công thương mại. Mạng lưới vô tuyến phổ thông nhất gồm ETV, ARTv, Sirasa TVShakthi TV. Các mạng lưới truyền hình quốc tế từ Ấn Độ, Đông Nam Á, châu Âu và châu Mỹ cũng được dân chúng theo dõi thường xuyên, truyền hình cáp và truyền hình vệ tinh ngày càng được tầng lớp trung lưu Sri Lanka để ý theo dõi. Những ấn bản đông khách gồm những tờ báo tiếng Anh Daily MirrorThe Sunday ObserverThe Sunday Times. Dinakaran vvà Uthayan là những tờ báo tiếng Tamil có nhiều độc giả, và LankadeepaLakbima là báo tiếng Sinhala. Đa số các tờ báo đều do công ty nhà nước Lakehouse Press sở hữu và điều hành. Cộng đồng người Do Thái Sri Lanka cũng có một tờ tạp chí riêng của họ, *- Serendipity magazine

Thể thao

[sửa | sửa mã nguồn]
Sân SCC, tháng 3 năm 2001 tại Colombo, (Trận đấu tập giữa Sri Lanka và Anh)

Đại sứ quốc gia môn criket là Muttiah Muralitharan. Môn thể thao quốc gia tại Sri Lanka là bóng chuyền, trong khi các môn thể thao nước, điền kinh, bóng đá,tennisrugby cũng được nhiều người ưa thích. Có khá nhiều các câu lạc bộ thể thao công cộng và tư nhân tại Colombo. Các trường học và đại học Sri Lanka thường tổ chức các đội thể thao riêng, thi đấu cấp tỉnh và quốc gia. Các môn thể thao nước như bơi thuyền, lướt sóng, bơi và lặn có bình khí nén trên bờ biển, thu hút rất nhiều người dân Sri Lanka cũng như các du khách. Sri Lanka có nhiều sân vận động, gồm Sinhalese Sports Club Ground, R. Premadasa Stadium vvà Rangiri Dumbulla Stadium tại Colombo cũng như Galle International Stadium tại Galle.

Dù các trận cricket hay bóng đá thỉnh thoảng bị ngắt quãng bởi những trận mưa lớn hay những lo ngại về an ninh từ phía lực lượng LTTE, Sri Lanka đã đăng cai Asia Cup và nhiều giải khác. Nước này cũng đồng tổ chức 1996 Cricket World Cup với Ấn Độ và Pakistan, và sẽ đồng tổ chức 2011 Cricket World Cup. Đội cricket quốc gia Sri Lanka đã đạt được những thành công lớn trong thập kỷ 1990, từ vị thế lép vế tới đạt chức vô địch 1996 World Cup và Asia Cup năm 1996 và 2004. Sri Lanka đã sản sinh ra nhiều huyền thoại thể thao như Roy Dias, Arjuna Ranatunga, Aravinda de Silva, Sanath Jayasuriya, Roshan Mahanama, Marvan Attapatu, Muttiah Muralitharan, and Chaminda Vaas. Mahela Jayawardene giữ kỷ lục ghi số điểm cao nhất của một người Sri Lanka trong một test cricket. Muttiah Muralitharan, bậc thầy nổi tiếng về off spin bowling đã có được hơn 600 wickets trong test cricket, biến ông thành bowler thành công nhất trong lịch sử môn cricket. Đội criket hiện tại do Mahela Jayawardene dẫn dắt, có một số cầu thủ trẻ triển vọng như Kumar Sangakkara, Upul TharangaLasith Malinga trong khi vẫn có sự phục vụ của những cầu thủ kỳ cựu như Sanath Jayasuriya, Chaminda Vaas và Muttiah Muralitharan.

  1. tiếng Sinhala: ශ්රී ලංකා, đã Latinh hoá: Śrī Laṅkā (IPA: [ʃriː laŋkaː]); tiếng Tamil: இலங்கை, đã Latinh hoá: Ilaṅkai (IPA: [ilaŋɡaj]), còn có phiên âm tiếng Việt là Xrilanca[13]
  2. Many names have been used to refer to the island, with Ceylon being used post-independence and still in use in some cases. For other names, see Names of Sri Lanka.

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. "Sri Jayewardenepura Kotte". Encyclopædia Britannica. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2020.
  2. "Colombo". Encyclopædia Britannica. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2020.
  3. "Official Languages Policy". languagesdept.gov.lk. Department of Official Languages. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2021.
  4. "BASIC POPULATION INFORMATION by Districts and Divisional Secretary Divisions" (PDF). The Department of Census and Statistics, Sri Lanka. ngày 30 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2025.
  5. "Constitution of Sri Lanka" (PDF). Parliament of Sri Lanka. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 26 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2022.
  6. De Silva, K. M. (1981). A History of Sri Lanka. University of California Press. ISBN 978-0-19-561655-2. A History of Sri Lanka.
  7. "Census of Population and Housing 2024 Enumeration Stage". statistics.gov.lk. Department of Census and Statistics. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2025.
  8. "2024 Census of Population and Housing - Preliminary Report". Department of Census and Statistics – Sri Lanka. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2025.
  9. 1 2 "Sri Lanka - IMF DataMapper". International Monetary Fund. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2025.
  10. "National Account Estimates 2024" (PDF). www.cbsl.gov.lk. Central Bank of Sri Lanka. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2025.
  11. "Gini Index". World Bank. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2018.
  12. "Human Development Report 2025" (PDF) (bằng tiếng Anh). United Nations Development Programme. ngày 6 tháng 5 năm 2025. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2025.
  13. Nguyễn Vi Dân (2005). Cơ sở địa lý tự nhiên. NXB ĐH Quốc gia Hà Nội. tr. 41.
  14. "Sri Lanka (tiếng Trung 斯里蘭卡)". https://zh.wikipedia.org. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2017. {{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |ngày truy cập= (trợ giúp); Liên kết ngoài trong |website= (trợ giúp)
  15. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên a1
  16. Weaver, Matthew; Chamberlain, Gethin (ngày 19 tháng 5 năm 2009). "Sri Lanka declares end to war with Tamil Tigers". The Guardian. London. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2011.
  17. McDonald, Mark (ngày 25 tháng 5 năm 2009). "Tamil Tigers Confirm Death of Their Leader". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2022.
  18. "Tamil Tigers confirm leader's death". Al Jazeera English. ngày 24 tháng 5 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2009.
  19. "Tamil Tigers admit leader is dead". BBC News. ngày 24 tháng 5 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2009.
  20. Weaver, Matthew; Chamberlain, Gethin (ngày 19 tháng 5 năm 2009). "Sri Lanka declares end to war with Tamil Tigers". The Guardian. London. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2016.
  21. "Up to 100,000 killed in Sri Lanka's civil war: UN". ABC Australia. ngày 20 tháng 5 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2015.
  22. Olsen, Erik. "Sri Lanka". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  23. "Easter Sunday massacres: Where do we go from here?". Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2023.
  24. "Wife, daughter of Sri Lanka bombings mastermind will survive blast:..." Reuters. ngày 29 tháng 4 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2019 qua www.reuters.com.
  25. "15 bodies including children found at blast site in Sainthamaruthu". adaderana.lk. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2019.
  26. "15 bodies found from site of shootout and explosions in Saindamaradu;6 Suicide bombers among them". Hiru News. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2019.
  27. "Everything to Know About Sri Lanka's Economic Crisis". BORGEN (bằng tiếng Anh). ngày 23 tháng 4 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2022.
  28. "Sri Lanka declares worst economic downturn in 73 years". France 24 (bằng tiếng Anh). ngày 30 tháng 4 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2021.
  29. "Sri Lanka declares food emergency as forex crisis worsens". India Today (bằng tiếng Anh). Agence France-Presse. ngày 31 tháng 8 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2022.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: khác (liên kết)
  30. "Sri Lanka's PM says its debt-laden economy has 'collapsed'". Sky News (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2022.
  31. "Sri Lanka becomes first Asia-Pacific country in decades to default on foreign debt". NewsWire. ngày 19 tháng 5 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2022.
  32. "Sri Lanka to reduce power cut duration from April 18 as rains start – PUCSL". EconomyNext (bằng tiếng Anh). ngày 11 tháng 4 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2022.
  33. "Sri Lanka protesters break into President's House as thousands rally". CNN. ngày 9 tháng 7 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2022.
  34. "President Gotabaya Rajapaksa Resigns – letter sent to Speaker of Parliament". Hiru News. ngày 14 tháng 7 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2022.
  35. "Sri Lankan crisis: Protesters set PM Ranil Wickremesinghe's residence on fire". Hindustan Times News (bằng tiếng Anh). ngày 9 tháng 7 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2022.
  36. "Ranil Wickremesinghe takes oath as President of Sri Lanka". indiatoday.in. ngày 21 tháng 7 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2023.
  37. "Sri Lanka cuts policy rates to reduce inflation and boost economic recovery". The Hindu. tháng 6 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2023.
  38. "Sri Lanka's Economic Reform Program is Starting to Work—Keep at It for a Full Recovery". IMF.
  39. "Anura Kumara Dissanayake sworn in as Sri Lanka's president". www.bbc.com.
  40. "Sri Lanka: Left-leaning leader's coalition secures landslide victory". www.bbc.com.
  41. "Chapter 1 – The People, The State and Sovereignty". The Official Website of the Government of Sri Lanka. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  42. Norton, James H.K. (2001). India and South Asia. United States: McGraw-Hill. ISBN 978-0-07-243298-5.
  43. Walpola, Thilina (ngày 15 tháng 7 năm 2024). "Creating confusion about a crystal-clear Article 83 (b)" (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2024.
  44. "Op-ed: Are there limits to amending Sri Lanka's constitution?". ConstitutionNet (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2024.
  45. "Điều Preamble, Mục Preamble". Hiến pháp the Democratic Socialist Republic of Sri Lanka. ngày 7 tháng 9 năm 1978.
  46. "The Executive Presidency". The Official Website of the Government of Sri Lanka. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  47. "The Constitution of Sri Lanka – Contents". The Official Website of the Government of Sri Lanka. ngày 20 tháng 11 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 11 năm 2014.
  48. "Presidential Immunity". constitution.lk.[liên kết hỏng vĩnh viễn]
  49. "Evolution of the Parliamentary System". Parliament of Sri Lanka. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2010.
  50. 1 2 "The Legislative Power of Parliament". Parliament of Sri Lanka. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2010.
  51. "Sri Lanka public administration" (PDF). United Nations Public Administration Network. tr. 2. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 2 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  52. "Background Note: Sri Lanka". U.S. Department of State. United States Department of State. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  53. "Sri Lanka Society & Culture: Customs, Rituals & Traditions". lankalibrary.com. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  54. "The Constitution of Sri Lanka – Eighth Schedule". Priu.gov.lk. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  55. "The Constitution of Sri Lanka – First Schedule". Priu.gov.lk. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  56. Nubin 2002, tr. 95
  57. "Political Parties in Sri Lanka". Department of Election, Sri Lanka. tháng 7 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2011.
  58. "Sri Lanka's oldest political party". Daily News. ngày 18 tháng 12 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2014.
  59. 1 2 "UNP: The Story of the Major Tradition". unplanka.com. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  60. 1 2 "Charting a new course for Sri Lanka's success". Daily News. ngày 16 tháng 11 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2014.
  61. "Ceylon chooses world's first woman PM". BBC. ngày 20 tháng 7 năm 1960. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2011.
  62. Society of Jesus in India (1946). New review, Volume 23. India: Macmillan and co. ltd. tr. 78. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2015.
  63. W. D., Lakshman; Tisdell, Clem (2000). Sri Lanka's development since independence: socio-economic perspectives and analyses. New York: Nova Publishers. tr. 80. ISBN 978-1-56072-784-2. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2015.
  64. 1 2 3 "Sri Lanka: Post Colonial History". Lanka Library. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  65. "Sri Lanka Tamil National Alliance denies having talks with Buddhist prelates". Asian Tribune. ngày 24 tháng 2 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2011.
  66. "Revolutionary Idealism and Parliamentary Politics" (PDF). Asia-Pacific Journal of Social Sciences. tháng 12 năm 2010. tr. 139. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 20 tháng 9 năm 2011.
  67. "Sri Lankan Muslims: Between ethno-nationalism and the global ummah". Dennis B. McGilvray. Association for the Study of Ethnicity and Nationalism. tháng 1 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2012.
  68. "Sri Lanka President Sirisena abandons re-election bid". The Straits Times (bằng tiếng Anh). ngày 6 tháng 10 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2021.
  69. "Sri Lanka's ruling party calls an election, hoping for a landslide". The Economist. ngày 5 tháng 3 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2021.
  70. Bastians, Dharisha; Schultz, Kai (ngày 17 tháng 11 năm 2019). "Gotabaya Rajapaksa Wins Sri Lanka Presidential Election". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2021.
  71. "Mahinda Rajapaksa sworn in as Sri Lanka's PM". Al Jazeera. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2021.
  72. "Rajapaksa Clan Losing Grip on Power in Sri Lanka". thediplomat.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2022.
  73. Jayasinghe, Uditha; Pal, Alasdair; Ghoshal, Devjyot (ngày 21 tháng 7 năm 2022). "Sri Lanka gets new president in six-time PM Wickremesinghe". Reuters (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2022.
  74. "New Sri Lanka President Anura Kumara Dissanayake sworn in – DW – 09/23/2024". dw.com (bằng tiếng Anh).
  75. 1 2 "Foreign Relations". Library of Congress Country Studies. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  76. Jayasekera, Upali S. "Colombo Plan at 57". Colombo Plan. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 1 năm 2012.
  77. "Sri Lanka excels at the San Francisco Peace Conference" (PDF). The Island. ngày 7 tháng 9 năm 2009. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2011.
  78. "Lanka-China bilateral ties at its zenith". The Sunday Observer. ngày 3 tháng 10 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2016.
  79. "Bandung Conference of 1955 and the resurgence of Asia and Africa". The Daily News. ngày 21 tháng 4 năm 2005. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2014.
  80. "Lanka-Cuba relations should be strengthened". The Daily News. ngày 14 tháng 1 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2014.
  81. "29 October 1964". Pact.lk. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  82. "Statelessness abolished?". cope.nu. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  83. Suryanarayan, V. (ngày 22 tháng 8 năm 2011). "India-Sri Lanka: 1921 Conference On Fisheries And Ceding Of Kachchatheevu – Analysis". Albany Tribune. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2012.
  84. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên atimes
  85. Murthy, P. (2000). "Indo-Sri Lankan security perceptions: Divergences and convergences". Strategic Analysis. 24 (2): 343. doi:10.1080/09700160008455216. S2CID 154512767.
  86. Wadhva, Charan D.; Asher, Mukul G. (1985). ASEAN-South Asia Economic Relations (bằng tiếng Anh). Institute of Southeast Asian Studies. ISBN 978-9971-902-98-8.
  87. De Silva, Mervyn (1981). "Sri Lanka: ASEAN Operation". India Today. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2024 qua Sri Lanka Guardian.
  88. Shastri, Amita (ngày 1 tháng 2 năm 1997). "Regional Powers and Small State Security: India and Sri Lanka, 1977–90. By K. M. de Silva. Washington, D.C.: Woodrow Wilson Center Press, 1995. xvii, 388 pp. $48.50 (cloth)". The Journal of Asian Studies (bằng tiếng Anh). 56 (1). doi:10.2307/2646399. ISSN 0021-9118. JSTOR 2646399.
  89. Weisman, Steven R. (ngày 5 tháng 6 năm 1987). "India airlifts aid to Tamil rebels". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2017.
  90. "Sri Lanka: Background and U.S. Relations" (PDF). Federation of American Scientists. tr. 6. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 26 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  91. "Russia and Sri Lanka to strengthen bilateral relations". Asian Tribune. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  92. "World leaders send warm greeting to Sri Lanka on Independence Day". Asian Tribune. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  93. "CIA World Factbook: Sr Lanka". Central Intelligence Agency. ngày 16 tháng 8 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2021.
  94. International Institute for Strategic Studies (ngày 3 tháng 2 năm 2010). Hackett, James (biên tập). The Military Balance 2010. London: Routledge. tr. 370–371. ISBN 978-1-85743-557-3.
  95. "Conscription (most recent) by country". NationMaster. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2011.
  96. "Sri Lanka coast guard sets up bases". Lanka Business Online. ngày 10 tháng 8 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016.
  97. "Coast Guard bill passed in Parliament". Sri Lanka Ministry of Defence. ngày 7 tháng 10 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2016.
  98. "How Sri Lanka's military won". BBC News. ngày 22 tháng 5 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2011.
  99. Doucet, Lyse (ngày 13 tháng 11 năm 2012). "UN 'failed Sri Lanka civilians', says internal probe". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2013.
  100. "UN Mission's Summary detailed by Country – March 2012" (PDF). United Nations. tháng 4 năm 2012. tr. 33. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 12 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2012.
  101. "2024 Global Peace Index" (PDF).
  102. "Amnesty International  Sri Lanka Human Rights Reports". Amnesty International. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2016.
  103. Keerthisinghe, Lakshman I. (2013). "The British duplicity in protecting human rights in Sri Lanka". Daily Mirror. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2013.
  104. "Sri Lanka: Country Report on Human Rights Practices". United States Department of State. ngày 23 tháng 2 năm 2001. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 6 năm 2001.
  105. "Report of the Secretary – General's Panel of Experts on Accountability in Sri Lanka" (PDF). United Nations. ngày 31 tháng 3 năm 2011. tr. 71.
  106. "L'ONU a caché l'ampleur des massacres au Sri Lanka". Le Monde. ngày 28 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2013.
  107. "Business Corruption in Sri Lanka". Business Anti-Corruption Portal. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2014.
  108. "Department for Justice" (PDF).
  109. United Nations, Human Rights Council Nineteenth session. "Report of the Working Group on Enforced or Involuntary Disappearances" (PDF). UN. tr. 3, 113. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2012. 'The original mandate derives from Commission on Human Rights resolution 20 (XXXVI) of 29 February 1980','Since its establishment, the Working Group has transmitted 12,460 cases to the Government; of those, 40 cases have been clarified on the basis of information provided by the source, 6,535 cases have been clarified on the basis of information provided by the Government, 214 cases were found to be duplications and were therefore deleted, and 5,671 remain outstanding.'
  110. Disappearances in Sri Lanka (ngày 14 tháng 1 năm 2012). "Murky business: People are disappearing  and the government has been accused". The Economist. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2012.
  111. "UN Human Rights Commissioner: 'democracy has been undermined' in Sri Lanka". GlobalPost. ngày 31 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2013.
  112. "UN's Navi Pillay attacks Sri Lanka human rights record". BBC News. ngày 31 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2013.
  113. Sri Lanka: Out of the Silence. freedomfromtorture.org
  114. "Sri Lanka: Human Rights Under Attack". Human Rights Watch. ngày 29 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2020.
  115. Fernando, Maxwell. "Echoes of a Plantation Economy". historyofceylontea.com. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 1 năm 2012.
  116. "The Strategic Importance of Sri Lanka to Australia". asiapacificdefencereporter.com. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  117. "Sri Lanka – an Overview". Fulbright commission. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2011.
  118. 1 2 3 "Annual Report 2010". Ministry of Finance – Sri Lanka. 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  119. 1 2 3 4 "Annual Report 2020". treasury.gov.lk. Ministry of Finance. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2022.
  120. "Country Partnership Strategy" (PDF). Asian Development Bank. 2008. tr. 1. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 15 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  121. "Sri Lanka's Top Trading Partners". Lakshman Kadiragamar Institute. 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2018.
  122. "Western Province share of national GDP falling: CB". Sunday Times. ngày 17 tháng 7 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2011.
  123. "Sri Lanka's Northern province has recorded the highest GDP growth rate of 22.9 per cent last year". Asian Tribune. ngày 18 tháng 7 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2011.
  124. "Newswire". newswire.lk. ngày 27 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2025.[liên kết hỏng]
  125. "Per capita income has doubled". tops.lk. 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2011.
  126. "Inequality drops with poverty" (PDF). Department of Census and Statistics. tr. 3. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 27 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  127. "CAF world giving index 2016" (PDF). cafonline.org. Charities aid foundation. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 25 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2019.
  128. "The 31 Places to Go in 2010". The New York Times. ngày 24 tháng 1 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2017.
  129. "A Closer Look at Indices Country Classifications – Indexology® Blog | S&P Dow Jones Indices". Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2021.
  130. Shaffer, Leslie (ngày 2 tháng 5 năm 2016). "Why Sri Lanka's economic outlook is looking less rosy". CNBC. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2017. While the government is aiming to raise its low revenue collection, partly through an increase in the value-added tax rate ... the country has a spotty record on tax collection.
  131. "Covid: Sri Lanka in economic emergency as food prices soar". BBC News. ngày 1 tháng 9 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2021.
  132. Ondaatjie, Anusha (ngày 10 tháng 9 năm 2021). "Sri Lanka Central Bank Chief Steps Down Amid Reserves Crisis". Bloomberg. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2021.
  133. "Sri Lanka parliament approves state of emergency – Food News". Al Jazeera. ngày 7 tháng 9 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2021.
  134. "Sri Lanka parliament passes emergency regulations to seize food stocks, warehouses". ngày 6 tháng 9 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2021.
  135. Bhutia, Peden Doma (ngày 10 tháng 7 năm 2024). "Is This the Comeback of Sri Lanka's Tourism? $1.5 Billion Revenue Suggests So". Skift. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2025.
  136. "Population of Municipal Councils and Urban Councils by sex Census 2012". statistics.gov.lk. Department of Census and Statistics. 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2017.
  137. "A3 : RELIGIOUS COMPOSITION" (PDF). Census of Population & Housing, 2024. Department of Census & Statistics, Sri Lanka. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2025.
  138. "Ashik v Bandula And Others (Noise Pollution Case)" (PDF). lawnet.gov.lk. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 1 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2021.
  139. "Sri Lanka". International Religious Freedom Report 2007. Cục Dân chủ, Nhân quyền và Lao động. ngày 14 tháng 9 năm 2007.
  140. 1 2 3 "Theravada: Buddhism in Sri Lankan". Buddhanet.net. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  141. "Theravada Buddhism and Shan/Thai/Dai/Laos Regions Boxun News". Peacehall.com. ngày 28 tháng 3 năm 2005.
  142. Claveyrolas, Mathieu; Goreau-Ponceaud, Anthony; Madavan, Delon; Meyer, Eric; Trouillet, Pierre-yves (2018). "Hindus and Others: A Sri Lankan Perspective (Introduction)". The South Asianist Journal. 6 (1). University of Edinburg: 4. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2022.
  143. Asian Religions in British Columbia, UBC Press 2011, p. 125.
  144. Lecture on Hindu sculpture and architecture of Sri Lanka Lưu trữ ngày 12 tháng 10 năm 2012 tại Wayback Machine Sunday Times – 29 September 2010
  145. "Lankan Muslims' historical links with India". Indianmuslims.info. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016.
  146. "Origins and Affinities of the Sri Lankan Moors" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2014.
  147. Pinto, Leonard (ngày 20 tháng 9 năm 2013). "A Brief History Of Christianity In Sri Lanka". Colombo Telegraph. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2015.
  148. Young, R. F. & Sēnānāyaka, J. E. B. (1998). The carpenter-heretic: a collection of Buddhist stories about Christianity from the 18th century Sri Lanka. Colombo: Karunaratne & Sons. ISBN 978-955-9098-42-3.
  149. "Sri Lanka – Christianity". Mongabay.
  150. "The Parsi Community of Sri Lanka". Ancestry.com.
  151. "Sri Lankan Parsis facing extinction?". The Sunday Times.
  152. "What Alabamians and Iranians Have in Common". The Gallup Organization. ngày 9 tháng 2 năm 2009.
  153. Gunawardena, Chandra (1997). "Problems of Illiteracy in a Literate Developing Society: Sri Lanka". International Review of Education. 43 (5/6): 595–609. Bibcode:1997IREdu..43..595G. doi:10.1023/A:1003010726149. JSTOR 3445068. S2CID 142788627.
  154. "Literacy rate, youth total (% of people ages 15-24) – Sri Lanka". World Bank. tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2021.
  155. "Govt targets 75% computer literacy rate by 2016". The Daily News.
  156. "Sri Lanka – Statistics". UNICEF. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2010.
  157. "Our Pro-poor health care policy rewarded". The Island. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2011.
  158. "Universal Health Care". quickoverview.com. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  159. "Social Conditions of Sri Lanka" (PDF). statistics.gov.lk. tr. 15–17. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 17 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2018.
  160. "Maldives, Sri Lanka eliminate measles and rubella, ahead of 2023 target". www.who.int.
  161. "A preliminary assessment of sexual transmitted infections (STIs) in Sri Lanka: District-wise overview" (PDF). Sri Lanka Journal of Obstetrics and Gynaecology. 40: 31–38. 2018.

Thư mục

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Mendis, G.C.: Ceylon Today and Yesterday, Colombo 1957 (3rd edition 1995)
  • de Silva, Chandra Richard: Sri Lanka - A History, New Delhi 1987 (2nd, revised ed. 1997)
  • Smith, Vincent A.: The Oxford History of India, Oxford 1958 (4th edition 1981)
  • Robert Knox.: An Historical Relation of the Island of Ceylon in the East Indies, New Delhi 2004 (Reprint. Asian Educational Services)
  • Williams, H.: Ceylon: Pearl of the East Delhi, Surjeet, 2002
  • Devendra, T. and Gunasena, D.: Sri Lanka: The Emerald Island, (New Delhi 1996), Roli Books.
  • Codrington, H.W.: A Short History of Ceylon, New Delhi 1994 (Reprint. Asian Educational Services)
  • K. M. De Silva.: A History of Sri Lanka. New Delhi, Penguin, xvii, p. 782, 2005.
  • James Brow.: Vedda villages of anuradhapura: The historical anthropology Of a community in Sri Lanka, University Of Washington Press, Seattle, 1978.
  • Manfred Domroes.: After the Tsunami: Relief and rehabilitation in Sri Lanka, New Delhi, Mosaic Books, 1st ed. 2006.
  • Harry Williams.: Ceylon Pearl of the East, Robert Hale Limited, Luân Đôn, Great Britain, 1950.
  • B. L. C. Johnson and M. Le M. Scrivenor.: Sri Lanka Land, People and Economy, Heinemann Educational Books Ltd, Luân Đôn, 1981.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]

Chính phủ

Du lịch

Kinh doanh

Khác