Phật giáo Thượng tọa bộ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Thượng tọa bộ)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Thượng tọa bộ Phật giáo hay Phật giáo Theravada, Phật giáo Nam truyền, Phật giáo Nam tông là một nhánh của Phật giáo Tiểu thừa, xuất hiện đầu tiên ở Sri Lanka, rồi sau đó được truyền rộng rãi ra nhiều xứ ở Đông Nam Á. Ngày nay, Thượng tọa bộ Phật giáo vẫn rất phổ biến ở Sri Lanka và Đông Nam Á, đồng thời cũng có nhiều tín đồ phương Tây. Thượng tọa bộ ở Việt Nam còn được gọi là Phật giáo Nguyên thủy dù trong thực tế Thượng tọa bộ chỉ hình thành từ khi Phật giáo phân chia thành các bộ, phái từ Hội nghị kết tập lần thứ hai sau khi Phật qua đời khá lâu. Phật giáo Nguyên thủy đúng ra là tư tưởng Phật giáo từ khi được Phật giảng đến trước khi phân chia bộ, phái.

Ngày nay Thượng tọa bộ được lưu hành tại các nước Ấn Độ, Sri Lanka, Miến Điện, Thái Lan, CampuchiaLào, nên còn được gọi là Nam tông Phật pháp hay Phật giáo Nam truyền, Phật giáo Nam Tông. Một số đại biểu phái Đại thừa xuất xứ từ Trung Quốc còn gọi tông phái này là Tiểu thừa.

Phật giáo Thượng tọa bộ được các quốc gia khác nhau và rất nhiều người trên thế giới đi theo, như là:

Ngày nay, tín đồ Phật tử Thượng tọa bộ có 150 triệu người toàn thế giới, và trong suốt vài thập kỷ qua, Phật giáo Thượng tọa bộ đã bắt đầu bén rễ ở Phương Tây [a] và ở tại Phật giáo hồi sinh tại Ấn Độ.[web 2]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Chùa Wat Chaiwatthanaram trong quần thể di tích Công viên lịch sử Ayutthaya
Tăng sĩ Phật giáo hệ phái Nam Tông

Thượng tọa bộ là chi nhánh lâu đời nhất của Phật giáo.[1] Thera trong tiến Pali hay sthavira trong tiếng Sanscrit nghĩa là cũ, cổ xưa, lâu năm và đồng thời được dùng để chỉ một tỉ-khâu đã tu hành lâu năm, vì thế được dịch sang Hán-Việt là thựong tọa. Còn veda (pali) hay vadin (sanscrit) nghĩa là giáo lý, quan điểm. Theravada hay Sthaviravadin vì vậy có nghĩa là "giáo lý của người xưa", "thượng tọa bộ".[2] Sau khi cố gắng mà không thành công để thay đổi Luật tạng (Vinaya), một nhóm nhỏ của những bậc "Trưởng Tọa", tức Sthaviras, đã tách ra khỏi phần nhiều số Đại chúng bộ (Mahāsāṃghika) trong lúc Đại hội kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ hai, dẫn đến việc dựng lên Sthaviravada.[3] Đến Đại hội kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ ba tại Pataliputra, phái này được gọi là Phân tích bộ (Vibhajyavada, cũng gọi là phân biệt thuyết bộ).[4]

Theravadin (tín đồ Thượng tọa bộ) theo những thông tin có nguồn gốc riêng của mình kể rằng điều đó đã nhận lấy những sự giáo huấn được tán thành vào lúc trong Đại hội kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ ba dưới sự bảo trợ của Hoàng đế Ấn Độ là A-dục vương, khoảng năm 250 TCN. Những lời giáo huấn này được biết đến là Phân Biệt Thuyết bộ.[5] Những giáo đồ Phân Biệt Thuyết bộ đều lần lược chia tách ra bốn nhóm: Hóa Địa bộ (Mahīśāsaka), Ẩm Quang bộ (Kāśyapīya), Pháp Tạng bộ (Dharmaguptaka), và Đồng Diệp bộ (Tāmraparṇīya).

Thượng tọa bộ còn thấy đến ngày nay thực chất là phái Đồng Diệp bộ, đó có nghĩa "Dòng dõi người Sri Lanka." Vào thế kỷ thứ VII SCN, các du tăng Trung Quốc là sư Huyền TrangNghĩa Tịnh có nhắc đến các trường phái Phật giáo ở Sri Lanka là Shàngzuòbù (上座部, Thượng tọa bộ), tương ứng với tiếng Sanskrit là "Sthavira Nikāya" và tiếng Pali là "Thera Nikāya."[b][c]. Trường phái này đã sử dụng chính cái tên Theravāda dưới dạng văn bản ít nhất từ thế kỷ thứ IV, thuật ngữ này được xuất hiện trong Đảo sử (Dīpavaṁsa).[d]

Phân nhánh phái Thượng tọa bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Theo thời gian, một số bất đồng trong nội bộ phái Thượng tọa bộ về giới luật đã nảy sinh. Những bất đồng về quan niệm trong Thượng tọa bộ khiến cho bộ này bắt đầu phân phái.

Một nhánh tách ra rất sớm từ Thượng tọa bộ là Chánh Lượng Bộ (Sammitīya). Sau đó, Độc Tử Bộ (Vātsīputrīya) lại tách ra từ Chánh lượng bộ.[8]

Phái này chủ trương tập trung vào Pháp uẩn túc luận tương truyền do Xá-lợi-phất biên soạn. Sau do bất đồng quan điểm trong Độc Tử bộ về một bài kệ liên quan đến quả Thánh trong Pháp uẩn túc luận, từ Độc Tử bộ lại hình thành:

Khoảng 200 năm sau khi Phật qua đời (tức khoảng thế kỷ III TCN), một nhánh nữa tách khỏi Thượng tọa bộ, đó là Thuyết nhất thiết hữu bộ (Saivàstivàdàh), gọi tắt là Hữu bộ, cũng có tên khác là Thuyết nhân bộ (Hetuvàdàh) do Katyayaniputra sáng lập. Hữu bộ trở thành một tông phái nổi tiếng vào bậc nhất nhờ lý thuyết: Tam thế thật hữu, pháp thể hằng hữu. Lúc này, Thượng tọa bộ gốc được gọi là Phân Biệt Thuyết Bộ (Vibhajyavāda). Về sau vua Asoka ủng hộ Phân Biệt Thuyết bộ hơn, nên Hữu bộ di cư lên Himalaya (Tuyết Sơn) và lập ra các trung tâm ở Kashmir, GandharaMathura.[10]

Sau này, Kinh lượng bộ lại tách ra từ Hữu bộ.[9]

Trong khi đó, Phân Biệt Thuyết bộ lại tách thành Đồng Diệp bộ (Tamrasātiya) và Hóa Địa bộ (Mahīsasāka). Đồng Diệp bộ được Ma-hi-đà, con vua Asoka, mang tới Srilanka.[10]

Truyền đến Sri Lanka và biến đổi[sửa | sửa mã nguồn]

Theo học giả Phật giáo A.K. Warder, thì Phật giáo Thượng tọa bộ:

... nhanh chóng lan rộng về phía nam từ Avanti vào MaharastraAndhra và xuống đến nước Chola (Kanchi), cũng như ở Tích Lan. Trong một thời gian họ tự mình nắm giữ ở Avanti cũng như các vùng lãnh thổ mới của họ, nhưng dần dần họ có xu hướng tự mình tụ tập lại ở miền nam, tòa Đại Xá (Mahavihara) ở Anuradhapura, kinh đô của nước Tích Lan, trở thành trung tâm chính về tín ngưỡng lưu truyền của họ, còn Kanchi là trung tâm thứ cấp và ở vùng phía bắc dường như đã từ bỏ các trường phái khác.[11]

Theo như biên niên sử Pali truyền thống của người Sinhala, Phật giáo lần đầu tiên được đưa đến Sri Lanka bởi Ma-hi-đà (Mahinda), người được cho là con trai của đức vua Asoka của Đế quốc Maurya, ở thế kỷ thứ III TCN trong khuôn khổ phong trào dhammaduta (người truyền giáo). Ở Sri Lanka, Ma-hi-đà đã thuyết phục được vua Devanampiya-tissa theo đạo Phật. Nhà vua cho dựng chùa MahaviharaAnuradhapura, kinh đô Sri Lanka thời đó. Sau này, em gái Ma-hi-đà mang xá lị Phật và chồi cây bồ-đề tới trồng ở chùa này, càng làm cho uy tín của Phật giáo và của chùa Mahavihara tăng cao.[12]

Khoảng đầu thế kỷ II TCN, cao tăng Mahâtissa có công giúp vua Sri Lanka Vattagâmani đánh đuổi quân Tamil từ Nam Ấn Độ tới xâm lược. Nhà vua đền ơn vị cao tăng này bằng cách xây chùa Abhayagirivihâra còn lớn hơn cả chùa Mahavihara và cho vị cao tăng này trụ trì. Vì nguyên nhân này, Mahâtissa bị tăng đoàn Mahavihara trục xuất, và tự lập tăng đoàn riêng là Dhammaruciya. Do áp lực của Dhammaruciya, chùa Mahavihara bị vua cho phá hủy khiến tăng đoàn phải xây lại. Biến cố này cùng với nguy cơ thường trực bị quân Tamil xâm lược đã thúc đẩy các nhà sư chùa Mahavihara ghi lại kinh Phật trên lá bối bằng tiếng Pali.[13] Từ đây, kinh Pali được truyền đi các xứ khác.

Theo như A.K. Warder, phái Hóa Địa bộ Ấn Độ cũng đã tự thành lập ở Sri Lanka cùng với phái Theravāda, và chúng được tiếp thụ sau này.[14] Khu vực phía bắc của Sri Lanka dường như cũng đã nhường lại cho các thể phái từ Ấn Độ trong thời gian nhất định.[14] Tăng đoàn Dhammaruciya ở chùa Abhayagirivihâra giữ vị trí chủ đạo do được triều đình coi trọng hơn. Về sau họ ít nhiều tiếp thu các tư tưởng Đại thừa - điều này được sư Trung Quốc Huyền Trang ghi nhận.[13]

Đức Phật sơn vẽ ở chùa hang Dambulla tại Sri Lanka. Chùa hang Phật giáo phức tạp được thành lập như một tu viện Phật giáo ở thế kỷ III TCN. Các hang được chuyển đổi thành chùa chiền trong thế kỷ I TCN.[15]

Một số học giả cho rằng những người lãnh đạo của Sri Lanka đã bảo đảm rằng Theravāda vẫn giữ nguyên truyền thống, và điều này có đặc điểm tương phản với Phật giáo Ấn Độ.[16] Tuy nhiên, trước thế kỷ XII, nhiều nhà lãnh đạo của Sri Lanka đã đem sự ủng hộ và bảo trợ cho những người Thượng tọa bộ ở Abhayagiri, và những du khách ví như Pháp Hiển thấy được phái Thượng tọa bộ Abhayagiri như đã trở thành truyền thống Phật giáo chính Sri Lanka.[17][18]

Khuynh hướng phái Abhayagiri chiếm ưu thế đã thay đổi ở thế kỷ XII, khi phái Mahavihara được sự hỗ trợ về chính trị của nhà vua Parakkamabāhu I (1153–1186), và hoàn toàn bãi bỏ các truyền thống Thượng tọa bộ của Abhayagiri và Kỳ Viên.[19][20] Các nhà sư của hai phái còn lại sau đó bị buộc phải hoàn tục và định sẵn sự chọn lựa về điều hướng thành người thế tục vĩnh viễn, hoặc cố gắng để tái phối theo truyền thống phái Mahavihara như "Sa-di" (sāmaṇera).[20][21]

Ảnh hưởng của Đại Thừa[sửa | sửa mã nguồn]

Tăng sĩ Phật giáo Nam tông tại Thái Lan đi khất thực

Qua nhiều thế kỷ, những tu sĩ Thượng tọa bộ ở Abhayagiri đã duy trì chặt chẽ mối quan hệ với những tín đồ Phật giáo Ấn Độ và thu nhận nhiều giáo lý mới mẻ từ Ấn Độ.[22] bao gồm nhiều yếu tố của giáo lý Đại thừa, trong khi những tu sĩ Thượng tọa bộ dòng tịnh xá Kỳ Viên tiếp thu Đại-thừa ở mức độ ít hơn.[23][24]

Huyền Trang đã viết về hai sự phân chia của Thượng tọa bộ ở Sri Lanka, đề cập đến truyền thống của Abhayagiri là "Những người Thượng tọa bộ Đại Thừa," và truyền thống của phái Đại Tự là "Tiểu thừa Thượng tọa bộ."[25] Huyền Trang còn tiếp tục viết rằng:[26]

Những người phái Đại Tự (Mahāvihāravāsins) đã từ chối Phật giáo Đại Thừa và thực hành Tiểu Thừa, trong khi những người Abhayagiri đã học tập cả giáo lý của Đại Thừa và Tiểu Thừa cùng việc truyền bá Tam tạng.

Akira Hirakawa có những ghi chú rằng những chú luận Pāli còn được tồn tại (Aṭṭhakathā) của trường phái Mahāvihāra, khi đã có sự duyệt kiểm chặt chẽ, cũng bao gồm một số các vị trí có sự ăn khớp với giáo lý Đại Thừa.[27] Kalupahana cũng ghi chú những tương tự về Thanh tịnh đạo (Visuddhimagga), là chú dẫn của Theravāda mang tính quan trọng nhất.[28]

Trong thế kỷ thứ VIII, được biết rằng cả Đại Thừa và phái Mật tông Kim cương thừa (Vajrayāna) - hình thức của đạo Phật đã được thực hành ở Sri Lanka, và hai nhà sư Ấn Độ có trách nhiệm truyền bá Phật giáo Bí Truyền tại Trung Quốc là Kim Cương Trí (Vajrabodhi) và Bất Không Kim Cương (Amoghavajra), đã từng đến thăm hòn đảo trong suốt thời gian này.[29] Tinh xá Abhayagiri có vẻ như là nơi trung tâm gộp những giáo lý của Thượng tọa bộ, Đại Thừa và Kim Cương Thừa.[30]

Thượng tọa bộ truyền đến Suvarnabhumi ở Đông Nam Á và phổ biến ở Thaton, quốc gia của người Môn ở miền Nam Myanmar ngày nay. Phật giáo của Thaton dùng kinh bằng tiếng Pali, nhưng hình thức thì có pha trộn với một số đường nét tiêu biểu của Phật giáo Đại thừa và Kim Cương thừa.[13] Phật giáo từ Thaton đã lan truyền sang các xứ khác ở Đông Nam Á.

Lan đến Đông Nam Á[sửa | sửa mã nguồn]

Tàn tích của Bagan, cố đô của Miến Điện. Hiện có hơn 2000 ngôi chùa Phật giáo. Trong thời đỉnh cao quyền lực của Bagan có đến 13'000 ngôi chùa.[web 3]

Thượng tọa bộ truyền đến xứ Suvarnabhumi của người Môn ở Đông Nam Á trước. Vua Anawrahta của triều Pagan ở Miến Điện sau khi thôn tính xứ của người Môn ở miền Nam nước này đã tiếp thu Thượng tọa bộ làm quốc giáo. Giữa Pagan và Sri Lanka có mối quan hệ mật thiết liên quan đến tôn giáo. Pagan gửi kinh và người đến giúp Sri Lanka khôi phục Phật giáo sau họa xâm lược và hủy diệt của Tamil. Còn Sri Lanka gửi tặng Pagan xá lị Phật, làm cho uy tín Thượng tọa bộ được nâng cao ở Pagan. Phật giáo ở Pagan vì vậy ngày càng chịu ảnh hưởng của Thượng tọa bộ từ Sri Lanka. Đến thế kỷ XIII, sư Capata thậm chí còn đề nghị phải loại bỏ các truyền thống tu hành của Phật giáo Thaton để hoàn toàn theo truyền thống của chùa Mahâvihâra ở Sri Lanka. Trong nỗ lực tái thiết đất nước sau khi quân Mông Cổ rút đi, các vua Miến Điện đã gửi các nhà sư sang Sri Lanka học tập. Sri Lanka lúc này đã lấy Thượng tọa bộ phái Mahâvihâra làm quốc giáo. Trở về nước, các nhà sư nói trên đã tiếp tục củng cố truyền thống Thượng tọa bộ Mahâvihâra ở Miến Điện. Myanmar trở thành trung tâm bảo tồn Thượng tọa bộ chủ yếu cùng với Sri Lanka.[13]

Trong khi đó, các xứ khác ở Đông Nam Á tiếp tục truyền thống Phật giáo Thượng tọa bộ của người Môn từ Thaton.

Hiện đại hóa và lan rộng đến Tây phương[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng Phật Laykyun Setkyar trong ngôi làng của Khatakan Taung, gần MonywaMiến Điện. Đó là bức tượng cao thứ hai trên thế giới.[web 4]

Vào thế kỷ XIX đã bắt đầu có một quá trình ảnh hưởng lẫn nhau của cả hai bên giữa phái Thượng tọa bộ châu Á và một nhóm khán giả phương Tây quan tâm đến nền minh triết cổ xưa. Đặc biệt, Helena BlavatskyHenry Steel Olcott, những người sáng lập ra Hội Thông Thiên học (hay Hiệp hội Thần Trí học) đã có một vai trò sâu sắc trong quá trình này. Ở các nước Theravāda, loại Thiền Minh Sát được thực hành phát triển. Từ những năm 1970 về sự quan tâm của Phương Tây đã quay hướng đến sự phát triển của cái gọi là phong trào Thiền Minh sát ở Tây phương.[31]

Sự khác biệt giáo lý với các trường phái khác[sửa | sửa mã nguồn]

Đó là phái tương đối bảo thủ, và theo như tiến sĩ Rupert Gethin, giáo phái này gần với Phật giáo ban đầu hơn là các giáo phái truyền thống khác hiện có nay.[32] Thượng tọa bộ thừa nhận rằng Thích Ca là một nhân vật lịch sử, một con người và cũng có những hạn chế nhất định của con người như đau lưng, khó chịu với sự ồn ào,...[33]

Các bậc A-la-hán là hoàn hảo[sửa | sửa mã nguồn]

Phái Đại chúng bộ cho rằng A-la-hán còn có thoái lui, trong khi phái Thượng tọa bộ cho rằng các A-la-hán có một "thể tính cao khiết".[34]

Quán sát là bất ngờ và hoàn toàn[sửa | sửa mã nguồn]

Theo như Thượng tọa bộ, "những tiến bộ trong hiểu biết đến đồng lúc, 'sự nhìn thấu bên trong sự vật' (Hiện Quán, abhisamaya) không phải là đến 'dần dần' (liên tiếp - anapurva)".[35] Điều này được phản ánh ở trong bản cáo của Theravada trên Tứ thánh quả, trong đó sự đạt được bốn thánh quả này xuất hiện bất ngờ, và những uế nhiễm cũng được xả bỏ ra cùng lúc. Lập trường tương tự cũng đã được ứng dụng ở phong trào Thiền Minh sát hiện nay, đặc biệt với cái gọi là "Tân Miến Điện Pháp".

Các Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Một nhà sư Thái Lan thiền tịnh

Các lễ hội và phong tục[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Lễ trăng tròn (Magha Puja).
  2. Lễ Phật Đản (Vesakha Puja).
  3. Asalha Puja
  4. Lễ Bố Tát (Uposatha).
  5. An cư kết hạ (Vassa, ẩn mưa)

Danh sách các nước đa phần theo Thượng tọa bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Rank Quốc gia Dân số Số % tín đồ Tổng số tín đồ Tầm quan trọng
1  Thái Lan 66,720,153[web 5] 94.6%[web 6] 63,117,265 97%[web 7]
2  Miến Điện 60,280,000[web 8] 89%[web 9] 53,649,200 96%[web 7]
3  Sri Lanka 20,277,597 70.2% 14,222,844 100%[web 7]
4  Campuchia 14,701,717[web 10] 96.4%[web 10] 14,172,455 95%[web 7]
5  Lào 6,477,211[web 11] 67%[web 11] 4,339,731 98%[web 7]

Sưu tập[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ John Bullit: "Trong thế kỷ trước, mặc dù Phương Tây đã bắt đầu chú ý đến những di sản tinh thần độc đáo và giáo huấn về Giác Thức của Phật giáo Thượng tọa bộ. Trong những thập kỷ gần đây, sự quan tâm này đã tang lên, với những vị Tăng-già tu sĩ đến từ các trường phái khác nhau trong Phật giáo Thượng tọa bộ thành lập hàng chục chùa viện trên khắp châu Âu và Bắc Mỹ."[web 1]
  2. ^ Huyền Trang đã đề cập đến các vị Phật tử ở Sri Lanka rằng "Họ chủ yếu làm theo lời dạy của Đức Phật, đi theo giáo pháp của trường phái Sthavira (Thượng tọa bộ)".[6]
  3. ^ Nghĩa Tịnh có đề cập đến tình hình ở Sri Lanka rằng "Ở Tích Lan, trường phái Thượng tọa bộ được độc tôn; những người Đại Chúng bộ thì bị trục xuất"[7]
  4. ^ Nó được sử dụng trong các sách Đảo Sử (trích dẫn trong Lời dẫn giải tranh luận (Debates Commentary), Pali Text society, trang 4), mà thường thì thời gian ở thế kỷ IV.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Các sách[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sherab Chodzin Kohn. Cuộc đời Đức Phật, trang 149-150. Shambhala Publications, 1993.
  2. ^ Hoàng Phong, Tìm hiểu Phật giáo Theravada - Ajahna Chah hỏi đáp.
  3. ^ Skilton, Andrew. Lược sử của đạo Phật. 2004. tr. 49, 64
  4. ^ Minh Chi, "Bàn thêm về chủ thuyết của các bộ phái, Phật học cơ bản - tập II.
  5. ^ Hirakawa Akira (dịch và biên tập bởi Paul Groner), Lịch sử Phật giáo Ấn Độ, Motilal Banarsidass Publishers, Delhi, 1993, trang 109.
  6. ^ Samuel Beal, "Si-Yu-Ki — Hồ sơ về đạo Phật của thế giới Tây Phương (Buddhist Records of the Western World) — Dịch ra từ trước tác của Huyền Trang năm 629", do Tuebner và Co xuất bản, Luân Đôn (1884), in tại Tổng công ty nhà sách Phương Đông, New Delhi, (1983), Phiên bản kỹ thuật số: Viện Phật học Trung Hoa, Đài Bắc.
  7. ^ Samuel Beal, "Cuộc đời của Huyền Trang: bởi Shaman Hwui Li. Cùng với lời giới thiệu gồm có thông tin về tác phẩm của Nghĩa Tịnh", được xuất bản bởi Tuebner và Co, Luân Đôn (1911), Phiên bản kỹ thuật số: Trường Đại học Michigan.
  8. ^ Thích Nhất Hạnh, Hai khuynh hướng lớn trong lịch sử tư tưởng Phật giáo.
  9. ^ a ă Phần 2: Lịch sử Phật giáo, Phật học cơ bản - tập 2.
  10. ^ a ă Thích Nhất Hạnh, sđd.
  11. ^ Warder 2000, tr. 278.
  12. ^ Hoàng Phong, Lịch sử phát triển của Phật giáo Theravada.
  13. ^ a ă â b Hoàng Phong, sđd.
  14. ^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Warder, A.K. 2000. p. 280
  15. ^ “Golden Temple of Dambulla - UNESCO World Heritage Centre”. Whc.unesco.org. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2012. 
  16. ^ Randall Collins, Xã hội học của triết lí: Một lý thuyết toàn cầu về biến đổi trí tuệ. Harvard University Press, 2000, trang 187.
  17. ^ Hirakawa, Akira. Groner, Paul. Lịch sử Phật giáo Ấn Độ: Từ Đức Thích Ca Mâu Ni đến đầu thời phái Đại Thừa. 2007. tr. 125
  18. ^ Sujato, Bhikkhu. Tông phái và chủ nghĩa bè phái: Nguồn gốc của các trường phái Phật giáo. 2006. tr. 59
  19. ^ Hirakawa, Akira. Groner, Paul. Lịch sử Phật giáo Ấn Độ: Từ Đức Thích Ca Mâu Ni đến đầu thời phái Đại Thừa. 2007. tr. 126
  20. ^ a ă Williams, Duncan. Queen, Christopher. Phật giáo Hoa Kỳ: các phương pháp và các khám phá trong sự bác học hiện nay. 1999. tr. 134
  21. ^ Gombrich, Richard. Phật giáo Nguyên Thủy: Lịch sử xã hội từ Ba Tư Nặc cổ đại đến Colombo hiện đại. 1988. tr. 159
  22. ^ Hirakawa, Akira. Groner, Paul. Lịch sử Phật giáo Ấn Độ: Từ Đức Thích Ca Mâu Ni đến đầu thời Đại Thừa. 2007. tr. 124
  23. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Hirakawa, Akira 2007. p. 121
  24. ^ Gombrich, Richard Francis. Phật giáo Nguyên Thủy: Lịch sử xã hội. 1988. tr. 158
  25. ^ Baruah, Bibhuti. Các tông phái Phật giáo và Chủ nghĩa bè phái. 2008. tr. 53
  26. ^ Hirakawa, Akira. Groner, Paul. Lịch sử Phật giáo Ấn Độ: Từ Đức Thích Ca Mâu Ni đến đầu thời Đại Thừa. 2007. tr. 121
  27. ^ Hirakawa, Akira. Groner, Paul. Lịch sử Phật giáo Ấn Độ: Từ Đức Thích Ca Mâu Ni đến đầu thời Đại Thừa. 2007. tr. 257
  28. ^ Kalupahana 1994, tr. 206-208.
  29. ^ Hirakawa, Akira. Groner, Paul. Lịch sử Phật giáo Ấn Độ: Từ Đức Thích Ca Mâu Ni đến đầu thời Đại Thừa. 2007. tr. 125-126
  30. ^ "Phật giáo Bí Truyền ở Đông Nam Á theo Ánh Sáng Uyên Triết gần đây" bởi Hiram Woodward. Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, Vol. 35, No. 2 (Jun., 2004), tr. 341
  31. ^ McMahan 2008.
  32. ^ Gethin, Rupert. Những nền tảng của Phật giáo, tr.1. Oxford University Press, 1998.
  33. ^ Minh Chi, "Bàn về các chủ thuyết của các bộ phái", Phật học cơ bản - Tập II.
  34. ^ Warder 2000, tr. 283.
  35. ^ Warder 2000, tr. 284.

Các trang web[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bullitt, John. “What is Theravāda Buddhism?”. BuddhaNet. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2010. 
  2. ^ Adherants.com - See the citations under 'Theravāda Buddhism — World'
  3. ^ “Plan your trip to Bagan (Pagan), Myanmar”. AsiaExplorers. Ngày 25 tháng 11 năm 2003. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2012. 
  4. ^ “The 7 Tallest Statues in the World”. Blog.hotelclub.com. Ngày 6 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2012. 
  5. ^ http://203.113.86.149/stat/pk/pk53/pk_53.pdf
  6. ^ “CIA - The World Factbook”. Cia.gov. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2012. 
  7. ^ a ă â b c GALLUP WorldView - data accessed on ngày 7 tháng 9 năm 2012
  8. ^ Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2010.
  9. ^ “CIA - The World Factbook”. Cia.gov. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2012. 
  10. ^ a ă “CIA - The World Factbook”. Cia.gov. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2012. 
  11. ^ a ă “CIA - The World Factbook”. Cia.gov. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2012. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chapman, David (2011), Theravāda reinvents meditation 
  • Dutt, Nalinaksha (1998), Buddhist Sects in India, Delhi: Motilal Banarsidass Publishers Private Limited 
  • Gombrich, Richard F. (1996), Theravāda Buddhism. A Social History from Ancient Benares to Modern Colombo, Luân Đôn và New York: Routledge 
  • Gomez, Luis O. (1991), Purifying Gold: The Metaphor of Effort and Intuition in Buddhist Thought and Practice. In: Peter N. Gregory (editor)(1991), Sudden and Gradual. Approaches to Enlightenment in Chinese Thought, Delhi: Motilal Banarsidass Publishers Private Limited 
  • Gunaratana, Henepola (1994), The Path of Serenity and Insight, Delhi: Motilal Banarsidass Publishers Private Limited 
  • Kalupahana, David J. (1994), A history of Buddhist philosophy, Delhi: Motilal Banarsidass Publishers Private Limited 
  • McMahan, David L. (2008), The Making of Buddhist Modernism, Oxford University Press, ISBN 9780195183276 
  • Tuchrello, William P. (Year unknown), The Society and Its Environment. (Religion: Historical Background section), Federal Research Division, Library of Congress  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  • Tiyavanich, K. (1997), Forest Recollections: Wandering Monks in Twentieth-Century Thailand, University of Hawaii Press 
  • Warder, A.K. (2000), Indian Buddhism, Delhi: Motilal Banarsidass Publishers 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

General

Thailand

Burma

Western

Practice

Critical

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng các chữ viết tắt
bo.: Bod skad བོད་སྐད་, tiếng Tây Tạng | ja.: 日本語 tiếng Nhật | ko.: 한국어, tiếng Triều Tiên |
pi.: Pāli, tiếng Pali | sa.: Sanskrit संस्कृतम्, tiếng Phạn | zh.: 中文 chữ Hán