Đây là một bài viết cơ bản. Nhấn vào đây để biết thêm thông tin.

Bắc Mỹ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Bắc Mỹ
Location North America.svg
Diện tích24.709.000 km2 (9.540.000 dặm vuông Anh) (hạng 3)
Dân số579.024.000 (2016; hạng 4)
Mật độ dân số22.9/km2 (59.3/sq mi)
GDP (PPP)25.0 nghìn tỷ đô la Mỹ (2018; hạng 3)
GDP (danh nghĩa)23.5 nghìn tỷ đô la Mỹ (2018; hạng 2)
GDP bình quân đầu người47.750 đô la Mỹ (2018; hạng 2)[1]
Tên gọi dân cưNgười Bắc Mỹ
Quốc gia23 quốc gia có chủ quyền
Phụ thuộc23 lãnh thổ không có chủ quyền
Ngôn ngữTiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Pháp, và nhiều ngôn ngữ khác
Múi giờUTC-10 đến UTC
Thành phố lớn nhấtDanh sách các khu vực đô thị:[2]
Mã UN M49003 – Bắc Mỹ
019Châu Mỹ
001Thế giới

Bắc Mỹ là một lục địa nằm hoàn toàn trong Bắc Bán cầu và gần như hoàn toàn trong Tây Bán cầu của Trái Đất, có thể được miêu tả là tiểu lục địa phía Bắc của châu Mỹ. Lục địa này giáp với Bắc Băng Dương về phía Bắc, với Đại Tây Dương về phía Đông, với Nam MỹBiển Caribe về phía Đông Nam, cũng như với của Thái Bình Dương về phía Tây và phía Nam. Lục địa này nằm trên mảng kiến tạo Bắc Mỹ nên Greenland được xem là thuộc Bắc Mỹ về mặt địa lý.

Bắc Mỹ có diện tích khoảng 24.709.000 kilômét vuông (9.540.000 dặm vuông), khoảng 16,5% diện tích đất liền của Trái Đất và khoảng 4,8% toàn bộ bề mặt của hành tinh này. Trên thế giới, đây là lục địa có diện tích lớn thứ ba, sau châu Áchâu Phi, cũng như lục địa có dân số cao thứ tư, sau châu Á, châu Phi và châu Âu. Năm 2013, tổng dân số của 23 nhà nước độc lập ở Bắc Mỹ được ước tính là 579 triệu người, hay 7,5% dân số thế giới.

Con người lần đầu tiên đặt chân lên Bắc Mỹ khoảng 40.000 đến 17.000 năm trước vào thời kỳ băng hà cuối cùng bằng cách đi qua cầu đất liền Bering. Thời kỳ Paleo-Indian kéo dài đến khoảng 10.000 năm trước. Giai đoạn cổ điển kéo dài từ thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ thứ 13. Thời kỳ Tiền Colombo kết thúc vào năm 1492, khi người định cư từ châu Âu bắt đầu di cư đến Bắc Mỹ trong thời đại Khám pháthời kỳ cận đại. Tuy nhiên, Bắc Mỹ (trừ Greenland) được nhắc đến lần đầu tiên trong sử sách châu Âu vào khoảng năm 1000 TCN mà cụ thể là trong các saga của người Bắc Âu. Ngày nay, các đặc điểm về văn hóa và sộc tốc của dân cư Bắc Mỹ phản ánh sự tương tác giữa thực dân châu Âu, dân bản địa, nô lệ đến từ châu Phi, người nhập cư từ châu Âu, châu Á và Nam Á, cũng như hậu duệ của các nhóm người này.

Do quá trình thuộc địa hóa của châu Âu, phần lớn dân số Bắc Mỹ nói các ngôn ngữ châu Âu như tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha hay tiếng Pháp, và các nền văn hóa của họ nhìn chung phản ánh các truyền thống của nền văn hóa phương Tây. Tuy nhiên, ở một số khu vực của Canada, Hoa Kỳ, Mexico và Trung Mỹ, các nhóm người bản địa vẫn duy trì những truyền thống văn hóa và nói ngôn ngữ của riêng mình.

Phạm vi[sửa | sửa mã nguồn]

Theo định nghĩa chính thức của Liên Hợp Quốc, "Bắc Mỹ" bao gồm 3 khu vực: Bắc Mỹ, Trung MỹCaribe.[3][4][5]

Pháp, Ý, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Romani, Hy Lạp và các quốc gia Mỹ Latinh sử dụng mô hình 6 châu lục, trong đó Bắc Mỹ và Nam Mỹ được gộp thành một châu lục và tên gọi Bắc Mỹ được dùng để chỉ tiểu lục địa chứa Canada, Hoa Kỳ, Mexico, Saint Pierre và Miquelon (thuộc Pháp), và đôi khi cả GreenlandBermuda.[6][7][8][9][10]

Phân vùng[sửa | sửa mã nguồn]

Bắc Mỹ được chia thành nhiều vùng về mặt địa lý, văn hóa hoặc kinh tế, và mỗi vùng đó lại bao gồm những vùng nhỏ hơn. Các vùng kinh tế được hình thành từ những khối thương mại chẳng hạn như khối Hiệp định Thương mại Bắc Mỹ hay khối Hiệp định Thương mại Trung Mỹ. Về mặt ngôn ngữ và văn hóa, lục địa này có thể được chia thành Mỹ Ănglê và Mỹ Latinh. Mỹ Ănglê bao gồm phần lớn khu vực Bắc Mỹ, Belize và các hòn đảo Caribe có dân số chủ yếu nói tiếng Anh (tuy một số khu vực, chẳng hạn như LouisianaQuebec, có lượng lớn dân số nói tiếng Pháp; ở Quebec, tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức duy nhất[11]).

Miền Nam lục địa Bắc Mỹ được chia thành hai vùng: Trung Mỹ và Caribe.[12][13] Miền Bắc của lục địa cũng được phân chia thành các khu vực rõ ràng. Tên gọi "Bắc Mỹ" đôi khi được dùng để chỉ Mexico, Canada, Hoa Kỳ và Greenland thay vì toàn bộ lục địa.[14][15][16][17][18]

Thuật ngữ "khu vực Bắc Mỹ" được dùng để chỉ các quốc gia và vùng lãnh thổ ở phía Bắc của Bắc Mỹ, bao gồm Hoa Kỳ, Bermuda, Saint-Pierre và Miquelon, Canada và Greenland,[19][20]

Hai quốc gia có diện tích lớn nhất Bắc Mỹ, Canada và Hoa Kỳ, cũng được chia thành những vùng rõ rệt và được công nhận rộng rãi. Canada được chia thành (từ Đông sang Tây) Atlantic Canada, miền Trung Canada, đồng cỏ Canada, bờ biển British Columbia, và miền Bắc Canada. Mỗi vùng này lại bao gồm những vùng nhỏ hơn. Theo Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, Hoa Kỳ được chia thành New England, các tiểu bang Trung-Đại Tây Dương, các tiểu bang Nam Đại Tây Dương, các tiểu bang Trung Đông Bắc, các tiểu bang Trung Tây Bắc, các tiểu bang Trung Đông Nam, các tiểu bang Trung Tây Nam, các tiểu bang miền Núicác tiểu bang bờ Tây. Hai quốc gia này có chung khu vực Ngũ Đại Hồ. Ở cả hai quốc gia đều đã hình thành nên các siêu đô thị, chẳng hạn như ở Tây Bắc Thái Bình Dương hay các siêu đô thị Ngũ Đại Hồ.


Quốc gia và vùng lãnh thổ[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc huy Quốc kỳ Quốc gia hoặc vùng lãnh thổ[21][22][23] Thủ đô Diện tích[24] Dân số
(2018)[25][26]
Mật độ dân số
Coat of arms of Anguilla.svg Anguilla (Vương quốc Anh) The Valley 700191000000000000091 km2 (35 dặm vuông Anh) 14.731 7002164800000000000164,8 /km2 (427 /sq mi)
Insigne Antiquae et Barbudae.svg Antigua và Barbuda St. John's 7002442000000000000442 km2 (171 dặm vuông Anh) 96.286 7002199100000000000199,1 /km2 (516 /sq mi)
Insigne Arubae.svg Aruba (Vương quốc Hà Lan) Oranjestad 7002180000000000000180 km2 (69 dặm vuông Anh) 105.845 7002594400000000000594,4 /km2 (1.539 /sq mi)
Insigne Bahamarum.svg Bahamas Nassau 700413943000000000013.943 km2 (5.383 dặm vuông Anh) 385.637 700124500000000000024,5 /km2 (63 /sq mi)
Insigne Barbatae.svg Barbados Bridgetown 7002430000000000000430 km2 (170 dặm vuông Anh) 286.641 7002595300000000000595,3 /km2 (1.542 /sq mi)
Insigne Belizae.svg Belize Belmopan 700422966000000000022.966 km2 (8.867 dặm vuông Anh) 383.071 700113400000000000013,4 /km2 (35 /sq mi)
Insigne Bermudae.svg Bermuda (Vương quốc Anh) Hamilton 700154000000000000054 km2 (21 dặm vuông Anh) 62.756 70031203700000000001.203,7 /km2 (3.118 /sq mi)
Insigne Insulae Boni Aëris.svg Bonaire (Vương quốc Hà Lan)[27] Kralendijk 7002294000000000000294 km2 (114 dặm vuông Anh) 12,093 700141100000000000041,1 /km2 (106 /sq mi)
Insigne Insularum Virginis Britannicae.svg Quần đảo Virgin thuộc Anh (Vương quốc Anh) Road Town 7002151000000000000151 km2 (58 dặm vuông Anh) 29.802 7002152300000000000152,3 /km2 (394 /sq mi)
Arms of Canada.svg Canada Ottawa 70069984670000000009.984.670 km2 (3.855.100 dặm vuông Anh) 37.064.562 70003700000000000003,7 /km2 (9,6 /sq mi)
Insigne Insularum Caimanenses.svg Quần đảo Cayman (Vương quốc Anh) George Town 7002264000000000000264 km2 (102 dặm vuông Anh) 64.174 7002212100000000000212,1 /km2 (549 /sq mi)
Armoiries république française.svg Đảo Clipperton (Pháp) 70006000000000000006 km2 (2,3 dặm vuông Anh) 0 50000000000000000000 /km2 (0 /sq mi)
Insigne Costaricum.svg Costa Rica San José 700451100000000000051.100 km2 (19.700 dặm vuông Anh) 4.999.441 700189600000000000089,6 /km2 (232 /sq mi)
Insigne Cubicum.svg Cuba Havana 7005109886000000000109.886 km2 (42.427 dặm vuông Anh) 11.338.134 7002102000000000000102,0 /km2 (264 /sq mi)
Blason an Curaçao.svg Curaçao (Vương quốc Hà Lan) Willemstad 7002444000000000000444 km2 (171 dặm vuông Anh) 162.752 7002317100000000000317,1 /km2 (821 /sq mi)
Insigne Dominicae.svg Dominica Roseau 7002751000000000000751 km2 (290 dặm vuông Anh) 71.625 700189200000000000089,2 /km2 (231 /sq mi)
Insigne Dominicum.svg Cộng hòa Dominica Santo Domingo 700448671000000000048.671 km2 (18.792 dặm vuông Anh) 10.627.141 7002207300000000000207,3 /km2 (537 /sq mi)
Insigne Salvatoriae.svg El Salvador San Salvador 700421041000000000021.041 km2 (8.124 dặm vuông Anh) 6.420.746 7002293000000000000293,0 /km2 (759 /sq mi)
Insigne Venetiolae.svg Các vùng lãnh thổ phụ thuộc Venezuela (Venezuela) Gran Roque 7002342000000000000342 km2 (132 dặm vuông Anh) 2,155 70006300000000000006,3 /km2 (16 /sq mi)
Coat of arms of Greenland.svg Greenland (Vương quốc Đan Mạch) Nuuk 70062166086000000002.166.086 km2 (836.330 dặm vuông Anh) 56.564 69982600000000000000,026 /km2 (0,067 /sq mi)
Insigne Granatae.png Grenada St. George's 7002344000000000000344 km2 (133 dặm vuông Anh) 111.454 7002302300000000000302,3 /km2 (783 /sq mi)
Armoiries république française.svg Guadeloupe (Pháp) Basse-Terre 70031628000000000001.628 km2 (629 dặm vuông Anh) 399.848 7002246700000000000246,7 /km2 (639 /sq mi)
Seal of Guantanamo Bay Naval Base.svg   Căn cứ Hải quân vịnh Guantánamo (Hoa Kỳ) 7002116000000000000116 km2 (45 dặm vuông Anh) 0 50000000000000000000 /km2 (0 /sq mi)
Coat of arms of Guatemala.svg Guatemala Thành phố Guatemala 7005108889000000000108.889 km2 (42.042 dặm vuông Anh) 17.247.849 7002128800000000000128,8 /km2 (334 /sq mi)
Coat of arms of Haiti.svg Haiti Port-au-Prince 700427750000000000027.750 km2 (10.710 dặm vuông Anh) 11.123.178 7002361500000000000361,5 /km2 (936 /sq mi)
Insigne Honduriae.svg Honduras Tegucigalpa 7005112492000000000112.492 km2 (43.433 dặm vuông Anh) 9.587.522 700166400000000000066,4 /km2 (172 /sq mi)
Insigne Iamaicae.svg Jamaica Kingston 700410991000000000010.991 km2 (4.244 dặm vuông Anh) 2.934.847 7002247400000000000247,4 /km2 (641 /sq mi)
Armoiries république française.svg Martinique (Pháp) Fort-de-France 70031128000000000001.128 km2 (436 dặm vuông Anh) 375.673 7002352600000000000352,6 /km2 (913 /sq mi)
Coat of arms of Mexico.svg Mexico Thành phố Mexico 70061964375000000001.964.375 km2 (758.449 dặm vuông Anh) 126.190.788 700157100000000000057,1 /km2 (148 /sq mi)
Coat of arms of Montserrat.svg Montserrat (Vương quốc Anh) Plymouth, Brades 7002102000000000000102 km2 (39 dặm vuông Anh) 4.993 700158800000000000058,8 /km2 (152 /sq mi)
Insigne Nicaraguae.svg Nicaragua Managua 7005130373000000000130.373 km2 (50.337 dặm vuông Anh) 6.465.501 700144100000000000044,1 /km2 (114 /sq mi)
Coat of arms of Nueva Esparta State.svg Nueva Esparta (Venezuela) La Asunción 70031151000000000001.151 km2 (444 dặm vuông Anh) 491,610 7002427100000000000427,1 /km2 (1.106 /sq mi)
Insigne Panamae.svg Panama Thành phố Panama 700475417000000000075.417 km2 (29.119 dặm vuông Anh) 4.176.869 700145800000000000045,8 /km2 (119 /sq mi)
Insigne Portus divitis.svg Puerto Rico (Hoa Kỳ) San Juan 70038870000000000008.870 km2 (3.420 dặm vuông Anh) 3.039.596 7002448900000000000448,9 /km2 (1.163 /sq mi)
Insigne Sabae.svg Saba (Vương quốc Hà Lan)[27] The Bottom 700113000000000000013 km2 (5,0 dặm vuông Anh) 1,537 7002118200000000000118,2 /km2 (306 /sq mi)
Escudo de San Andrés y Providencia.svg San Andrés và Providencia (Colombia) San Andrés 700153000000000000053 km2 (20 dặm vuông Anh) 77,701 70031468590000000001.468,59 /km2 (3.803,6 /sq mi)
BlasonSaintBarthelemy.svg Saint Barthélemy (Pháp)[28] Gustavia 700121000000000000021 km2 (8,1 dặm vuông Anh)[29] 7,448 7002354700000000000354,7 /km2 (919 /sq mi)
Insigne Sancti Christophori et Nivium.svg Saint Kitts và Nevis Basseterre 7002261000000000000261 km2 (101 dặm vuông Anh) 52.441 7002199200000000000199,2 /km2 (516 /sq mi)
Insigne Sanctae Luciae.svg Saint Lucia Castries 7002539000000000000539 km2 (208 dặm vuông Anh) 181.889 7002319100000000000319,1 /km2 (826 /sq mi)
Insigne incognitum.svg Saint-Martin (Pháp)[28] Marigot 700154000000000000054 km2 (21 dặm vuông Anh)[29] 29,820 7002552200000000000552,2 /km2 (1.430 /sq mi)
BlasonSaintPierreetMiquelon.svg Saint-Pierre và Miquelon (Pháp) Saint-Pierre 7002242000000000000242 km2 (93 dặm vuông Anh) 5.849 700124800000000000024,8 /km2 (64 /sq mi)
Insigne Sancti Vincenti et Granatinae.svg Saint Vincent và Grenadines Kingstown 7002389000000000000389 km2 (150 dặm vuông Anh) 110.211 7002280200000000000280,2 /km2 (726 /sq mi)
Insigne Insulae Eustathii.svg Sint Eustatius (Vương quốc Hà Lan)[27] Oranjestad 700121000000000000021 km2 (8,1 dặm vuông Anh) 2,739 7002130400000000000130,4 /km2 (338 /sq mi)
Insigne Insulae Sancti Martini (Nederlandia).svg Sint Maarten (Vương quốc Hà Lan) Philipsburg 700134000000000000034 km2 (13 dặm vuông Anh) 41.940 70031176700000000001.176,7 /km2 (3.048 /sq mi)
Insigne Trinitatis et Tobaci.svg Trinidad và Tobago Port of Spain 70035130000000000005.130 km2 (1.980 dặm vuông Anh) 1.389.843 7002261000000000000261,0 /km2 (676 /sq mi)
Turks and Caicos Islands Coat of Arms Sheield.svg Quần đảo Turks và Caicos (Vương quốc Anh) Cockburn Town 7002948000000000000948 km2 (366 dặm vuông Anh) 37.665 700134800000000000034,8 /km2 (90 /sq mi)
Great Seal of the United States (obverse).svg Hoa Kỳ Washington, D.C. 70069629091000000009.629.091 km2 (3.717.813 dặm vuông Anh) 327.096.265 700132700000000000032,7 /km2 (85 /sq mi)
Seal of the United States Virgin Islands.svg Quần đảo Virgin thuộc Mỹ (Hoa Kỳ) Charlotte Amalie 7002347000000000000347 km2 (134 dặm vuông Anh) 104.680 7002317000000000000317,0 /km2 (821 /sq mi)
Tổng &000000002450099500000024.500.995 &0000000541720440000000541.720.440 700122100000000000022,1 /km2 (57 /sq mi)

Đặc điểm tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Sa mạc Sonoran ở Arizona

Bắc Mỹ là phần phía Bắc của vùng đất thường được biết đến với các tên gọi Tân thế giới, Tây Bán cầu hay châu Mỹ.[30][31][32] Bắc Mỹ là châu lục có diện tích lớn thứ ba sau châu Áchâu Phi.[33][34] Kết nối bằng đường bộ duy nhất giữa Bắc Mỹ và Nam Mỹ là ở eo đất Daria hoặc eo đất Panama. Theo phần lớn các nhà địa lý học, điểm cực Đông Nam của Bắc Mỹ là khoảng cách Darién Gap nằm trên đường biên giới giữa Colombia và Panama, khiến cho gần như toàn bộ Panama được xem là thuộc Nam Mỹ.[35][36][37] Tuy nhiên, một số nhà địa chất học cho rằng điểm cực Nam của Bắc Mỹ là eo đất Tehuantepec, Mexico; từ đây, Trung Mỹ trải dài theo hướng Đông Nam về phía Nam Mỹ.[38] Các hòn đảo Caribe hay Tây Ấn được xem là một phần của Bắc Mỹ.[39] Lục địa này có đường bờ biển dài và không đồng đều. Vịnh Mexico là thủy phận lớn nhất ở Bắc Mỹ, theo sau là vịnh Hudson. Các vịnh nổi bật khác bao gồm vịnh Saint Lawrencevịnh California.

Trước khi eo đất Trung Mỹ được hình thành, khu vực này từng chìm dưới nước. Các hòn đảo Tây Ấn là những gì còn sót lại của một cây cầu đất liền từng kết nối Bắc và Nam Mỹ .

Ngoài khơi Bắc Mỹ có nhiều hòn đảo; nổi bật nhất là quần đảo Bắc Cực, quần đảo Bahamas, quần đảo Turks và Caicos, các hồn đảo Đại AntillesTiểu Antilles, quần đảo Aleut (trong đó có một số hòn đảo nằm trên Đông Bán cầu), quần đảo Alexander, hàng nghìn hòn đảo gần Bờ biển British Columbia, và Newfoundland. Greenland, một hòn đảo tự trị thuộc Đan Mạch và hòn đảo lớn nhất thế giới, nằm trên mảng kiến tạo với Bắc Mỹ (mảng Bắc Mỹ) nên được xem là một phần của lục địa này về mặt địa lý. Về mặt địa chất, Bermuda không phải là một phần của châu Mỹ mà là một hòn đảo được hình thành trên sống núi giữa Đại Tây Dương hơn 100 triệu năm trước. Địa điểm trên lục địa gần với Bermuda nhất là mũi Hatteras, North Carolina. Tuy nhiên, Bermuda vẫn thường được xem là một phần của Bắc Mỹ, đặc biệt là về mặt lịch sử, chính trị và văn hóa, vì mối liên hệ giữa hòn đảo này với Virginia cũng như các khu vực khác của lục địa.

Phần lớn lục địa Bắc Mỹ nằm trên mảng kiến tạo Bắc Mỹ. Một phần của miền tây Mexico, trong đó có Baja California, và một phần của California, bao gồm các thành phố San Diego, Los AngelesSanta Cruz, nằm trên rìa phía Đông của mảng Thái Bình Dương. Hai mảng kiến tạo này giáp nhau tại đứt gãy San Andreas. Khu vực cực Nam của Bắc Mỹ và phần lớn Tây Ấn nằm trên mảng Caribe. Về phía Tây, mảng Bắc Mỹ giáp các mảng Juan de FucaCocos.

Bắc Mỹ có thể được chia thành bốn khu vực lớn (mỗi khu vực bao gồm các khu vực nhỏ hơn): Đại Bình nguyên kéo dài từ Vịnh Mexico đến phía Bắc Canada; khu vực đồi núi phía Tây tương đối trẻ bao gồm dãy Rocky, Đại Bồn địa, CaliforniaAlaska; khu vực cao nguyên tương đối bằng phẳng ở phía Đông Bắc; và khu vực địa hình đa dạng phía Đông bao gồm dãy Appalachia, đồng bằng duyên hải dọc theo bờ biển Đại Tây Dương và bán đảo Florida. Mexico, bao gồm các cao nguyên và dãy núi trải dài, nằm chủ yếu ở phía Tây của châu lục, mặc dù đồng bằng duyên hải phía Đông của quốc gia này vẫn trải dài về phía Nam.

Nuuk, thủ đô của Greenland

Khu vực đồi núi phía Tây được xẻ dọc ở giữa thành các dãy núi Rocky và các dãy núi duyên hải ở California, Oregon, WashingtonBritish Columbia; ở giữa chúng là Đại Bồn Địa—một khu vực thấp hơn với những dãy núi nhỏ và hoang mạc thấp. Ngọn núi cao nhất ở đây là đỉnh Denali ở Alaska.

Địa chất[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử địa chất[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ phân chia thủy học của Canada, Hoa Kỳ và Mexico

Ở trung tâm Bắc Mỹ là một nền lục địa cổ được hình thành từ 1,5 đến 1,0 tỉ năm trước trong liên đại Nguyên sinh có tên là Laurentia.[40] Từ cuối đại Cổ sinh đến đầu đại Trung sinh, Bắc Mỹ là một phần của siêu lục địa Pangaea cũng như các lục địa khác của thế giới ngày nay và giáp lục địa Âu-Á về phía Đông. Sự hình thành của Pangaea đã tạo ra dãy núi Appalachi khoảng 480 triệu năm trước, vì thế đây là một trong những dãy núi lâu đời nhất trên thế giới. Khi Pangaea bắt đầu rạn nứt vào khoảng 200 triệu năm trước, Bắc Mỹ trở thành một phần của Laurasia, rồi sau đó tách ra khỏi lục địa Âu-Á và trở thành một lục địa độc lập vào khoảng giữa kỷ Phấn trắng.[41] Dãy Rocky và các dãy núi khác ở phía Tây cũng bắt đầu được hình thành trong một thời kỳ kiến tạo sơn xảy ra từ 80 đến 55 triệu năm trước. Eo đất Panama kết nối Bắc và Nam Mỹ có thể đã được hình thành từ 12 đến 15 triệu năm trước,[42] còn Ngũ Đại Hồ (cũng như nhiều hồ và sông nước ngọt khác ở phía Bắc) được hình thành khi băng hà rút đi 10.000 năm trước.

Bắc Mỹ là nguồn gốc phần lớn tri thức của nhân loại về niên đại địa chất của Trái Đất.[43] Khu vực địa lý mà hiện nay là Hoa Kỳ là nơi mà nhiều loài khủng long được phát hiện nhất trong số tất cả các quốc gia hiện đại.[43] Theo nhà cổ sinh vật học Peter Dodson, điều này là kết quả của các yếu tố địa tầng học, khí hậu, địa lý, con người và lịch sử.[43] Nguồn hóa thạch khủng long kỷ Jura Muộn nhiều nhất ở Bắc Mỹ là hệ tầng Morrison, phía Tây Hoa Kỳ.[44]

Địa chất Trung Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Mỹ là nơi xảy ra nhiều hoạt động địa chất như phun trào núi lửa và động đất. Năm 1976, ở Guatemala xảy ra một trận động đất lớn khiến 23.000 người thiệt mạng; Managua, thủ đô của Nicaragua, cũng bị các trận động đất tàn phá vào năm 1931 và năm 1972, trong đó trận động đất vào năm 1972 đã làm khoảng 5.000 người thiệt mạng; El Salvador đã bị tàn phá bởi một trần động đất vào năm 1986 và hai trận động đất vào năm 2001; một trận động đất đã tàn phá miền Bắc và miền Trung Costa Rica vào năm 2009, khiến ít nhất 34 người thiệt mạng; cũng vào năm 2009, ở một trận động đất mạnh ở Honduras đã làm ít nhất 7 người thiệt mạng. Năm 1968, núi lửa Arenal ở Costa Rica phun trào và khiến 87 người thiệt mạng. Nham thạch từ các núi lửa làm đất đai trở nên màu mỡ, từ đó tạo ra các khu vực cao nguyên có sản lượng nông nghiệp lớn có thể nuôi sống mật độ dân cư lớn.

Trung Mỹ có nhiều dãy núi; trong đó dài nhất là dãy Sierra Madre de Chiapas, dãy Cordillera Isabelia và dãy Cordillera de Talamanca. Ở giữa các dãy núi là những thung lũng màu mỡ phù hợp cho con người sinh sống; phần lớn dân số của Honduras, Costa Rica và Guatemala sống trong các thung lũng. Thung lũng cũng là nơi phù hợp để canh tác cà phê, đậu và các loại hoa màu khác.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ phân loại khí hậu Köppen

Bắc Mỹ là một lục địa rất lớn kéo dài từ vòng Bắc Cực đến chí tuyến Bắc. Greenland, cũng như khu vực Canadian Shield, có khí hậu đài nguyên với nhiệt độ trung bình 10 đến 20 °C (50 đến 68 °F), tuy nhiên, ở trung tâm Greenland là một dải băng rất lớn. Khí hậu đài nguyên này có phạm vi trên khắp Canada và kết thúc ở dãy núi Rocky (mặc dù vẫn bao gồm Alaska) cũng như ở cuối Canadian Shield, gần Ngũ Đại Hồ. Khu vực ở phía Tây dãy núi Cascade có khí hậu ôn đới với lượng mưa trung bình là 20 inch (510 mm).[45] Miền duyên hải California có khí hậu Địa Trung Hải với nhiệt độ trung bình ở các thành phố như San Francisco là 57 đến 70 °F (14 đến 21 °C) trong suốt cả năm.[46] Khu vực từ bờ Đông đến phía Đông tiểu bang North Dakota (theo chiều ngang) và đến tiểu bang Kansas (theo chiều dọc) có khí hậu lục địa ẩm với các mùa rõ rệt và lượng mưa trung bình hàng năm lớn, ví dụ như 50 inch (1.300 mm) ở Thành phố New York.[47]

Sinh thái[sửa | sửa mã nguồn]

Các loài động vật nổi bật ở Bắc Mỹ bao gồm bò bison, gấu đen, báo đốm, báo sư tử, cầy thảo nguyên, gà tây, linh dương sừng nhánh, gấu mèo, sói đồng cỏbướm vua.

Các loài thực vật nổi bật được canh tác ở Bắc Mỹ bao gồm thuốc lá, ngô, , cà chua, hoa hướng dương, việt quất, , bông Mexico, ớtvani.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ International Monetary Fund (tháng 10 năm 2016). “List of North American countries by GDP per capita”. World Economic Outlook. International Monetary Fund. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2017.Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  2. ^ “Demographia.com” (PDF).
  3. ^ Division, United Nations Statistics. “UNSD — Methodology”. unstats.un.org (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2018.
  4. ^ Division, United Nations Statistics. “UNSD — Methodology”. unstats.un.org (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2018.
  5. ^ Division, United Nations Statistics. “UNSD — Methodology”. unstats.un.org (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2018.
  6. ^ “Norteamérica” [North America] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 1 năm 2009. In Ibero-America, North America is considered a subcontinent containing Canada, the United States, Mexico, Greenland, Bermuda and Saint-Pierre and Miquelon.
  7. ^ “Six or Seven Continents on Earth” (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2016. "In Europe and other parts of the world, many students are taught of six continents, where North and South America are combined to form a single continent of America. Thus, these six continents are Africa, America, Antarctica, Asia, Australia, and Europe."
  8. ^ “Continents” (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2016. "six-continent model (used mostly in France, Italy, Portugal, Spain, Romania, Greece, and Latin America) groups together North America+South America into the single continent America."
  9. ^ “AMÉRIQUE” (bằng tiếng Pháp). Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2016.
  10. ^ “America” (bằng tiếng Italy). Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2016.
  11. ^ Office Québécois de la langue francaise. “Status of the French language”. Government of Quebec. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2010.
  12. ^ “Central America”. Encarta Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2011.
  13. ^ “Caribbean”. The Free Dictionary. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2011.
  14. ^ “The World Factbook – North America”. Central Intelligence Agency. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2011.
  15. ^ “Countries in North America – Country Reports”. Country Reports. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 4 năm 2015.
  16. ^ “North America: World of Earth Science”. eNotes Inc. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2011.
  17. ^ “North American Region”. The Trilateral Commission. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2011.
  18. ^ Parsons, Alan; Schaffer, Jonathan (tháng 5 năm 2004). Geopolitics of oil and natural gas. Economic Perspectives. U.S. Department of State.[cần chú thích đầy đủ]
  19. ^ “Definition of major areas and regions”. United Nations. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2007.
  20. ^ “Composition of macro geographical (continental) regions, geographical sub-regions, and selected economic and other groupings”. UN Statistics Division. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2007. (French)
  21. ^ “SPP Background”. CommerceConnect.gov. Security and Prosperity Partnership of North America. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2010.
  22. ^ “Ecoregions of North America”. United States Environmental Protection Agency. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2011.
  23. ^ “What's the difference between North, Latin, Central, Middle, South, Spanish and Anglo America?”. About.com.
  24. ^ Unless otherwise noted, land area figures are taken from “Demographic Yearbook—Table 3: Population by sex, rate of population increase, surface area and density” (PDF). United Nations Statistics Division. 2008. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2010. Chú thích journal cần |journal= (trợ giúp)
  25. ^ "World Population prospects – Population division". population.un.org. Ban Kinh tế và Xã hội Liên Hợp Quốc, Population Division. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2019.
  26. ^ "Overall total population" – World Population Prospects: The 2019 Revision” (xslx). population.un.org (custom data acquired via website). Ban Kinh tế và Xã hội Liên Hợp Quốc, Population Division. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2019.
  27. ^ a b c Population estimates are taken from the Central Bureau of Statistics Netherlands Antilles. “Statistical information: Population”. Government of the Netherlands Antilles. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2010.
  28. ^ a b These population estimates are for 2010, and are taken from “The World Factbook: 2010 edition”. Government of the United States, Central Intelligence Agency. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2010.
  29. ^ a b Land area figures taken from “The World Factbook: 2010 edition”. Government of the United States, Central Intelligence Agency. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2010.
  30. ^ “The Olympic symbols” (PDF). Lausanne: Olympic Museum and Studies Centre: International Olympic Committee. 2002. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2008. The five rings of the Olympic flag represent the five inhabited, participating continents (Africa, America, Asia, Europe, and Oceania Lưu trữ 23 tháng 2 2002 tại Wayback Machine).
  31. ^ Equipo (1997). “Continente”. Océano Uno, Diccionario Enciclopédico y Atlas Mundial. tr. 392, 1730. ISBN 978-84-494-0188-6.Bản mẫu:Author missing
  32. ^ Los Cinco Continentes (The Five Continents). Planeta-De Agostini Editions. 1997. ISBN 978-84-395-6054-8.[cần số trang]
  33. ^ Rosenberg, Matt (11 tháng 4 năm 2020). “Ranking the 7 Continents by Size and Population”. ThoughtCo (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2020.
  34. ^ “North America Land Forms and Statistics”. World Atlas.com. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2013.
  35. ^ “Americas”. Standard Country and Area Codes Classifications (M49). United Nations Statistics Division. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2014.
  36. ^ “North America”. Atlas of Canada. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2006.
  37. ^ “North America Atlas”. National Geographic.
  38. ^ “Central America”. Encyclopædia Britannica. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2011.
  39. ^ “North America”. Encyclopædia Britannica. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2014.
  40. ^ Dalziel, I.W.D. (1992). “On the organization of American Plates in the Neoproterozoic and the breakout of Laurentia”. GSA Today. 2 (11): 237–241.
  41. ^ Merali, Zeeya; Skinner, Brian J. (9 tháng 1 năm 2009). Visualizing Earth Science. Wiley. ISBN 978-0-470-41847-5.[cần số trang]
  42. ^ “Land Bridge Linking Americas Rose Earlier Than Thought”. LiveScience.com. 10 tháng 4 năm 2015.
  43. ^ a b c Dodson, Peter (1997). “American Dinosaurs”. Trong Currie, Phillip J.; Padian, Kevin (biên tập). Encyclopedia of Dinosaurs. Academic Press. tr. 10–13.
  44. ^ Weishampel, David B. (2004). Weishampel, David B.; Dodson, Peter; Halszka, Osmólska (biên tập). Dinosaur distribution (Late Jurassic, North America). The Dinosauria. Berkeley: University of California Press. tr. 543–545. ISBN 978-0-520-24209-8.
  45. ^ University of Washington. “Cascades weather”. University of Washington.
  46. ^ SF to do. “Temperature of San Francisco”. tourism.[liên kết hỏng]
  47. ^ Current Results. “Rainfall of NYC”. Current Results.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]