Madagascar

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cộng hoà Madagascar
Repoblikan'i Madagasikara Bản mẫu:Mg icon
République de Madagascar (tiếng Pháp)
Flag of Madagascar.svg Seal of Madagascar.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Madagascar
Khẩu hiệu
Tanindrazana, Fahafahana, Fandrosoana
(tiếng Madagascar: "Tổ quốc, Tự do, Tiến bộ")
Quốc ca
Ry Tanindraza nay malala ô
(tiếng Madagascar: "Ôi, Tổ quốc yêu dấu của ta")
Hành chính
Chính phủ Chính phủ lâm thời
Tổng thống
Thủ tướng
Andry Rajoelina
Albert Camille Vital
Ngôn ngữ chính thức tiếng Anh, tiếng Madagascar, tiếng Pháp
Thủ đô Antananarivo
18°55′N, 47°31′Đ
Thành phố lớn nhất Antananarivo
Địa lý
Diện tích 587.040 km²
Diện tích nước 0,13% %
Múi giờ MSK (UTC+3)
Lịch sử
Ngày thành lập Từ Pháp
26 tháng 6 năm 1960
Dân cư
Dân số ước lượng (2005) 18.040.341 người (hạng 58)
Dân số (1975) ~7.600.000 người
Mật độ 31 người/km² (hạng 142)
Kinh tế
GDP (PPP) (2005) Tổng số: 15,82 tỉ đô la Mĩ
HDI (2003) 0,499 thấp (hạng 146)
Đơn vị tiền tệ ariary Madagascar (MGA)
Thông tin khác
Tên miền Internet .mg

Madagascar (phiên âm tiếng Việt: Ma-đa-gát-xca hoặc Ma-đa-ga-xca), tên đầy đủ là Cộng hòa Madagascar (tiếng Madagascar: Repoblikan'i Madagasikara; tiếng Pháp: Republique de Madagascar) là một quốc đảo nằm ở Ấn Độ Dương ngoài khơi phía đông châu Phi. Trong tiếng Việt, Madagascar còn được gọi là Mã Đảo.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Văn hóa của người Madagascar thể hiện ảnh hưởng của người Châu Đại Dương. Chính ngôn ngữ Malagasy của người Madagascar thuộc nhóm ngôn ngữ Mã Lai-Đa Đảo mà khu vực được sử dụng nhiều là vùng Đông Nam ÁThái Bình Dương.

Madagascar có mặt trong sử sách kể từ thế kỉ 7 khi người Ả Rập đến giao thương dọc bờ biển phía tây Bắc. Có lẽ trong thời kỳ này chữ Sorabe dựa theo chữ Ả Rập để viết tiếng Malagasy hình thành. Người châu Âu xuất hiện vào những năm 1500 bắt đầu với thương thuyền người Bồ Đào Nha đến mua bán hàng hóa trước tiên.

Năm 1665, François Caron, Tổng giám đốc Công ty Đông Ấn Pháp đến Madagascar định thành lập một thương điếm tại đây. Tuy việc giao thương thất bại nhưng người Pháp đã tạo dựng cơ sở trên vùng đảo Bourbon và Ile-de-France gần đó (nay là đảo RéunionMauritius) nên đến cuối thế kỉ 17, thương thuyền Pháp đã thường xuyên cập bến mua bán bờ biển phía đông.

Trong thời gian từ năm 1774 đến 1824, Madagascar là sào huyệt của cướp biển thu mua nô lệ. Chính hạt lúa giống du nhập Bắc Mỹ đầu tiên gieo cấy ở Nam Carolina là do thuyền Hoa Kỳ ghé Madagascar lấy giống.

Trong số những sử sách xưa chép về Madagascar là bản tường trình của Robert Drury, một thủy thủ người Anh bị đắm tàu năm 1705 và dạt vào Madagascar nơi ông bị tù đày suốt 15 năm trước khi được một chiếc tàu Anh giải cứu. Cuốn hồi kí ghi chép nhiều chi tiết rõ rệt về đời sống trên đảo Madagascar vào thế kỉ 18[1].

Xã hội Madagascar lúc bấy giờ phân chia theo từng bộ tộc cho đến năm 1790 thì người Merina chiếm ưu thế, bành trướng ảnh hưởng khắp đảo trong khi bộ tộc Sakalava thì suy yếu dần. Năm 1817, triều đình Merina lại kí hiệp ước với thống đốc đảo Mauritius thuộc Anh để dẹp nạn buôn nô lệ. Ngược lại Anh hứa giúp đỡ quân sự và tài chánh. Ảnh hưởng của người Anh dẫn đến việc triều đình Merina đổi theo đạo Thiên Chúa của Giáo hội Trưởng Lão, Anh giáo và Congregtionalism.

Người Pháp can thiệp và thống trị[sửa | sửa mã nguồn]

Bích chương phổ biến cuộc chiến của Pháp chinh phục Madgascar, cũng là đề tài của một cuốn sách của H. Galli

Năm 1883, nại cớ triều đình Merina đã truất hữu của cải của kiều dân Pháp, quân Pháp mở cuộc xâm lăng Madagascar trong cuộc chiến Pháp-Hova thứ I. Triều đình Merina phải kí hòa ước nhường hải cảng Antsiranana (Diego-Suárez) ở phía bắc và chịu trả 560.000 franc bồi hoàn cho kiều dân Pháp. Chính phủ Anh thừa nhận cuộc bảo hộ của Pháp trên đảo Madagascar năm 1890 để đổi lấy đặc quyền ảnh hưởng và kiểm soát Zanzibar và miền duyên hải đông châu Phi.

Năm 1895, Pháp chiếm thêm hải cảng Mahajanga phía tây bắc đảo, mở đầu cuộc chiến tranh Pháp-Hova thứ II rồi tiến đánh thủ đô Antananarivo. Kinh đô Merina thất thủ vì triều đình không ngờ quân Pháp mở cuộc hành chinh từ tây bắc thay vì đánh từ duyên hải phía đông lên. Thương vong quân đội Pháp chỉ có 20 người tử trận nhưng đến 6.000 chết vì bệnh kiết lỵ, sốt rét v.v.

Qua năm 1896, Quốc hội Pháp thông qua việc sáp nhập Madagascar vào lãnh thổ Pháp, chấm chứt 103 năm vương triều Merina. Các hoàng thân thì bị bắt đày sang Algérie.

Trong Thế chiến thứ hai lính mộ Malagasy dưới sự chỉ huy của Pháp tham chiến ở Pháp, MarocSyria. Khi Pháp thất trận thì chính quyền Vichy Pháp giữ quyền cai trị Madgascar nhưng đến năm 1942 thì quân đội Anh đánh chiếm vào trao trả Madagascar lại cho chính phủ Charles de Gaulle.

Phong trào độc lập phát triển sau đó đến năm 1947 thì bạo động bùng nổ. Hai phe giao chiến với kết quả 8.000 tử thương. Chính phủ Pháp cố giải quyết và xúc tiến cải tổ hành chánh với bộ luật Loi Cadre. Năm 1958 là năm thành lập Cộng hòa Malagasy, một nước tự trị trong Cộng đồng Pháp (hậu thân của Liên hiệp Pháp). Thể chế này chấm dứt ngày 26 tháng 6 năm 1960 khi Madagascar tuyên bố hoàn toàn độc lập dưới hiến pháp 1959 mới soạn.

Thời kỳ độc lập cho đến nay[sửa | sửa mã nguồn]

Cộng hòa Malagasy giành được quyền tự trị năm 1958, trở thành quốc gia độc lập năm 1960 dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Philibert Tsiranana. Sau khi Tổng thống Tsiranana từ chức (1972), thời kì đầy xáo trộn kéo dài đến năm 1975, Cộng hòa Malagasy chính thức đổi tên thành Madagascar và Didier Ratsiraka trở thành nguyên thủ quốc gia. Tái đắc cử năm 1989, Ratsiraka phải đương đầu và không thể trấn áp được phong trào nổi dậy của nhân dân.

Năm 1991, trước tình hình xáo trộn và sự phản đối ngày càng gia tăng, chính phủ phải tuyên bố tình trạng khẩn cấp.

Chính phủ chuyển tiếp được hình thành và tiến hành dân chủ hóa các thể chế. Hiến pháp mới được phê chuẩn thông qua cuộc trưng cầu ý dân năm 1992 và ứng cử viên đối lập Albert Zafy đắc cử Tổng thống trong cuộc tuyển cử năm 1993. Năm 1997, Tổng thông Ratsiraka trở lại cầm quyền, tiếp tục theo đuổi chính sách tự do hóa nền kinh tế do cựu Tổng thống Zafy mở đầu.

Tháng 12 năm 2001, cuộc tranh cử chức Tổng thống giữa Tổng thống đương nhiệm Didier RatsirakaMarc Ravalomanana, thị trưởng thành phố Antananarivo, không thể đưa ra kết quả chung cuộc và một cuộc bầu cử khác diễn ra để quyết định người thắng cuộc. Ravalomanana cho rằng cuộc bầu cử gian lận và tự tuyên bố trở thành Tổng thống tháng 2 năm 2002. Để đáp lại, Didier Ratsiraka tuyên bố tình trạng thiết quân luật và thành lập thủ đô mới ở Toamasina, Madagascar ở trong tình trạng một nước có hai thủ đô và hai Tổng thống. Sau đợt kiểm phiếu lại vào tháng 4, Tòa án Hiến pháp Tối cao tuyên bố Ravalomanana thắng cuộc với 51,5% số phiếu. Tuy nhiên, D. Ratsiraka từ chối chấp nhận kết quả này. Sau một vài xung đột nhỏ giữa hai quân đội kình địch, D. Ratsiraka trốn sang Pháp. Cuộc nội chiến kéo dài sáu tháng tại Madagascar cũng kết thúc.[2]

Tháng 12 năm 2006, Tổng thống Ravalomanana đã tái đắc cử nhiệm kỳ thứ hai và đề ra chương trình khôi phục kinh tế mang tên "Kế hoạch hành động Madagascar" với mục tiêu giảm tỷ lệ đói nghèo xuống còn 50% và giữ mức tăng trưởng kinh tế từ 8 đến 10% năm cho đến năm 2012.

Tháng 4 năm 2007, Madagascar đã tổ chức trưng cầu dân ý sửa đổi Hiến pháp mới cho phép đem lại nhiều đặc quyền cho Tổng thống, và lấy tiếng Anh làm ngôn ngữ chính thức bên cạnh tiếng Pháptiếng Malagasy tạo thuận lợi cho Madagascar hội nhập khu vực và quốc tế, nhất là thu hút các nhà đầu tư nước ngoài.[3]

Từ cuối 2008, cuộc đấu tranh quyền lực giữa Tổng thống Marc Ravalomanana với Thị trưởng thủ đô, ông Andry Rajoelina đã diễn ra quyết liệt và bùng nổ thành bạo lực. Ngày 17 tháng 3 năm 2009, dưới áp lực của quân đội, Tổng thống Marc Ravalomanana đã buộc phải tuyên bố từ chức, chuyển giao quyền lực cho quân đội và sống lưu vong ở nước ngoài. Ông Rajoelina tuyên thệ nhậm chức ngày 21 tháng 3 năm 2009 sau khi được quân đội trao lại quyền Tổng thống.

Tổng thống tự xưng Rajoelina chưa được quốc tế công nhận. Một số nước như Nauy, Mỹ phản đối bằng việc cắt viện trợ cho Madagascar. Liên minh châu Phi đình chỉ quy chế thành viên và tước quyền đăng cai Hội nghị Thượng đỉnh AU tháng 7 năm 2009.

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Trong 12 năm đầu sau khi độc lập lãnh tụ đảng Dân chủ xã hộiPhilibert Tsiranana nắm chức tổng thống. Năm 1972, sau nhiều đợt chống đối và xuống đường Tsiranana bị buộc phải từ chức. Phe quân đội do tướng Gabriel Ramanantsoa lên thay nhưng chỉ được ba năm thì trao quyền hành pháp lại cho trung tá Richard Ratsimandrava. Sáu ngày sau Ratsimandrava bị ám sát. Tháng 6 năm 1975 Didier Ratsiraka lên nắm quyền, mở đầu một chế độ độc tài cai trị Madagascar với tên "Đệ nhị Cộng hòa".

Trong suốt 16 năm chính phủ Ratsiraka và đảng AREMA (Andry sy Rihana Enti-Manavotra an'i Madagasikara) chọn theo con đường "cách mạng xã hội chủ nghĩa", quốc hữu hóa nhiều doanh nghiệp dưới kế hoạch kinh tế tập trung. Hậu quả là nền kinh tế Madgascar suy thoái và tê liệt. Đối lập chính trị và tự do báo chí đều bị hạn chế. Trong thời gian đó Ratsiraka tái đắc cử năm 1982 và 1989 nhưng áp lực cải cách dần càng mạnh. Cuối cùng tình hình kinh tế bế tắc buộc Ratsiraka phải nhượng bộ, nới lỏng chính sách kinh tế và cho phép kinh doanh tư nhân. Năm 1989 thì chính phủ bỏ kiểm duyệt báo chí khiến phong trào đối lập chính trị "Hery Velona" càng lớn mạnh.

Những đợt tổng đình công và xuống đường đầu thập niên 1990 ép Ratsiraka phải thay thủ tướng để cứu vãn tình hình và điều đình với phe đối lập nhưng lập trường của Hery Velona không thay đổi. Ngày 31 tháng 10 năm 1991, Ratsiraka phải ngồi cùng các nhóm đối lập trong Hội nghị Panorama kí kết lập một chính phủ chuyển tiếp. Kết quả là Ratsiraka bị tước hết quyền lực trong khi chính phủ lập hiến soạn một hiến pháp mới sửa soạn cho ngày tổng tuyển cử.

Trong cuộc bầu cử tháng 11 năm 1992, Ratsiraka cũng ra tranh cử nhưng bị lãnh tụ nhóm Hery VelonaAlbert Zafy đánh bại.

Được ba năm thì Quốc hội Madgascar mở cuộc đàn hặc đem Zafy ra luận tội và giao quyền chính phủ cho Norbert Ratsirahonana nhiếp chính. Cuộc bầu cử năm 1997 diễn ra với hai đối thủ cũ: Zafy và Ratsiraka. Lần này Ratsiraka đắc cử. Với đảng AREMA hậu thuẫn Ratsiraka cho tu chính hiến pháp để củng cố quyền lực ngành hành pháp và nới rộng tự trị cho các tỉnh.

Với cuộc tổng tuyển cử năm 2001, tình hình bất ổn tái diễn: cả hai ứng cử viên Marc RavalomananaDidier Ratsiraka đều tuyên bố đắc cử và tranh chấp chức tổng thống. Bạo động kéo dài gây nhiều xáo trộn. Tháng 7 năm 2002, Ratsiraka chọn con đường lưu vong sang Pháp, chấm dứt cuộc bế tắc chính trị và Ravalomanana ra chấp chính.

Năm 2006, Ravalomanana tái đắc cử nhiệm kì hai và cho cải tổ kinh tế chủ yếu là cho phép các công ty ngoại quốc đầu tư vào kĩ nghệ chính, nhất là ngành khoáng sản.

Tháng 3 năm 2009, phe quân nhân đại diện bởi Andre Ndriarijaona làm cuộc đảo chánh và đưa lãnh tụ đảng đối lập Andry Rajoelina lên làm tổng thống.[4]

Ông Rajoelina tuyên thệ nhậm chức ngày 21 tháng 3 năm 2009 sau khi được quân đội trao lại quyền Tổng thống. Tổng thống tự xưng Rajoelina chưa được quốc tế công nhận. Một số nước như Nauy, Mỹ phản đối bằng việc cắt viện trợ cho Madagascar. Liên minh châu Phi đình chỉ quy chế thành viên và tước quyền đăng cai Hội nghị Thượng đỉnh AU tháng 7 năm 2009.[3]

Chính phủ[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ chế chính của nước Cộng hòa Madagascar gồm chức tổng thống, lưỡng viện quốc hội, chức thủ tướng cùng nội các và ngành tư pháp độc lập.

Tổng thống với nhiệm kỳ 5 năm (tối đa 3 nhiệm kì) được dân bầu trực tiếp bằng cách đầu phiếu phổ thông.

Hạ viện quốc hội với 160 dân biểu cũng được bầu trực tiếp với nhiệm kì 5 năm. Thượng viện quốc hội có 60 nghị sĩ với nhiệm kì 6 năm; 2/3 nghị sĩ do các đại biểu cấp địa phương bầu lên; 1/3 là do tổng thống bổ nhiệm.

Các đảng phái chính trị:

+ Đảng Tôi yêu Madagascar (TIM) của cựu Tổng thống Ravalomanana.

+ Phong trào Thanh niên Madagascar tự quyết (TGV) của Andry Rajoelina.

+ Đảng Tiên phong Cách mạng Malgache (AREMA) của cựu Tổng thống Didier Ratsiraka, thành lập 1976.

+ Đảng Đại hội vì độc lập của Madagascar (AKFM), thành lập 1958.

+ Phong trào dân tộc vì độc lập của Madagascar (MONIMA), thành lập 1958.[3]

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Madgascar được chia thành sáu tỉnh tự trị (faritany mizakatena) và 22 phân bộ (faritra). Hiện tại, chính phủ nước này đã giải thể cấp tỉnh và lấy phân bộ làm cấp hành chánh địa phương cao nhất.

Sáu tỉnh Madagascar
Tỉnh Phân bộ Dân số
1 Antananarivo
(Tananarive)
Analamanga, Bongolava, Itasy, Vakinankaratra 4 637 000.
2 Antsiranana
(Diégo-Suarez)
Diana, Sava 1 188 500.
3 Fianarantsoa
Amoron'i Mania, Atsimo Atsinanana, Haute Matsiatra, Ihorombe, Vatovavy Fitovinany 3 366 000.
4 Mahajanga
(Majunga)
Betsiboka, Boeny, Melaky, Sofia 1 734 000.
5 Toamasina
(Tamatave)
Alaotra Mangoro, Analanjirofo, Atsinanana 2 593 000.
6 Toliara
(Tuléar)
Androy, Anosy, Atsimo Andrefana, Menabe 2 229 550
MadagascarProvinces001.png

Nhỏ hơn phân bộ là 116 quận (fivondronana), 1.548 xã (kaominina) và 16.969 thôn (fokotany).

Đô thị thì được xếp ngang hành với phân bộ.

Địa lí[sửa | sửa mã nguồn]

Madagascar

Với diện tích 587.000 km², Madagascar là hải đảo lớn thứ tư trên thế giới và là quốc gia lớn thứ 46.

phía đông đảo quốc này là dải duyên hải hẹp, phủ bởi rừng nhiệt đới xen kẽ những ao đầm, kênh rạch kéo dài 460 km. Vượt triền dốc cao vào trong nội địa là vùng cao nguyên ở cao độ từ 750 đến 1350 m. Cao nguyên này bị cắt xẻ bởi những thung lũng sâu, thường đắp thành ruộng bậc thang trồng lúa, trong khi đồi trọc bị soi mòn đáng kể vì đất đai bị sa mạc hóa. Vùng đất này giàu chất sắtnhôm tạo nên sắc đất màu đỏ tiêu biểu của đất feralit. Vì lẽ đó Madagascar còn mệnh danh là "Đảo Đỏ".

Hai đỉnh Maromokotro (2.876 m) và Tsiafajavona (2.643 m) thuộc rặng núi Ankaratra nổi lên phía nam thủ đô Antananarivo là hai ngọn núi cao nhất Madagascar. Vì nằm ở cao độ đáng kể, vùng núi này thỉnh thoảng có tuyết rơi. Lui về phía nam nữa là rặng Andringitra với mấy đỉnh núi hơn 2.400 m.

Theo triền dốc thoai thoải sang phía tây đảo là những cánh rừng thưa chủ yếu mọc cây thay lá (deciduous) và đồng cỏ cao xen lẫn cây bụi còn gọi là hệ sinh thái savanna. Vùng nam và tây-nam vì nhiệt độ cao cùng lượng mưa thấp nên đất là sa mạc lác đác mọc cây bao báp.

Ven biển phía tây thì có nhiều vũng kín gió nhưng vì nạn đất lở soi mòn trong nội địa nên vịnh biển thường bị đất cát bồi lấp.

Madagascar có hai mùa chính: mùa mưa từ tháng 11 đến tháng 4, và mùa khô từ tháng 5 đến tháng 10. Bị chi phối bởi gió mậu dịch đông-nam, đảo quốc này đôi khi bị bão.

Sinh thái[sửa | sửa mã nguồn]

Là một hòn đảo tách biệt một thời gian dài với lục địa châu Phi lân cận, Madagascar là nơi sinh sống của nhiều loài động thực vật bản địa mà không có ở bất kỳ nơi nào khác trên Trái Đất.[5][6] Khoảng 90% tất cả các loài động và thực vật được tìm thấy ở Madagascar là loài đặc hữu,[7] như vượn cáo (một nhóm động vật linh trưởng), các loài động vật ăn thịt fossa và nhiều loài chim. Hệ sinh thái đặc trưng này đã làm cho nhiều nhà sinh thái học xem Madagascar là "lục địa thứ 8",[8] and the island has been classified by Conservation International as a biodiversity hotspot.[5]

Có hơn 80% trong số 14.883 loài thực vật của Madagascar không được tìm thấy ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, bao gồm 5 họ thực vật.[9] Họ Didiereaceae gồm 4 chi và 11 loài chỉ phân bố ở trong các khu rừng có gai rậm rạp ở miền tây nam Madagascar.[10] 4/5 các loài trong họ Pachypodium phân bố trên thế giới là loài đặc hữu của đảo này.[11] 3/4[12] trong số 860[9] loài lan của Madagascar chỉ được tìm thấy ở đây, có 6 trong 8 loài Adansonia trên thế giới.[13] Đảo này có khoảng 170 loài cau, gấp 3 lần trong tổng số các loài trên châu Phi lục địa; 165 trong số đó là loài đặc hữu.[12]

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Từ giữa năm 1990, Madagascar thực hiện chính sách kinh tế thị trường, theo đuổi chính sách tư nhân hóatự do hóa, khuyến khích nguồn vốn và đầu tư nước ngoài. Chiến lược này đã giúp Madagascar duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế đều và ổn định. Madagascar có quan hệ hợp tác kinh tế chủ yếu với các nước phương Tâychâu Á.

Kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp bao gồm cả thủy sản và lâm nghiệp (chiếm 80% dân số và đóng góp hơn ¼ GDP). Nông sản chính có: cà phê, vani (đứng đầu thế giới), đinh hương, hồ tiêu, gạo, bông, cao su, mía.. và chiếm tới 90% kim ngạch xuất khẩu.

Khoáng sản có: crôm, graphite, mica, than, kẽm, thạch anh, vàng, uranium...

Công nghiệp khai khoáng chưa phát triển, chủ yếu tập trung vào công nghiệp chế biến thịt, thủy sản, dệt may, sản xuất bia, đường, xi măng, lắp ráp ô tô...[3]

Nông nghiệp, kể cả ngư nghiệplâm nghiệp, là chỗ dựa chính của nền kinh tế quốc gia, sử dụng khoảng 74% lực lượng lao động, chiếm 34% GDP và đóng góp hơn 70% giá trị xuất khẩu. Công nghiệp, chỉ chiếm khoảng 13% GDP, dệt và chế biến nông sản là hai ngành công nghiệp chính, ngoài ra còn có nột số ngành công nghiệp khác như sản xuất giấy, xà phòng, đường, thuộc da, xi măngthủy tinh.

Madagascar hiện phải đương đầu với nhiều khó khăn: tình trạng suy dinh dưỡng kinh niên, thiếu hụt tài chính và trang thiết bị giáo dục, diện tích rừng bị thu hẹp nghiêm trọng đi kèm với tình trạng đất xói mòn, tỉ lệ tăng dân số gần 3% / năm. Mức tăng sản lượng trung bình những năm 1992-1997 thấp hơn tỉ lệ tăng dân số. Mức tăng trưởng này còn chậm lại do các cuộc biểu tình, đình công chống chính phủ, nhu cầu tiêu thụ cà phê trên thế giới giảm, chính phủ lơ là trong cải cách kinh tế. Hiện nay, việc xúc tiến cải cách mạnh mẽ, giúp đỡ tài chính và đầu tư nước ngoài là những nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế đất nước.[2]

Vài số liệu thống kê:

  • GDP chính thức: 9,079 tỷ USD (2009)
  • GDP bình quân: 440 USD (2009)
  • Tăng trưởng: 0,4% (2009)

Quan hệ với nước ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Madagascar là thành viên của Liên minh châu Phi (AU), Phong trào không liên kết. Năm 2004, Madagascar được kết nạp làm thành viên của Cộng đồng Phát triển Nam châu Phi (SADC). Tuy nhiên, do cuộc đảo chính chiếm quyền vào tháng 3 năm 2009, cộng đồng quốc tế không thừa nhận chính quyền của ông Rajoelina. Vì vậy nên tư cách thành viên Liên minh châu PhiCộng đồng Phát triển Nam châu Phi của Madagascar hiện đang bị treo.

Dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số khoảng 20,6 triệu người. Gồm các sắc tộc: người Madagascar, người Ả Rập, Saraka, Antaisaka, Sakalava), người Pháp, người Ấn Độ, người Creole, người Comoran.

Ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Pháp, tiếng Anhtiếng Malagasy đều là ngôn ngữ chính thức.

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Khoảng một nửa dân số của Madagascar thực hành tôn giáo truyền thống, mà xu hướng là nhấn mạnh mối liên hệ giữa người sống và người chết.

Khoảng 41% dân số là Kitô giáo, chia gần như đồng đều giữa Công giáoTin lành, nhưng cũng có những Kitô hữu Chính Thống giáo. Tín đồ Hồi giáo chiếm khoảng 7 phần trăm dân số. Họ chủ yếu tập trung ở phía bắc, tây bắc và đông nam.[14] Mặc Môn có hơn 8.000 thành viên trong 33 chi hội ở Madagascar.[15]

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Trò chơi dân gian và thể thao[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ http://www.guardian.co.uk/uk/2002/oct/13/research.books
  2. ^ a ă http://vansu.vn/?part=thegioi&opt=cacnuoc&act=view&code=madagascar
  3. ^ a ă â b http://www.mofa.gov.vn/vi/cn_vakv/nr040819100948/nr040921084817/ns101115002240#zEGXklauE6E7
  4. ^ http://news.bbc.co.uk/2/hi/africa/7948196.stm Đảo chánh ở Madagascar
  5. ^ a ă Conservation International (2007). “Madagascar and the Indian Ocean Islands”. Biodiversity Hotspots. Conservation International. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2011. 
  6. ^ Tattersall, Ian (2006). Origin of the Malagasy Strepshirhine Primates. Springer. tr. 1–6. ISBN 0-387-34585-X. 
  7. ^ Hobbes & Dolan (2008), p. 517
  8. ^ Hillstrom & Collier Hillstrom (2003), p. 50
  9. ^ a ă Callmander, Martin; et. al (2011). “The endemic and non-endemic vascular flora of Madagascar updated”. Plant Ecology and Evolution 144 (2): 121–125. doi:10.5091/plecevo.2011.513. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2012. 
  10. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên endemicstats
  11. ^ Lavranos, John (2004). “Pachypodium makayense: A New Species From Madagascar”. Cactus and Succulent Journal 76 (2): 85–88. 
  12. ^ a ă Bradt (2011), p. 38
  13. ^ Baum, D. A.; Small, R. L.; Wendel, J. F. (1998). “Biogeography and floral evolution of baobabs (Adansonia, Bombacaceae) as inferred from multiple data sets”. Systematic Biology 47 (2): 181–207. doi:10.1080/106351598260879. PMID 12064226. 
  14. ^ http://www.state.gov/j/drl/rls/irf/2009/127241.htm
  15. ^ http://www.mormonnewsroom.org/facts-and-statistics/country/madagascar/

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]