Borneo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Borneo
Borneo Topography.png
Ảnh topo của Borneo
Địa lý
Vị trí Đông Nam Á
Tọa độ 0°B 114°Đ / 0°B 114°Đ / 0; 114Tọa độ: 0°B 114°Đ / 0°B 114°Đ / 0; 114
Quần đảo Quần đảo Sunda Lớn
Diện tích 743330
Điểm cao nhất Núi Kinabalu (4095)
Chính quyền
Brunei
Khu vực hành chính quốc gia Belait
Brunei-Muara
Temburong
Tutong

Indonesia
Khu vực hành chính quốc gia Đông Kalimantan
Trung Kalimantan
Tây Kalimantan
Nam Kalimantan
Bắc Kalimantan

Malaysia
Khu vực hành chính quốc gia Sabah
Sarawak
Nhân khẩu học
Dân số 18.590.000 (tính đến năm 2009)
Mật độ 21,52
Người bản xứ Malays, Người Hán, Dayak
Ảnh vệ tinh của Borneo.

Borneo hay Kalimantanđảo lớn thứ 3 thế giới với diện tích lên đến 743.330 km² tại Đông Nam Á. Borneo là tên gọi của người phương Tây và hiếm khi được dân địa phương gọi. Đảo chia làm ba phần thuộc chủ quyền của ba nước Brunei, IndonesiaMalaysia. Phần đảo này thuộc chủ quyền của Indonesia được gọi là Kalimantan trong khi phần thuộc chủ quyền thuộc Malaysia được gọi là Đông Malaysia. Gần như toàn bộ lãnh thổ Brunei là một phần nhỏ của đảo Borneo.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Borneo (trái) và Sulawesi.

Borneo được bao quanh bởi biển Đông về phía bắc và tây bắc, biển Sulu về phía đông bắc, biển Celebeseo biển Makassar về phía đông, biển Javaeo biển Karimata về phía nam.

Về phía tây của Borneo là bán đảo Mã LaiSumatra. Về phía nam là đảo Java. Về phía đông là đảo Sulawesi. Về phía đông bắc là Philippines.

Điểm cao nhất của Borneo là núi KinabaluSabah (Malaysia), với độ cao tuyệt đối là 4.095 m, làm cho hòn đảo trở thành hòn đảo cao thứ 3 trên thế giới.

Các hệ thống sông lớn nhất trên đảo là sông Kapuas, với chiều dài xấp xỉ 1.143 km (710 dặm Anh) là con sông dài nhất tại Indonesia, sông Rajang tại Sarawak dài khoảng 562,5 km (349,5 dặm Anh) là con sông dài nhất Malaysia, sông Barito khoảng 880 km (550 dặm Anh) và sông Mahakam dài khoảng 980 km (610 dặm Anh).

Borneo cũng được biết đến vì các hệ thống hang động rộng lớn của nó. Hang Clearwater có một trong những sông ngầm dài nhất thế giới. Hang Deer, được coi là hang động dài nhất thế giới, là nơi sinh sống của trên 3 triệu con dơiphân dơi tích tụ lại cao trên 100 m (330 ft).

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Borneo được chia ra về mặt hành chính:

Borneo là đảo duy nhất thế giới có 3 quốc gia riêng biệt.

Dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn đảo có khoảng 16 triệu dân vào năm 2000.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Một đoàn kịch của Bahau Dayak biểu diễn trong lễ hội Hudoq (lễ hội thu hoạch) tại Samarinda, vùng cư trú của Nam và Đông Kalimantan, Đông Ấn Hà Lan (ngày nay là Đông Kalimantan, Indonesia). (Taken k. 1898–1900)

Dựa theo tư liệu tiếng Trung Quốc (977),[1]:129 tiếng Ấn và tiếng Nhật cổ đại, các thành phố ven biển phía tây Borneo đã trở thành cảng thương mại vào thiên niên kỷ đầu tiên sau Công nguyên.[2] Theo tư liệu tiếng Trung, vàng, long não, mai rùa, ngà chim mỏ sừng, sừng tê, mào sếu, sáp ong, lakawood (gỗ lõi và rễ thơm của loài dây leo dày, Dalbergia parviflora), huyết rồng, dây mây, tổ yến và các loại gia vị khác nhau được miêu tả là những mặt hàng có giá trị nhất từ ​​Borneo.[3] Người Ấn tên Borneo Suvarnabhumi (vùng đất vàng) và Karpuradvipa (đảo Camphor). Người Java có tên Borneo Puradvipa, hay đảo Kim cương. Phát hiện khảo cổ học ở đồng bằng Sông Sarawak cho thấy khu vực này là một trung tâm thương mại thịnh vượng giữa Ấn Độ và Trung Quốc từ thế kỷ VI cho đến năm 1300.[3]

Các cột đá khắc chữ Pallava, được tìm thấy ở Kutai dọc theo sông MahakamĐông Kalimantan và có niên đại khoảng nửa sau thế kỷ IV, cho một số bằng chứng lâu đời nhất về ảnh hưởng Hindu ở Đông Nam Á.[4] Đến thế kỷ 14, Borneo trở thành một bang chư hầu của Majapahit (ở Indonesia ngày nay),[5][6] về sau thay đổi sự thần phục với nhà Minh ở Trung Quốc.[7] Hồi giáo du nhập vào đảo từ thế kỷ X,[8] sau các thương nhân Hồi giáo đến sau đã chuyển đổi nhiều cư dân bản địa ven biển.[9]

Hồi quốc Brunei tuyên bố độc lập khỏi Majapahit sau cái chết của hoàng đế Majapahit vào giữa thế kỷ XIV. Trong thời kỳ vàng son của Bolkiah từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, đế quốc Brunei cai trị gần như toàn bộ khu vực duyên hải Borneo (tên cho hòn đảo này do ảnh hưởng của nó trong khu vực) và một số đảo ở Philippines.[10] Trong những năm 1450, Shari'ful Hashem Syed Abu Bakr,, một người Ả Rập sinh ra ở Johor,[11] du hành Sulu từ Malacca. Năm 1457, ông thành lập Hồi quốc Sulu; ông tự cho mình là "Paduka Maulana Mahasari Sharif Sultan Hashem Abu Bakr".[12] Sau sự độc lập vào năm 1578 từ ảnh hưởng của Brunei,[13] Sulu bắt đầu mở rộng chế độ quyền lãnh hải của mình đến nhiều nơi miền bắc Borneo.[14][15] Cả hai Hồi quốc cai trị miền bắc Borneo đều giao thương với Trung Quốc bằng thuyền buồm Trung Quốc thường xuyên cập bến.[16][17] Mặc dù quyền lãnh hải của Hồi quốc, khu vực nội địa của Borneo vẫn được tự do khỏi các quy tắc bất kỳ của vương quốc.[18]

Thời thuộc Anh và Hà Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Thế chiến II[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Cœdès, George (1968). The Indianized States of South-East Asia. University of Hawaii Press. ISBN 978-0-8248-0368-1. 
  2. ^ Derek Heng Thiam Soon (tháng 6 năm 2001). “The Trade in Lakawood Products Between South China and the Malay World from the Twelfth to Fifteenth Centuries AD”. Journal of Southeast Asian Studies 32 (2): 133–149. doi:10.1017/S0022463401000066. 
  3. ^ a ă Jan O. M. Broek (1962). “Place Names in 16th and 17th Century Borneo”. Imago Mundi 16: 129–148. JSTOR 1150309. doi:10.1080/03085696208592208. 
  4. ^ (Chapter 15) The Earliest Indic State: Kutai. The Austronesians: Historical and Comparative Perspectives (E Press, The Australian National University). 2006. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2009. 
  5. ^ Peter SkalnÃk (1 tháng 1 năm 1989). Outwitting the State. Transaction Publishers. tr. 41–. ISBN 978-1-4128-3041-6. 
  6. ^ Ooi Keat Gin; Hoang Anh Tuan (8 tháng 10 năm 2015). Early Modern Southeast Asia, 1350-1800. Routledge. tr. 90–. ISBN 978-1-317-55919-1. 
  7. ^ Mohammad Al-Mahdi Tan Kho; Hurng-yu Chen (tháng 7 năm 2014). “Malaysia-Philippines Territorial Dispute: The Sabah Case” (PDF). National Chengchi University. NCCU Institutional Repository. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 9 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2016. 
  8. ^ Mariah Doksil (25 tháng 8 năm 2014). “Islam arrived in Sabah in 10th century”. The Borneo Post. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2016. 
  9. ^ “Islam In Indonesia. A resource of Islam in the archipelago”. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2017. 
  10. ^ Frans Welman (1 tháng 8 năm 2013). Borneo Trilogy Brunei: Vol 1. Booksmango. tr. 8–. ISBN 978-616-222-235-1. 
     • David Lea; Colette Milward (2001). A Political Chronology of South-East Asia and Oceania. Psychology Press. tr. 16–. ISBN 978-1-85743-117-9. 
     • Patricia Herbert; Anthony Crothers Milner (1989). South-East Asia: Languages and Literatures : a Select Guide. University of Hawaii Press. tr. 99–. ISBN 978-0-8248-1267-6. 
     • Nigel Hicks (2007). The Philippines. New Holland Publishers. tr. 34–. ISBN 978-1-84537-663-5. 
     • Peter Church (3 tháng 2 năm 2012). A Short History of South-East Asia. John Wiley & Sons. tr. 16–. ISBN 978-1-118-35044-7. 
     • Harun Abdul Majid (15 tháng 8 năm 2007). Rebellion in Brunei: The 1962 Revolt, Imperialism, Confrontation and Oil. I.B.Tauris. tr. 2 & 4. ISBN 978-1-84511-423-7. 
     • Eur (2002). The Far East and Australasia 2003. Psychology Press. tr. 203–. ISBN 978-1-85743-133-9. 
  11. ^ K. S. Nathan; Mohammad Hashim Kamali (tháng 1 năm 2005). Islam in Southeast Asia: Political, Social and Strategic Challenges for the 21st Century. Institute of Southeast Asian Studies. tr. 62–. ISBN 978-981-230-282-3. 
  12. ^ Shinzō Hayase (2007). Mindanao Ethnohistory Beyond Nations: Maguindanao, Sangir, and Bagobo Societies in East Maritime Southeast Asia. University of Hawaii Press. ISBN 978-971-550-511-6. 
  13. ^ Ring, Trudy; Salkin, Robert M; La Boda, Sharon (tháng 1 năm 1996). International Dictionary of Historic Places: Asia and Oceania. Taylor & Francis. tr. 160–. ISBN 978-1-884964-04-6. 
  14. ^ Eko Prayitno Joko. “Isu Pemilikan Wilayah Pantai Timur Sabah: Satu Penulusuran daripada Sumber Sejarah” (PDF) (bằng tiếng Malay and some English). Universiti Malaysia Sabah. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017. 
     • Rozan Yunos (7 tháng 3 năm 2013). “Sabah and the Sulu claims”. The Brunei Times. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017. 
  15. ^ Bachamiya Abdul Hussainmiya (2006). Brunei: revival of 1906 : a popular history. Brunei Press. ISBN 978-99917-32-15-2. 
  16. ^ Keat Gin Ooi (2004). Southeast Asia: A Historical Encyclopedia, from Angkor Wat to East Timor. ABC-CLIO. tr. 271–. ISBN 978-1-57607-770-2. 
  17. ^ Eric Tagliacozzo; Wen-chin Chang (13 tháng 4 năm 2011). Chinese Circulations: Capital, Commodities, and Networks in Southeast Asia. Duke University Press. tr. 236–. ISBN 0-8223-4903-5. 
  18. ^ Ranjit Singh (2000). The Making of Sabah, 1865–1941: The Dynamics of Indigenous Society. University of Malaya Press. ISBN 978-983-100-095-3. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]