Borneo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Borneo
Borneo Topography.png
Ảnh topo của Borneo
Địa lý
Vị trí Đông Nam Á
Tọa độ 0°B 114°Đ / 0°B 114°Đ / 0; 114Tọa độ: 0°B 114°Đ / 0°B 114°Đ / 0; 114
Quần đảo Quần đảo Sunda Lớn
Diện tích 743330
Điểm cao nhất Núi Kinabalu (4095)
Chính quyền
Brunei
Khu vực hành chính quốc gia Belait
Brunei-Muara
Temburong
Tutong

Indonesia
Khu vực hành chính quốc gia Đông Kalimantan
Trung Kalimantan
Tây Kalimantan
Nam Kalimantan
Bắc Kalimantan

Malaysia
Khu vực hành chính quốc gia Sabah
Sarawak
Nhân khẩu học
Dân số 18.590.000 (tính đến năm 2009)
Mật độ 21,52
Người bản xứ người Mã Lai, người Hán, người Dayak

Borneo hay Kalimantan là đảo lớn thứ ba thế giới và lớn nhất tại châu Á. Đảo thuộc Đông Nam Á hải đảo, nằm về phía bắc của đảo Java, phía tây đảo Sulawesi và phía đông đảo Sumatra. Về mặt chính trị, đảo bị phân chia giữa ba quốc gia: MalaysiaBrunei tại phần phía bắc, và Indonesia ở phía nam.[1] Khoảng 73% diện tích đảo Borneo thuộc lãnh thổ Indonesia. Các bang SabahSarawak của Malaysia chiếm 26% diện tích đảo. Hơn một nửa đảo Borneo nằm ở Bắc Bán cầu, bao gồm phần thuộc Malaysia và Brunei. Borneo có các khu rừng mưa cổ nhất trên thế giới.

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Hòn đảo có nhiều tên gọi, quốc tế gọi là Borneo phỏng theo tên Brunei, bắt nguồn từ việc người châu Âu tiếp xúc với vương quốc này trong thế kỷ XVI. Tên gọi Brunei có thể bắt nguồn từ váruṇa (वरुण) trong tiếng Phạn, nghĩa là "nước" hoặc thần mưa Varuna của Ấn Độ giáo. Người Indonesia bản địa gọi đảo là Kalimantan, bắt nguồn từ Kalamanthana trong tiếng Phạn, nghĩa là "đảo tiết trời nóng bỏng" (mô tả thời tiết nhiệt đới nóng ẩm tại đây).[2]

Trong lịch sử, đảo còn có các tên gọi khác. Năm 977, các thư tịch Trung Hoa bắt đầu sử dụng thuật ngữ Po-ni (渤泥, Bột Nê) để chỉ Borneo. Năm 1225, một quan viên Nhà Tống là Triệu Nhữ Quách (趙汝适) cũng đề cập đến tên gọi này.[3] Văn bản tiếng Java Nagarakretagama do nhà thơ Mpu Prapanca phục vụ trong triều đình Majapahit viết vào năm 1365, đảo được gọi là Nusa Tanjungnagara, nghĩa là đảo của Vương quốc Tanjungpura.[4]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Núi Kinabalu tại Đông Malaysia là đỉnh cao nhất trên đảo[5]

Bao quanh Borneo là Biển Đông ở phía bắc và đông bắc, biển Sulu ở phía đông bắc, biển Celebeseo biển Makassar ở phía đông, biển Javaeo biển Karimata ở phía nam. Xa về phía tây của Borneo là bán đảo Mã Lai và đảo Sumatra, về phía nam là đảo Java, về phía đông là đảo Sulawesi, về phía đông bắc là quần đảo Philippines. Borneo có diện tích 743.330 km², là đảo lớn thứ ba thế giới và lớn nhất châu Á. Đỉnh cao nhất của Borneo là núi Kinabalu tại Sabah, Malaysia, với độ cao 4.095 m.[5] Trước khi mực nước biển dâng lên vào cuối kỷ Băng hà cuối cùng, Borneo là bộ phận của đại lục châu Á, cùng với JavaSumatra tạo thành phần đất cao của một bán đảo kéo dài về phía đông từ bán đảo Trung Ấn ngày nay. Các vùng nước sâu hơn chia tách Borneo khỏi Sulawesi lân cận nên không có liên kết lục địa giữa hai đảo, tạo nên sự phân chia được gọi là đường Wallace giữa các vùng sinh vật châu Á và Australia-New Guinea.[6][7]

Sông Kapuas tại Indonesia là sông dài nhất của Borneo với khoảng 1.000 km.[8]

Hệ thống sông dài nhất của Borneo là Kapuas tại Tây Kalimantan, với chiều dài 1.000 km.[8] Các sông lớn khác gồm có Mahakam tại Đông Kalimantan (920 km),[9] Barito tại Nam Kalimantan (900 km),[10] Rajang tại Sarawak (565 km)[11]Kinabatangan tại Sabah (560 km).[12] Borneo có các hệ thống hang động quan trọng, tại Sarawak có hang Clearwater với một sông ngầm thuộc nhóm dài nhất thế giới còn hang Deer là nơi trú ngụ của hơn ba triệu con dơi, phân dơi tích tụ sâu hơn 100 m.[13] Hang Gomantong tại Sabah được mệnh danh là "hang con gián" do có hàng triệu con gián trong hang.[14][15] Vườn quốc gia Gunung Mulu tại Sarawak và Vùng đá vôi Sangkulirang-Mangkalihat tại Đông Kalimantan là các khu vực đá vôi với hàng nghìn hang động nhỏ.[16]

Sinh thái[sửa | sửa mã nguồn]

Đười ươi Borneo là một loài cực kỳ nguy cấp, một loài đặc hữu của đảo

Rừng mưa Borneo được ước tính có niên đại khoảng 140 triệu năm, vì vậy nó là một trong các rừng mưa cổ nhất trên thế giới.[17] Đây là trung tâm của sự tiến hoá và phân tán của nhiều loài động thực vật đặc hữu, và rừng mưa là một trong số ít môi trường sống tự nhiên còn lại của loài đười ươi Borneo đang gặp nguy hiểm. Đây cũng là một nơi trú ẩn quan trọng của nhiều loài động vật rừng đặc hữu, bao gồm voi Borneo, tê giác Borneo, báo gấm Borneo, cầy cọ hosedơi quả dayak.[18][19] Rừng đầm lầy than bùn chiếm toàn bộ đường bờ biển của Borneo.[20] Đất tại đầm lầy than bùn tương đối phì nhiêu, là nơi sinh sống của nhiều loài chim như cành cạch mỏ móc, hồng hoàng mũ cáttê điểu.[21] Borneo có khoảng 15.000 loài thực vật có hoa, với 3.000 loài cây (267 loài thuộc họ Dầu), 221 loài thú cạn và 420 loài chim không di trú.[22] Borneo có 440 loài cá nước ngọt (tương đương Sumatra và Java cộng lại).[23] Năm 2010, Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) cho biết rằng đã khám phá được 123 loài tại Borneo từ khi thoả thuận "Heart of Borneo" được ký kết vào năm 2007.[24]

WWF phân Borneo thành bảy khu sinh thái riêng biệt, hầu hết là các khu vùng thấp:[25][26][27]

  • Rừng mưa vùng thấp Borneo bao trùm hầu hết đảo, có diện tích 427.500 km²;
  • Rừng đầm lầy than bùn Borneo;
  • Kerangas hay rừng thạch nam Sundaland;
  • Rừng đầm lầy nước ngọt Tây Nam Borneo;
  • Rừng đước cạn Sunda.
  • Rừng mưa vùng núi Borneo nằm tại vùng cao trung tâm của đảo, ở độ cao trên 1.000 m.
  • Đồng cỏ, xa van và cây bụi nhiệt đới và cận nhiệt đới tại Nam Kalimantan.

Những nơi cao nhất trên núi Kinabalu có đồng cỏ núi cao Kinabalu, đó là một vùng cây bụi núi cao nổi tiếng với nhiều loài đặc hữu, trong đó có nhiều loài lan.

Bảo tồn[sửa | sửa mã nguồn]

Đường dùng cho hoạt động khai thác gỗ tại Đông Kalimantan, Indonesia

Đảo Borneo từng được rừng bao phủ rộng khắp, song diện tích rừng đang giảm thiểu do hoạt động khai thác dữ dội của các công ty gỗ Indonesia và Malaysia, đặc biệt là trước nhu cầu lớn về nguyên liệu thô từ các quốc gia công nghiệp cùng với việc chuyển đổi đất rừng sang mục đích nông nghiệp quy mô lớn.[25] Một nửa lượng gỗ nhiệt đới của thế giới đến từ Borneo. Các đồn điền cọ dầu được phát triển rộng khắp và nhanh chóng xâm lấn các mảnh rừng nguyên sinh cuối cùng.[28] Các vụ cháy rừng bắt nguồn từ việc cư dân địa phương phát quang rừng để lập đồn điền, cùng với mùa El Niño khô bất thường khiến diện tích rừng bị mất hàng năm càng lớn hơn.[29] Trong các vụ cháy này, điểm nóng có thể thấy được trên ảnh vệ tinh, kết quả là khói mù thường xuyên ảnh hưởng đến Brunei, Indonesia, Malaysia và Singapore. Khói mù cũng có thể lan đến miền nam Thái Lan, Campuchia, Việt NamPhilippines như vào năm 2015.[30]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử sơ khởi[sửa | sửa mã nguồn]

Người Dayak là dân tộc bản địa chủ yếu trên đảo

Theo các văn bản cổ của Trung Quốc (năm 977),[31]:129 Ấn Độ và Nhật Bản, các thành phố duyên hải miền tây của Borneo trở thành các thương cảng vào thiên niên kỷ thứ nhất.[32] Trong các văn bản của Trung Quốc, trong số các vật phẩm có giá trị nhất từ Borneo có vàng, long não, mai rùa, sáp ong, gỗ thơm laka, máu rồng, mây, yến sào, ngà chim mỏ sừng, sừng tê giác.[33] Người Ấn Độ đặt tên cho Borneo là Suvarnabhumi (vùng đất vàng) và Karpuradvipa (đảo long não). Tên gọi của người Java đặt cho Borneo là Puradvipa, tức là đảo kim cương. Các phát hiện khảo cổ học tại đồng bằng châu thổ sông Sarawak cho thấy rằng khu vực là một trung tâm mậu dịch thịnh vượng giữa Ấn Độ và Trung Quốc từ thế kỷ VI cho đến khoảng năm 1300.[33]

Các cột đá có các bản khắc bằng chữ Pallava được tìm thấy tại Kutai dọc sông Mahakam thuộc Đông Kalimantan và có niên đại vào khoảng nửa sau thế kỷ IV, nằm trong số các bằng chứng sớm nhất về ảnh hưởng của Ấn Độ giáo tại Đông Nam Á.[34] Đến thế kỷ XIV, Borneo trở thành một nhà nước chư hầu của Majapahit (có căn cứ tại đảo Java),[35][36] sau đó chuyển sang quy phục Nhà Minh.[37] Hồi giáo được đưa đến đảo vào thế kỷ X,[38] theo chân các thương nhân Hồi giáo, những người này sau đó cải đạo cho nhiều người bản địa tại các khu vực duyên hải.[39]

Vương quốc Brunei tuyên bố độc lập khỏi Majapahit vào giữa thế kỷ XIV. Trong thời kỳ hoàng kim từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, Brunei cai trị hầu như toàn bộ các khu vực duyên hải của Borneo (đảo được đặt theo tên quốc gia này do ảnh hưởng của nó) và một số đảo tại quần đảo Philippines.[40] Trong thập niên 1450, Shari'ful Hashem Syed Abu Bakr, một người Ả Rập sinh tại Johor,[41] đi từ Malacca đến Sulu. Năm 1457, ông lập ra Vương quốc Sulu; lấy hiệu là "Paduka Maulana Mahasari Sharif Sultan Hashem Abu Bakr".[42] Sau khi Sulu độc lập khỏi ảnh hưởng của Brunei vào năm 1578,[43] quốc gia này bành trướng quyền lực hàng hải của mình đến nhiều nơi thuộc miền bắc Borneo.[44][45] Hai vương quốc cai trị miền bắc Borneo và có truyền thống mậu dịch với Trung Quốc thông qua các thuyền của nước lớn này.[46][47] Mặc dù vậy, khu vực nội lục của Borneo vẫn không nằm dưới quyền lực của bất kỳ vương quốc nào.[48]

Anh và Hà Lan kiểm soát[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc kỳ Anh Quốc được treo lần đầu trên đảo Labuan vào ngày 24 tháng 12 năm 1846

Từ khi Malacca thất thủ vào năm 1511, các thương nhân Bồ Đào Nha tiến hành giao dịch đều đặn với Borneo, đặc biệt là với Brunei từ năm 1530.[49] Khi đến thăm kinh đô của Brunei, người Bồ Đào Nha mô tả địa điểm có tường đá bao quanh.[50] Mặc dù Borneo được cho là giàu có, song người Bồ Đào Nha không tiến hành nỗ lực nào để chinh phục đảo.[49] Người Tây Ban Nha đến Brunei kéo theo chiến tranh Castilla vào năm 1578. Người Anh bắt đầu buôn bán với Vương quốc Sambas tại miền nam Borneo vào năm 1609, còn người Hà Lan thì bắt đầu buôn bán vào năm 1644: với các vương quốc Banjar và Martapura cũng ở miền nam Borneo.[51] Người Hà Lan nỗ lực định cư trên đảo Balambangan ở phía bắc Borneo vào nửa sau thế kỷ XVIII, song họ rút lui vào năm 1797.[52] Năm 1812, quốc vương tại miền nam Borneo nhượng công sự của mình cho Công ty Đông Ấn Anh. Người Anh dưới quyền lãnh đạo của Stamford Raffles sau đó đã cố can thiệp tại Sambas song thất bại. Mặc dù họ đánh bại được vương quốc này vào năm sau và tuyên bố phong toả toàn bộ các cảng tại Borneo ngoại trừ Brunei, BanjarmasinPontianak, song kế hoạch bị Toàn quyền Anh tại Ấn Độ là Huân tước Minto đình chỉ do quá tốn kém.[52] Vào lúc bắt đầu công cuộc người Anh và người Hà Lan khám phá đảo, họ mô tả đảo Borneo toàn là những kẻ săn đầu người, cư dân bản địa tại nội lục tiến hành việc ăn thịt người,[53] và vùng biển quanh đảo bị hải tặc cướp phá, đặc biệt là khu vực giữa đông bắc Borneo và miền nam Philippines.[54][55] Các hải tặc người Mã LaiDayak Biển từ hang ổ tại Borneo đã cướp bóc tàu biển trên hành trình giữa Singapore và Hồng Kông,[56] cùng với đó là các cuộc tấn công của các hải tặc Sulu từ miền nam Philippines, như trong trận chiến ngoài khơi Mukah.[57]

Hình ảnh thể hiện Đông Ấn Hà Lan (1916), thể hiện toàn đảo Borneo.

Người Hà Lan bắt đầu can thiệp vào phần phía nam của đảo khi khôi phục tiếp xúc vào năm 1815, họ điều các công sứ đến Banjarmasin, Pontianak và Sambas và phó công sứ đến Landak và Mampawa.[58][59] Đến năm 1842, Vương quốc Brunei trao một phần đất rộng tại Sarawak cho nhà phiêu lưu người Anh James Brooke vì được ông giúp đàn áp một cuộc nổi loạn. Brooke lập nên Vương quốc Sarawak và được công nhận là rajah. Ông lập ra một chế độ quân chủ là triều đại Brooke, cai trị Sarawak trong 100 năm.[60] Brooke cũng giành được đảo Labuan từ Anh vào năm 1846.[61] Khu vực miền bắc Borneo nằm dưới quyền cai quản của Công ty Đặc hứa Bắc Borneo sau khi họ giành được lãnh thổ này từ các vương quốc Brunei và Sulu.[45][62] Further enroachment by the British reduced the territory of Brunei.[63] Điều này khiến cho quốc vương thứ 26 của Brunei là Hashim Jalilul Alam Aqamaddin kêu gọi người Anh ngưng lại, và kết quả là một hiệp định bảo hộ được ký kết vào năm 1888, biến Brunei thành một lãnh thổ được Anh bảo hộ.[64]

Nghị định thư Madrid 1885 được ký kết giữa các chính phủ Anh, Đức và Tây Ban Nha nhằm khẳng định ảnh hưởng của Tây Ban Nha và công nhận chủ quyèn của họ đối với Vương quốc Sulu, đổi lại Tây Ban Nha từ bỏ các yêu sách về thuộc địa cũ của Sulu tại miền bắc Borneo.[65][66] Chính quyền Anh sau đó xây dựng mạng lưới đường sắt đầu tiên tại miền bắc Borneo, mang tên Đường sắt Bắc Borneo.[67][68] Trong thời gian này, người Anh bảo trợ cho một lượng lớn các lao công người Hoa nhập cư đến miền bắc Borneo để làm việc trong các đồn điền và mỏ khoáng sản của người châu Âu,[69] và người Hà Lan cũng tiếp bước nhằm gia tăng sản lượng kinh tế của mình.[70] Đến năm 1888, Bắc Borneo, Sarawak và Brunei tại miền bắc Borneo đều đã trở thành lãnh thổ bảo hộ thuộc Anh.[71] Khu vực phía nam của Borneo trở thành lãnh thổ bảo hộ của Hà Lan vào năm 1891.[53]

Chiến tranh thế giới thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, quân đội Nhật Bản giành quyền kiểm soát và chiếm đóng hầu hết các khu vực của Borneo từ 1941–45. Trong giai đoạn đầu của chiến tranh, người Anh nhìn nhận rằng Nhật Bản muốn có Borneo là do có tham vọng chính trị và lãnh thổ chứ không phải vì yếu tố kinh tế.[72] Việc chiếm đóng khiến nhiều cư dân tại các thị trấn duyên hải phải chuyển vào nội lục để tìm kiếm thức ăn và trốn tránh người Nhật.[73] Các cư dân người Hoa tại Borneo hầu hết đều chống lại sự chiếm đóng của người Nhật, đặc biệt là khi Chiến tranh Trung-Nhật đang diễn ra tại Trung Quốc.[74] Sau khi các phong trào kháng chiến hình thành tại miền bắc Borneo, như là Khởi nghĩa Jesselton, nhiều người bản địa và người Hoa vô tội bị hành quyết do bị nghi ngờ có can dự.[75]

Các binh sĩ Nhật Bản hành quân trên đường phố Labuan vào năm 1942.

Tại Kalimantan, người Nhật cũng sát hại nhiều người trí thức Mã Lai, hành quyết toàn bộ các sultan người Mã Lai tại Tây Kalimantan trong các sự kiện Pontianak, cùng với những người Hoa kháng Nhật vì nghi ngờ họ là mối đe doạ.[76] Sultan Muhammad Ibrahim Shafi ud-din II của Sambas bị hành quyết vào năm 1944. Vương quốc sau đó bị đình chỉ và bị thay thế bằng một hội đồng của người Nhật.[77] Người Nhật cũng lập ra Pusat Tenaga Rakjat (PUTERA)[78] tại quần đảo Indonesia vào năm 1943, song bãi bỏ nó vào năm sau do thể chế này trở nên quá dân tộc chủ nghĩa.[79] Một số phần tử dân tộc chủ nghĩa Indonesia như SukarnoHatta bắt đầu hợp tác với người Nhật. Sukarno trở thành Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Trung ương, một hội đồng cố vấn cho nam Borneo, Celebes, Sunda Nhỏ, được thành lập vào tháng 2 năm 1945.[79]

Kể từ khi Singapore thất thủ, người Nhật đưa vài nghìn tù binh chiến tranh người Anh và Úc đến các trại tại Borneo như trại Batu Lintang. Từ địa điểm trại Sandakan, chỉ sáu trong khoảng 2.500 tù binh còn sống sau khi họ bị buộc phải bộ hành trong một sự kiện được gọi là Hành quân chết chóc Sandakan.[80] Ngoài ra, tổng cộng 17.488 lao công người Java được người Nhật đưa đến trong thời kỳ chiếm đóng, song chỉ còn 1.500 người còn sống, chủ yếu là do thiếu ăn, điều kiện lao động khắc nghiệt và bị ngược đãi.[73] Người Dayak và các dân tộc bản địa khác có vai trò trong chiến tranh du kích chống lại lực lượng chiếm đóng, chủ yếu là tại tỉnh Kapit. Họ tạm thời khôi phục việc săn đầu người Nhật cho đến khi kết thúc chiến tranh,[81] có Đơn vị đặc biệt Z của Đồng Minh cũng cấp trợ giúp cho họ.[82] Úc có đóng góp quan trọng cho chiến dịch giải phóng Borneo.[83] Các binh sĩ Úc được phái đến Borneo để chiến đấu với quân Nhật.[84] Borneo được Đồng Minh giải phóng hoàn toàn vào năm 1945.

Lịch sử gần đây[sửa | sửa mã nguồn]

Đến cuối chiến tranh, Nhật Bản quyết định trao độc lập sớm cho một quốc gia Indonesia mới được đề xuất.[79] Tuy nhiên, sau khi Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh, hội nghị về độc lập bị hoãn lại. Sukarno và Hatta tiếp tục kế hoạch tuyên bố độc lập đơn phương, song Hà Lan cố gắng đoạt lại thuộc địa của họ tại Borneo.[79] Phần phía nam của đảo giành được độc lập khi Indonesia tuyên bố độc lập vào ngày 17 tháng 8 năm 1945. Phản ứng là tương đối im ắng với ít giao tranh công khai tại Pontianak hoặc tại các khu vực người Hoa chiếm đa số.[85] Trong khi các du kích dân tộc chủ nghĩa ủng hộ đưa miền nam Borneo vào nước Indonesia mới tiến hành hoạt động tích cực tại Ketapang, và ở mức độ thấp hơn là tại Sambas, thì hầu hết cư dân người Hoa tại miền nam Borneo mong đợi quân đội Trung Quốc đến giải phóng Borneo và hợp nhất các khu vực của họ thành một tỉnh hải ngoại của Trung Quốc.[85]

Sukarno đến thăm Pontianak, Tây Kalimantan vào năm 1963

Vào tháng 5 năm 1945, các quan chức tại Tokyo đề xuất rằng miền bắc Borneo có nên được đưa vào nước Indonesia mới hay tách riêng dựa theo nguyện vọng của cư dân bản địa.[86] Sukarno và Mohammad Yamin liên tục tán thành một nước cộng hoà Đại Indonesia.[87] Với tư cách là tổng thống của nước cộng hoà mới, Sukarno nhận thấy người Anh muốn duy trì sự hiện diện của họ tại miền bắc Borneo và bán đảo Mã Lai, ông quyết định phát động một cuộc xâm nhập quân sự từ năm 1962 đến năm 1969, sau này được gọi là đối đầu Indonesia–Malaysia.[88] Năm 1961, Thủ tướng Tunku Abdul Rahman của Liên bang Malaya mới độc lập yêu cầu thống nhất Malaya, các thuộc địa Sarawak, Bắc Borneo, SingaporeBrunei của Anh thành Liên bang Malaysia.[89] Ý tưởng này bị chính phủ Indonesia và Philippines phản đối mạnh mẽ, phản đối cũng đến từ các cảm tình viên cộng sản và những người dân tộc chủ nghĩa tại Borneo.[90][91] Trước những phản đối ngày càng lớn, người Anh cho triển khai quân đội để bảo vệ các thuộc địa của họ trước Indonesia và phiến quân cộng sản,[92] Úc và New Zealand cũng góp phần.[93][94]

Philippines phản đối liên bang mới đề xuất, yêu sách phần phía đông của Bắc Borneo (nay là bang Sabah của Malaysia) và bộ phận của lãnh thổ nước mình do là thuộc địa cũ của Vương quốc Sulu.[95] Chính phủ Philippines hầu hết dựa vào thoả thuận nhượng địa của Sulu với Công ty Borneo thuộc Anh, và việc hiện nay vương quốc nằm dưới thẩm quyền của chính phủ Philippines, do đó nên được kế thừa lãnh thổ cũ của Sulu. Chính phủ Philippines cũng tuyên bố rằng những người thừa kế của vương quốc đã nhượng lại toàn bộ quyền lợi lãnh thổ của họ cho nước cộng hoà.[96]

Vương quốc Brunei ban đầu hoan nghênh đề xuất về một liên bang lớn.[97] Trong khi đó, Đảng Nhân dân Brunei dưới quyền A.M. Azahari yêu cầu thống nhất Brunei, Sarawak và Bắc Borneo thành một liên bang gọi là Liên bang Bắc Borneo, trong đó sultan của Brunei sẽ là nguyên thủ quốc gia của liên bang—dù bản thân Azahari có ý định bãi bỏ chế độ quân chủ Brunei, nhằm khiến Brunei dân chủ hơn, và để hợp nhất lãnh thổ và các thuộc địa cũ của Anh tại Borneo vào Indonesia, với ủng hộ của nước này.[98] Điều này dẫn đến Khởi nghĩa Brunei, cản trở các nỗ lực của Azahari và buộc ông phải chạy trốn sang Indonesia. Brunei rút khỏi kế hoạch Liên bang Malaysia do có một số bất đồng về các vấn đề khác, còn các lãnh đạo chính trị tại Sarawak và Bắc Borneo tiếp tục ủng hộ gia nhập một liên bang lớn.[99]

Trước phản đối liên tục từ Indonesia và Philippines, Ủy ban Cobbold được thành lập nhằm tìm hiểu ý kiến của cư dân địa phương tại miền bắc Borneo; họ thấy rằng cư dân rất ủng hộ liên bang, với các điều khoản khác nhau.[100][101] Liên bang trở thành hiện thực khi miền bắc Borneo tham gia theo Hiệp định Malaysia vào ngày 16 tháng 9 năm 1963.[102] Cho đến nay, khu vực tại miền bắc Borneo vẫn phải chịu các cuộc tấn công của hải tặc Moro, các nhóm chiến binh như Abu Sayyaf từ năm 2000 thường xuyên tấn công qua biên giới. Dưới thời chính phủ của Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos, ông tiến hành một số nỗ lực nhằm làm mất ổn định bang Sabah,[103] song kết hoạch thất bại và kết quả là thảm sát Jabidah và sau đó là rối loạn tại miền nam Philippines.[104][105]

Nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Trình diễn vũ điệu truyền thống tại Sabah

Borneo có khoảng 21,3 triệu cư dân vào năm 2014, mật độ dân số đạt 29 người/km². Hầu hết cư dân sống tại các thành phố duyên hải, còn vùng nội lục có một số thị trấn nhỏ và bản làng dọc các con sông. Cư dân gồm chủ yếu là các dân tộc Dayak, người Mã Lai, Banjar, Orang Ulu, HoaKadazan-Dusun. Người Hoa chiếm 29% dân số Sarawak của Malaysia và 17% dân số tỉnh West Kalimantan, Indonesia[106] người Hoa trên đảo chủ yếu là hậu duệ của các di dân đến từ đông nam Trung Quốc.[107]

Tại Sabah, dưới thời chính quyền Mustapha Harun của Tổ chức Dân tộc Sabah Thống nhất (USNO) trong thập niên 1970, hàng nghìn người nhập cư và người tị nạn Hồi giáo đến từ Mindanao của Philippines và Sulawesi của Indonesia được cho nương náu và sau đó được nhận thẻ căn cước, được cho là để làm tăng dân số Hồi giáo trong bang, kế hoạch này về sau được gọi là Kế hoạch IC.[108] Do số lượng tội phạm cao của cộng đồng di dân mới, căng thẳng sắc tộc giữa người bản địa và người di cư nổi lên cho đến nay.[109]

Tại Kalimantan, kể từ thập niên 1990 chính phủ Indonesia tiến hành chương trình chuyển cư ở mức độ lớn, với mục tiêu tài trợ để di chuyển các gia đình nghèo và thiếu đất sản xuất từ Java, Madura và Bali đến Borneo. Đến năm 2001, người chuyển cư chiếm 21% dân số tại Trung Kalimantan.[110] Kể từ thập niên 1990, người Dayak bản địa và người Mã Lai chống lại sự xâm lấn từ những di dân này, và xung đột bạo lực nổ ra giữa một số nhóm chuyển cư và bản địa. Trong các vụ bạo lực Sambas năm 1999, người Dayak và người Mã Lai sát hại hàng nghìn di dân người Madura. Tại Kalimantan, hàng nghìn người bị giết vào năm 2001 trong giao tranh giữa các di dân Madura và người Dayak trong xung đột Sampit.[111]

Thành phố lớn[sửa | sửa mã nguồn]

20 thành phố lớn nhất Borneo dựa theo dân số, điều tra nhân khẩu năm 2010 của Indonesia[112][113] và điều tra nhân khẩu năm 2010 của Malaysia.[114] Dữ liệu dân số là trong khu vực hành chính chính thức và không bao gồm các vùng liền kề hoặc chùm đô thị bên ngoài ranh giới chính thức.

Thành thị tại Borneo theo dân số
Xếp hạng Thành thị Dân số Mật độ (/km2) Quốc gia
1 Samarinda, Đông Kalimantan 727.500 929 Indonesia
2 Banjarmasin, Nam Kalimantan 625.481 8.687 Indonesia
3 Kuching, Sarawak 617.886 332 Malaysia
4 Balikpapan, Đông Kalimantan 557.579 1.058 Indonesia
5 Pontianak, Tây Kalimantan 554.764 5.146 Indonesia
6 Kota Kinabalu, Sabah 462.963 1.319 Malaysia
7 Tawau, Sabah 412.375 67 Malaysia
8 Sandakan, Sabah 409.056 181 Malaysia
9 Miri, Sarawak 300.543 64 Malaysia
10 Bandar Seri Begawan, Brunei-Muara 300.000 490 Brunei
11 Sibu, Sarawak 247.995 111 Malaysia
12 Palangka Raya, Trung Kalimantan 220.962 92 Indonesia
13 Lahad Datu, Sabah 206.861 28 Malaysia
14 Banjarbaru, Nam Kalimantan 199.627 538 Indonesia
15 Tarakan, Bắc Kalimantan 193.370 771 Indonesia
16 Bintulu, Sarawak 189.146 26 Malaysia
17 Singkawang, Tây Kalimantan 186.462 370 Indonesia
18 Keningau, Sabah 177.735 50 Malaysia
19 Bontang, Đông Kalimantan 143.683 353 Indonesia
20 Victoria, Labuan 85.272 950 Malaysia

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Phân chia chính trị Borneo

Về mặt chính trị, Borneo được phân chia giữa ba quốc gia.

Đơn vị Thủ phủ Quốc gia Diện tích
km2
Diện tích
%
Dân số
năm 2010[115][116] 3
Dân số
%
Brunei Bandar Seri Begawan vương quốc độc lập 5.770 0,77 406.200
(2009 est)[117]
2,1
Sarawak Kuching Malaysia 124.450 16,55 2.420.009 12,2
Sabah Kota Kinabalu Malaysia 73.619 9,79 3.120.040 15,7
Labuan Victoria Malaysia
lãnh thổ liên bang
92 0,01 85.272 0,4
Đông Malaysia Malaysia 198.161 26,4 5.625.321 28,4
Tây Kalimantan Pontianak Indonesia 146.760 19,5 4.393.239 22,2
Trung Kalimantan Palangka Raya Indonesia 152.600 20,3 2.202.599 11,1
Nam Kalimantan Banjarmasin Indonesia 37.660 5,0 3.626.119 18,3
Đông Kalimantan Samarinda Indonesia 210.985 28,1 3.550.586 17,9
Bắc Kalimantan Tanjung Selor Indonesia 71.177 9,46 525.000 2,65
Kalimantan Indonesia 548.005 72,9 13.772.543 69,5
Borneo 3 quốc gia 751.936 100,0 19.804.064 100.0

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh tế Borneo dựa chủ yếu vào nông nghiệp, khai thác gỗ, khai mỏ, dầu khí và du lịch sinh thái.[118] Kinh tế Brunei phụ thuộc cao độ vào lĩnh vực sản xuất dầu khí, và quốc gia này là một trong các nước sản xuất dầu lớn nhất tại Đông Nam Á. Các bang Sabah và Sarawak của Malaysia đều đứng đầu về xuất khẩu gỗ.[118] Sabah còn có tiếng về sản xuất cao su, ca cao và rau, cùng với ngư nghiệp. Sabah và Sarawak đều xuất khẩu khí đốt hoá lỏng và dầu mỏ. Tại khu vực Borneo của Indonesia, kinh tế hầu như dựa vào lĩnh vực khai mỏ, song cũng có khai thác gỗ và dầu khí.[118]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Donna Marchetti (2 tháng 8 năm 1998). “Borneo's Wild Side”. The New York Times. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2017. 
  2. ^ Eugene Linden (17 tháng 3 năm 2011). The Ragged Edge of the World: Encounters at the Frontier Where Modernity, Wildlands and Indigenous Peoples Meet. Penguin Publishing Group. tr. 30–. ISBN 978-1-101-47613-0. 
  3. ^ Siti Norkhalbi Haji Wahsalfelah (2005). “Traditional Woven Textiles: Tradition and Identity Construction in the 'New State' of Brunei Darussalam” (PDF). Universiti Brunei Darussalam. tr. 48/29. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2017. 
  4. ^ Suyatno. “Naskah Nagarakretagama” (bằng tiếng Indonesian). National Library of Indonesia. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  5. ^ a ă “An Awesome Island”. Borneo: Island in the Clouds. PBS. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2012. 
  6. ^ James Allan Taylor (1984). Biogeography: Recent Advances and Future Directions. Rowman & Littlefield. tr. 178–. ISBN 978-0-389-20507-4. 
  7. ^ Teresa Zubi (25 tháng 10 năm 2015). “Wallacea”. Starfish. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  8. ^ a ă Khee Giap Tan; Nurina Merdikawati; Mulya Amri; Blake Harley Berger (8 tháng 9 năm 2015). 2014 Annual Competitiveness Analysis and Development Strategies for Indonesian Provinces. World Scientific. tr. 286–. ISBN 978-981-4730-43-3. 
  9. ^ Tomas Tomascik (1997). The Ecology of the Indonesian Seas. Oxford University Press. tr. 54–. ISBN 978-0-19-850186-2. 
  10. ^ Khee Giap Tan; Mulya Amri; Linda Low; Kong Yam Tan (2013). Competitiveness Analysis and Development Strategies for 33 Indonesian Provinces. World Scientific. tr. 338–. ISBN 978-981-4504-86-7. 
  11. ^ Tropical River Fisheries Valuation: Background Papers to a Global Synthesis. WorldFish. 2008. tr. 218–. ISBN 978-983-2346-61-6. 
  12. ^ Uwe Tietze; Food and Agriculture Organization of the United Nations (2007). Credit and Microfinance Needs in Inland Capture Fisheries Development and Conservation in Asia. Food & Agriculture Org. tr. 131–. ISBN 978-92-5-105756-8. 
  13. ^ “Sarawak Visitors Guide”. Sarawak State Government. tr. 100. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2017. 
  14. ^ Nora Rappaport (29 tháng 10 năm 2015). “WATCH: Billions of Bugs Feast on Flesh and Dung in Borneo”. National Geographic. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2017. 
  15. ^ Sean Martin (31 tháng 10 năm 2015). “Cockroach cave: Where billions of bugs feed on dead animals and dung [Video]”. International Business Times (UK). Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2017. 
  16. ^ Quentin Phillipps; Karen Phillipps (10 tháng 5 năm 2016). Phillipps' Field Guide to the Mammals of Borneo and Their Ecology: Sabah, Sarawak, Brunei, and Kalimantan. Princeton University Press. tr. 31–. ISBN 978-0-691-16941-5. 
  17. ^ Andy Leeder; Alan Brown; Gregg Coleman; Bob Digby; Glyn Owen; Val Davis (22 tháng 8 năm 2016). WJEC GCSE Geography. Hodder Education. tr. 199–. ISBN 978-1-4718-6130-7. 
  18. ^ “Scientists find dozens of new species in Borneo rainforests”. World Wide Fund for Nature. 19 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2017. 
  19. ^ “Borneo wildlife”. World Wide Fund for Nature. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2017. 
  20. ^ Kathy MacKinnon; Gusti Hatta (5 tháng 2 năm 2013). Ecology of Kalimantan: Indonesian Borneo. Tuttle Publishing. tr. 148–. ISBN 978-1-4629-0505-8. 
  21. ^
  22. ^ MacKinnon, K và đồng nghiệp (1998). The Ecology of Kalimantan. Luân Đôn: Oxford University Press. 
  23. ^ Nguyen, T.T.T., and S. S. De Silva (2006). "Freshwater Finfish Biodiversity and Conservation: An Asian Perspective", Biodiversity & Conservation 15(11): 3543–3568
  24. ^ “Scientists discover new species in Heart of Borneo”. World Wide Fund for Nature. 22 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2017. 
  25. ^ a ă “Borneo Lowland & Montane Forests – A Global Ecoregion”. World Wide Fund for Nature. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  26. ^ Colby Loucks. “Southeastern Asia: Indonesia, Malaysia, and Brunei”. World Wide Fund for Nature. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2017. 
  27. ^ “Sundaland heath forests”. World Wide Fund for Nature. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2017. 
  28. ^ “Threats to Borneo forests”. World Wide Fund for Nature. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  29. ^ Jonathan Kaiman (21 tháng 10 năm 2015). “Fires in Southeast Asia may be emitting more greenhouse gases than the entire U.S.”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2017. 
  30. ^ Apichal Sunchindah (tháng 12 năm 2015). “Transboundary Haze Pollution Problem in Southeast Asia: Reframing ASEAN’s Response” (PDF). Economic Research Institute for ASEAN and East Asia. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2017. 
  31. ^ Cœdès, George (1968). The Indianized States of South-East Asia. University of Hawaii Press. ISBN 978-0-8248-0368-1. 
  32. ^ Derek Heng Thiam Soon (tháng 6 năm 2001). “The Trade in Lakawood Products Between South China and the Malay World from the Twelfth to Fifteenth Centuries AD”. Journal of Southeast Asian Studies 32 (2): 133–149. doi:10.1017/S0022463401000066. 
  33. ^ a ă Jan O. M. Broek (1962). “Place Names in 16th and 17th Century Borneo”. Imago Mundi 16: 129–148. JSTOR 1150309. doi:10.1080/03085696208592208. 
  34. ^ (Chapter 15) The Earliest Indic State: Kutai. The Austronesians: Historical and Comparative Perspectives (E Press, The Australian National University). 2006. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2009. 
  35. ^ Peter SkalnÃk (1 tháng 1 năm 1989). Outwitting the State. Transaction Publishers. tr. 41–. ISBN 978-1-4128-3041-6. 
  36. ^ Ooi Keat Gin; Hoang Anh Tuan (8 tháng 10 năm 2015). Early Modern Southeast Asia, 1350–1800. Routledge. tr. 90–. ISBN 978-1-317-55919-1. 
  37. ^ Mohammad Al-Mahdi Tan Kho; Hurng-yu Chen (tháng 7 năm 2014). “Malaysia-Philippines Territorial Dispute: The Sabah Case” (PDF). National Chengchi University. NCCU Institutional Repository. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 9 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2016. 
  38. ^ Mariah Doksil (25 tháng 8 năm 2014). “Islam arrived in Sabah in 10th century”. The Borneo Post. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2016. 
  39. ^ “Islam In Indonesia. A resource of Islam in the archipelago”. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2017. 
  40. ^
  41. ^ K. S. Nathan; Mohammad Hashim Kamali (tháng 1 năm 2005). Islam in Southeast Asia: Political, Social and Strategic Challenges for the 21st Century. Institute of Southeast Asian Studies. tr. 62–. ISBN 978-981-230-282-3. 
  42. ^ Shinzō Hayase (2007). Mindanao Ethnohistory Beyond Nations: Maguindanao, Sangir, and Bagobo Societies in East Maritime Southeast Asia. University of Hawaii Press. ISBN 978-971-550-511-6. 
  43. ^ Ring, Trudy; Salkin, Robert M; La Boda, Sharon (tháng 1 năm 1996). International Dictionary of Historic Places: Asia and Oceania. Taylor & Francis. tr. 160–. ISBN 978-1-884964-04-6. 
  44. ^
  45. ^ a ă Bachamiya Abdul Hussainmiya (2006). Brunei: revival of 1906 : a popular history. Brunei Press. ISBN 978-99917-32-15-2. 
  46. ^ Keat Gin Ooi (2004). Southeast Asia: A Historical Encyclopedia, from Angkor Wat to East Timor. ABC-CLIO. tr. 271–. ISBN 978-1-57607-770-2. 
  47. ^ Eric Tagliacozzo; Wen-chin Chang (13 tháng 4 năm 2011). Chinese Circulations: Capital, Commodities, and Networks in Southeast Asia. Duke University Press. tr. 236–. ISBN 0-8223-4903-5. 
  48. ^ Ranjit Singh (2000). The Making of Sabah, 1865–1941: The Dynamics of Indigenous Society. University of Malaya Press. ISBN 978-983-100-095-3. 
  49. ^ a ă Donald F. Lach (16 tháng 4 năm 1994). Asia in the Making of Europe, Volume I: The Century of Discovery. University of Chicago Press. tr. 580–. ISBN 978-0-226-46732-0. 
  50. ^ P. M. Holt; Peter Malcolm Holt; Ann K. S. Lambton; Bernard Lewis (21 tháng 4 năm 1977). The Cambridge History of Islam: Volume 2A, The Indian Sub-Continent, South-East Asia, Africa and the Muslim West. Cambridge University Press. tr. 129–. ISBN 978-0-521-29137-8. 
  51. ^ The Asiatic Journal and Monthly Register for British and Foreign India, China, and Australia. Parbury, Allen, and Company. 1816. tr. 561–. 
  52. ^ a ă Sanderson Beck (2007). “Indonesia and the Dutch 1800–1950”. San.Beck. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  53. ^ a ă Adrienne Smith (2012). “British and Dutch Perceptions of Cannibalism in Borneo, 1882–1964” (PDF). California Polytechnic State University. tr. 5. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2017. 
  54. ^ CAPTAIN THE HON. HENRY KEPPEL, R.N. (1846). THE EXPEDITION TO BORNEO OF H.M.S. DIDO FOR THE SUPPRESSION OF PIRACY. tr. 214–. 
  55. ^ P. Boomgaard (tháng 1 năm 2007). A World of Water: Rain, Rivers and Seas in Southeast Asian Histories. KITLV Press. tr. 141–. ISBN 978-90-6718-294-2. 
  56. ^ H. Wilfrid Walker. “Wanderings Among South Sea Savages And in Borneo and the Philippines”. Full Books. tr. 3/3. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017. 
  57. ^ Harriette McDougall (1882). “Sketches of Our Life at Sarawak (Chapter XVI. Illanun Pirates)”. Society for Promoting Christian Knowledge; E. & J. B. Young. Luân Đôn, New York: Project Canterbury, Anglican History. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017. 
  58. ^ Robert Cribb (1 tháng 2 năm 2013). Historical Atlas of Indonesia. Routledge. tr. 129–. ISBN 978-1-136-78057-8. 
  59. ^ J. R. V. Prescott (3 tháng 10 năm 2014). Political Frontiers and Boundaries (Routledge Library Editions: Political Geography). Routledge. tr. 288–. ISBN 978-1-317-60199-9. 
  60. ^ “Part 2 – The Brooke Era”. The Borneo Project. Earth Island Institute. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2012.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  61. ^ Rozan Yunos (7 tháng 9 năm 2008). “Loss of Labuan, a former Brunei island”. The Brunei Times. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017. 
  62. ^ “British North Borneo Papers”. School of Oriental and African Studies. Archives hub. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017. 
  63. ^ Jatswan S. Sidhu (20 tháng 12 năm 2016). Historical Dictionary of Brunei Darussalam. Rowman & Littlefield Publishers. tr. 51–. ISBN 978-1-4422-6459-5. 
  64. ^ “Treaty of Protection 1888 – Brunei”. Muslim Museum Initiative. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017. 
  65. ^ British Government (1885). “British North Borneo Treaties. (British North Borneo, 1885)” (PDF). Sabah State Government (State Attorney-General's Chambers). Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017. 
  66. ^ Paul J. Carnegie; Victor T. King; Zawawi Ibrahim (21 tháng 9 năm 2016). Human Insecurities in Southeast Asia. Springer. tr. 74–. ISBN 978-981-10-2245-6. 
  67. ^ Dr. Johnstone; A. J. West (Officers of the Company) (3 tháng 2 năm 1898). “North Borneo Chartered Company: North Borneo Railway; The first train in North Borneo”. British North Borneo Chartered Company: Views of British North Borneo, Printed by W. Brown & co., limited, Luân Đôn, 1899. Malayan Railways. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017. 
  68. ^ Rob Dickinson. “The North Borneo Railway Project”. The International Steam Pages. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017. 
  69. ^ Danny Wong Tze Ken (1999). “Chinese Migration to Sabah Before the Second World War” 58. Persée. tr. 131–158. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017. 
  70. ^ Geert Oostindie (1 tháng 1 năm 2008). Dutch Colonialism, Migration and Cultural Heritage: Past and Present. BRILL. tr. 292–. ISBN 978-90-04-25388-9. 
  71. ^ Victor Prescott; Gillian D. Triggs (25 tháng 6 năm 2008). International Frontiers and Boundaries: Law, Politics and Geography. BRILL. tr. 380–. ISBN 978-90-474-3364-4. 
  72. ^ Takashi Shiraishi (tháng 1 năm 1993). The Japanese in Colonial Southeast Asia. SEAP Publications. tr. 54–. ISBN 978-0-87727-402-5. 
  73. ^ a ă Regina Lim (2008). Federal-state Relations in Sabah, Malaysia: The Berjaya Administration, 1976–85. Institute of Southeast Asian Studies. tr. 36–84. ISBN 978-981-230-812-2. 
  74. ^ Danny Tze-Ken Wong (1998). The Transformation of an Immigrant Society: A Study of the Chinese of Sabah. Asean Academic. ISBN 978-1-901919-16-5. 
  75. ^ Malcolm Joseph Thurman; Christine Sherman (2001). War Crimes: Japan's World War II Atrocities. Turner Publishing Company. tr. 123–. ISBN 978-1-56311-728-2. 
  76. ^
  77. ^ Syafaruddin Usman Mhd; Isnawita Din (2009). Peristiwa Mandor berdarah (bằng tiếng Indonesian). Media Pressindo. tr. 137–. ISBN 978-979-788-109-2. 
  78. ^ Muhammad Abdul Aziz (6 tháng 12 năm 2012). Japan’s Colonialism and Indonesia. Springer Science & Business Media. tr. 214–. ISBN 978-94-011-9233-0. 
  79. ^ a ă â b Milton W. Meyer (1 tháng 1 năm 2000). Asia: A Concise History. Rowman & Littlefield Publishers. tr. 305–. ISBN 978-0-585-11423-1. 
  80. ^ Philip Towle; Margaret Kosuge; Yoichi Kibata (2000). Japanese Prisoners of War. A&C Black. tr. 47–. ISBN 978-1-85285-192-7. 
  81. ^ Judith M. Heimann (9 tháng 11 năm 2007). “Guests can succeed where occupiers fail”. International Herald Tribune. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2017. 
  82. ^ A. B. Feuer (tháng 11 năm 2005). Australian Commandos: Their Secret War Against the Japanese in World War II. Stackpole Books. tr. 27–. ISBN 978-0-8117-3294-9. 
  83. ^ Richard Ker (7 tháng 11 năm 2013). “Brief History on How the Australians Liberated North Borneo during WWII [Video]”. North Borneo Historical Society. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  84. ^ “Australian invasion of Borneo in pictures.”. Malayan Railways. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017. 
  85. ^ a ă Mary F. Somers Heidhues (2003). Golddiggers, Farmers, and Traders in the "Chinese Districts" of West Kalimantan, Indonesia. SEAP Publications. tr. 211–. ISBN 978-0-87727-733-0. 
  86. ^ Nicholas Tarling (2001). A Sudden Rampage: The Japanese Occupation of Southeast Asia, 1941–1945. C. Hurst & Co. Publishers. tr. 192–. ISBN 978-1-85065-584-8. 
  87. ^ Adrian Vickers (3 tháng 11 năm 2005). A History of Modern Indonesia. Cambridge University Press. tr. 150–. ISBN 978-1-139-44761-4. 
  88. ^ Karl DeRouen, Jr.; Uk Heo (10 tháng 5 năm 2007). Civil Wars of the World: Major Conflicts Since World War II. ABC-CLIO. tr. 431–. ISBN 978-1-85109-919-1. 
  89. ^ Bosheng Chen; Leong Sze Lee (2012). A Retrospect on the Dust-laden History: The Past and Present of Tekong Island in Singapore. World Scientific. tr. 66–. ISBN 978-981-4365-96-3. 
  90. ^ United States. Dept. of State. International Information Administration. Documentary Studies Section; United States Information Agency. Special Materials Section; United States. International Communication Agency (1964). Problems of Communism. Special Materials Section, United States Information Agency. 
  91. ^ Ramses Amer (23 tháng 5 năm 2016). Conflict Management and Dispute Settlement in East Asia. Routledge. tr. 52–. ISBN 978-1-317-16216-2. 
  92. ^ Christopher Tuck (23 tháng 5 năm 2016). Confrontation, Strategy and War Termination: Britain's Conflict with Indonesia. Routledge. tr. 208–. ISBN 978-1-317-16210-0. 
  93. ^ “Aggression Must be Deterred”. The Age. 7 tháng 9 năm 1964. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017. 
  94. ^ “Confrontation in Borneo”. NZ History. Government of New Zealand. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017. 
  95. ^ “I. North Borneo Claim (Excerpt from President Diosdado Macapagal’s State-of-the-Nation Message to the Congress of the Philippines)”. Philippine Claim to North Borneo (Sabah), Vol. II. Government of the Philippines. 28 tháng 1 năm 1963. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017. 
  96. ^ “Cession and transfer of the territory of North Borneo by His Highness, Sultan Mohammad Esmail Kiram, Sultan of Sulu, acting with the consent and aprroval of the Ruma Bechara, in council assembled, to the Republic of the Philippines”. Government of the Philippines. 24 tháng 4 năm 1962. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017. 
  97. ^ Mohd. Jamil Al-Sufri (Pehin Orang Kaya Amar Diraja Dato Seri Utama Haji Awang.); Mohd. Amin Hassan (1998). Brunei Darussalam: The Road to Independence. Brunei History Centre, Ministry of Culture, Youth, and Sports. 
  98. ^ Alexander Nicholas Shaw (19 tháng 6 năm 2016). “British counterinsurgency in Brunei and Sarawak, 1962–1963: developing best practices in the shadow of Malaya” (PDF). Routledge. ISSN 1743-9558. doi:10.1080/09592318.2016.1190052. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017. 
  99. ^ Karl Hack (2001). Defence and Decolonisation in Southeast Asia: Britain, Malaya and Singapore, 1941–1968. Psychology Press. tr. 278–. ISBN 978-0-7007-1303-5. 
  100. ^ “Report of the Commission of Enquiry, North Borneo and Sarawak, 1962 (Cobbold Commission)”. The National Archives. January–December 1962. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2017. 
  101. ^ Patricia Hului (16 tháng 9 năm 2014). “THE COBBOLD COMMISSION: Giving people a voice”. The Borneo Post. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  102. ^ Great Britain. Colonial Office; Malaysia; Great Britain. Office of Commonwealth Relations (1963). Malaysia: agreement concluded between the United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland, the Federation of Malaya, North Borneo, Sarawak and Singapore. H. M. Stationery Off. 
  103. ^ “Marcos order: Destabilize, take Sabah”. Philippine Daily Inquirer. 2 tháng 4 năm 2000. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2017. 
  104. ^ Paul F. Whitman (2002). “The Corregidor Massacre - 1968”. Corregidor Historic Society. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2017. 
  105. ^ Rommel Banlaoi (13 tháng 10 năm 2009). Philippine Security in the Age of Terror: National, Regional, and Global Challenges in the Post-9/11 World. CRC Press. tr. 49–. ISBN 978-1-4398-1551-9. 
  106. ^ Wing (2 tháng 8 năm 2006). “Province of West Kalimantan, Indonesia”. Guangdong Foreign Affairs Office. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  107. ^ “The world's successful diasporas (Overseas Chinese)”. Management Today. 3 tháng 4 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017. 
  108. ^
  109. ^ “Illegal immigrants causing simmering resentment in Sabah”. The Malaysian Times. 22 tháng 8 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017. 
  110. ^ “Indonesia flashpoints:, Kalimantan”. BBC. 28 tháng 6 năm 2004. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2008. 
  111. ^ “Beheading: A Dayak ritual”. BBC. 23 tháng 2 năm 2001. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2008. 
  112. ^ “Sensus Penduduk” (PDF) (bằng tiếng Indonesian). Badan Pusat Statistik, Indonesia. 2010. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 12 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2014. 
  113. ^ “Administrative Division Indonesia: Provinces, Regencies and Cities – Statistics & Maps by »City Population«”. citypopulation.de. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2014. 
  114. ^ “Population Distribution and Basic Demographic Characteristics” (PDF). Department of Statistics, Malaysia. 2010. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2012. 
  115. ^ “Malaysia: Federal States, Territories, Major Cities & Conurbations – Statistics & Maps on City Population”. Citypopulation.de. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2011. 
  116. ^ “Indonesia (Urban Municipality Population): Provinces, Cities & Municipalities – Statistics & Maps on City Population”. Citypopulation.de. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2011. 
  117. ^ “Brunei: Districts, Major Cities, Towns & Agglomeration – Statistics & Maps on City Population”. Citypopulation.de. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2011. 
  118. ^ a ă â “Borneo » City Info » Economy”. Borneo.com. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • L. W. W Gudgeon; Allan Stewart (1913), British North Borneo / by L. W. W. Gudgeon ; with twelve full-page illustrations in colour by Allan Stewart, Adam and Charles Black 
  • Redmond O'Hanlon (1984). Into the Heart of Borneo: An Account of a Journey Made in 1983 to the Mountains of Batu Tiban with James Fenton. Salamander Press. ISBN 978-0-9075-4055-7. 
  • Eric Hansen (1988). Stranger in the Forest: On Foot Across Borneo. Century. ISBN 978-0-7126-1158-9. 
  • Gordon Barclay Corbet; John Edwards Hill (1992). The mammals of the Indomalayan Region: a systematic review. Oxford University Press. ISBN 978-0-19-854693-1. 
  • Robert Young Pelton (1995). Fielding's Borneo. Fielding Worldwide. ISBN 978-1-5695-2026-0. 
  • Ghazally Ismail (1996–2001). A Scientific Journey Through Borneo. Kota Samarahan: Universiti Malaysia Sarawak. 
  • K. M. Wong; Chew Lun Chan (1997). Mount Kinabalu: Borneo's Magic Mountain: An Introduction to the Natural History of One of the World's Great Natural Monuments. Kota Kinabalu: Natural History Publications. ISBN 978-983-812-014-2. 
  • Dennis Lau (1999). Borneo: a photographic journey. Travelcom Asia. ISBN 978-983-99431-1-5. 
  • John Wassner (2001). Espresso with the Headhunters: A Journey Through the Jungles of Borneo. Summersdale. ISBN 978-1-84024-137-2. 
  • Less S. Hall; Greg Richards; Mohamad Tajuddin Abdullah (2002), “The bats of Niah National Park, Sarawak”, The Sarawak Museum Journal (Sarawak Museum Department) 
  • Mohd Azlan J.; Ibnu Martono; Agus P. Kartono; Mohamad Tajuddin Abdullah (2003), “Diversity, Relative Abundance and Conservation of Chiropterans in Kayan Mentarang National Park, East Kalimantan, Indonesia”, The Sarawak Museum Journal (Sarawak Museum Department) 
  • Mohd Tajuddin Abdullah (2003), Biogeography and variation of Cynopterus brachyotis in Southeast Asia , Brisbane: University of Queensland 
  • Catherine Karim; Andrew Alek Tuen; Mohamad Tajuddin Abdullah (2004), “Mammals”, The Sarawak Museum Journal (University Malaysia Sarawak, Sarawak Museum Department) 
  • Less S. Hall; Gordon G. Grigg; Craig Moritz; Besar Ketol; Isa Sait; Wahab Marni; M.T. Abdullah (2004), “Biogeography of fruit bats in Southeast Asia”, The Sarawak Museum Journal (Sarawak Museum Department) 
  • Stephen Holley (2004). A White Headhunter in Borneo. Kota Kinabalu: Natural History Publications. ISBN 978-983-812-081-4. 
  • Wild Borneo: The Wildlife and Scenery of Sabah, Sarawak, Brunei, and Kalimantan. New Holland Publishers. 2006. ISBN 978-1-84537-378-8. 
  • Mel White (tháng 11 năm 2008), Borneo's Moment of Truth, National Geographic 
  • Anton Willem Nieuwenhuis (2009). Quer durch Borneo (bằng tiếng Dutch). BoD – Books on Demand. ISBN 978-3-86195-028-8. 
  • G. W. H. Davison (2010). A Photographic Guide to Birds of Borneo: Sabah, Sarawak, Brunei and Kalimantan. New Holland. ISBN 978-1-84773-828-8. 
  • John Mathai (2010), Hose's Civet: Borneo's mysterious carnivore, Nature Watch 18/4: 2–8 
  • John Mathai; Jason Hon; Ngumbang Juat; Amanda Peter; Melvin Gumal (2010), Small carnivores in a logging concession in the Upper Baram, Sarawak, Borneo, Small Carnivore Conservation 42: 1–9 
  • Charles M. Francis (2013). A Photographic Guide to Mammals of South-East Asia. Bloomsbury Publishing Plc. ISBN 978-1-84773-531-7. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]