Đế quốc Brunei

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đế quốc Brunei
Empayar Brunei
ايمڤاير بروني

Thế kỷ 7–1888


Quốc kỳ

Phạm vi của Đế quốc Brunei vào thế kỷ 15
Thủ đô Kota Batu
Kampong Ayer[1]
Brunei Town
Ngôn ngữ Brunei Mã Lai, Cổ Mã LaiẢ Rập
Tôn giáo Hồi giáo Sunni
Chính quyền Quân chủ
Sultan cuối cùng của đế quốc
 •  1885–1906[2] Hashim Jalilul Alam Aqamaddin
Lịch sử
 •  Đế quốc bắt đầu Thế kỷ 7
 •  Trở thành xứ bảo hộ của Anh 1888
Tiền tệ Barter, Cowrie và sau là Brunei pitis
Tiền thân
Kế tục
Lịch sử Brunei
Hồi quốc Sulu
Đông Ấn Tây Ban Nha
Đông Ấn Hà Lan
Vương quốc Sarawak
Thuộc địa xứ Labuan
Bắc Borneo
Brunei
Hiện nay là một phần của  Brunei
 Indonesia
 Malaysia
 Philippines

Đế quốc Brunei là một Hồi quốc Mã Lai tập trung ở Brunei trên bờ biển phía bắc đảo Borneo tại Đông Nam Á. Vương quốc được thành lập vào đầu thế kỷ 7, bắt đầu như là một vương quốc thương mại đường biển nhỏ dưới sự cai trị của người ngoại giáo bản địa hoặc vua Hindu. Các đời vua Brunei đã cải sang đạo Hồi vào khoảng thế kỷ 15, sau một thời gian dài phát triển và bành trướng khắp các khu vực ven biển của cả Borneo và Philippines, trước khi suy yếu vào thế kỷ 17.[3]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử của Đế quốc Brunei vấp phải khá nhiều vấn đề vì chỉ có một số ít nguồn tài liệu đề cập đến tuyên bố như vậy và cộng thêm bằng chứng quá khan hiếm. Chẳng có nguồn tài liệu địa phương hoặc bản địa nào còn tồn tại để cung cấp bằng chứng cho bất kỳ điều gì. Kết quả là phần lớn giới sử học đành phải sử dụng nguồn thư tịch Trung Quốc để dựng nên lịch sử ban đầu của Brunei.[4] Boni trong thư tịch Trung Quốc nhắc đến có thể là chỉ toàn bộ vùng Borneo trong khi Poli 婆利 (Bà Lợi), có lẽ nằm ở Sumatra như lời xác nhận của chính quyền địa phương khi đề cập đến Brunei.[5]

Sơ kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Quan hệ ngoại giao sớm nhất giữa Boni 渤 泥 (Bột Nê) và các triều đại Trung Quốc đã được ghi nhận trong bộ Thái Bình hoàn vũ ký (太平環宇記) vào năm 978.[5] Năm 1225, một viên quan của nhà TốngTriệu Nhữ Quách (趙汝适) ghi lại trong Chư Phiên chí (諸蕃志) rằng Po-ni có 100 chiến thuyền đề bảo vệ ngành mậu dịch của mình, và có nhiều vàng tại vương quốc này.[6] Một ghi chép vào năm 1280 mô tả rằng Po-ni kiểm soát một diện tích lớn trên đảo Borneo.

Vào thế kỷ 14, Brunei dường như phải chịu thần phục Java. Bản thảo Nagarakretagama viết bằng tiếng Java do Mpu Prapanca biên soạn vào năm 1365, có đề cập đến Barune như một nước chư hầu của Majapahit và hàng năm phải cống nạp 40 tấn long não.[7] Năm 1369, người Sulu đã tấn công Po-ni cướp đoạt kho báu và vàng bạc của xứ này. Majapahit liền phái một hạm đội tàu chiến tới giúp đánh đuổi quân Sulu nhưng Po-ni bị yếu hẳn đi kể từ sau cuộc tấn công đó.[8] Một bản tường thuật của Trung Quốc từ năm 1371 đã mô tả Po-ni trở nên nghèo nàn và hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát của Majapahit.[9]

Bành trướng[sửa | sửa mã nguồn]

Sau cái chết của Hoàng đế Hayam Wuruk, Majapahit rơi vào tình trạng suy yếu và khó có khả năng kiểm soát các xứ nội thuộc ở ngoài xa. Điều này mở ra cơ hội cho các vị vua Brunei mở rộng ảnh hưởng của mình ra toàn khu vực. Hoàng đế Vĩnh Lạc nhà Minh sau khi lên ngôi vào năm 1403, ngay lập tức đã cử đoàn sứ thần sang các nước khác nhau mời họ phải cống nạp cho thiên triều. Brunei ngay lập tức tham gia vào hệ thống triều cống béo bở với Trung Quốc. Đến thế kỷ 15, đế quốc đã trở thành một nhà nước Hồi giáo, khi vua Brunei cải sang đạo Hồi được du nhập bởi giới thương nhân Hồi giáo người Ấn ĐộẢ Rập đến từ các vùng khác thuộc Đông Nam Á hải đảo tới đây buôn bán và truyền giáo.[10][11] Brunei khi đó kiểm soát hầu hết miền bắc Borneo, và trở thành một trung tâm quan trọng trong hệ thống thương mại thế giới giữa phương Đôngphương Tây.[12]

Đế quốc Brunei giống như những đế quốc trong khu vực trước đây như Srivijaya, Majapahit và Malacca, có thể được coi như là một đế quốc hàng hải (Thalassocracy) dựa trên sức mạnh hải quân. Có nghĩa là ảnh hưởng của nó chỉ giới hạn ở các thị trấn ven biển, bến cảng và cửa sông, và hiếm khi nào xâm nhập sâu vào vùng nội địa của hòn đảo. Các vị vua Brunei xem chừng cố gắng liên minh với các dân tộc đi biển khu vực Orang LautBajau giúp hình thành hạm đội hải quân của họ. Thế nhưng, người Dayak, một bộ lạc bản xứ vùng nội địa Borneo lại không nằm dưới quyền kiểm soát của họ, cũng do ảnh hưởng của đế quốc hiếm khi nào xâm nhập sâu vào trong tận rừng rậm.

Các tài liệu ghi chép sớm nhất về Brunei của phương Tây là của một người Ý gọi là Ludovico di Varthema. Ludovico vào lúc đó đang trên một tuyến đường đến quần đảo Maluku khi ông đổ bộ ở Borneo và gặp gỡ với người dân Brunei. Tài liệu ghi chép của ông có niên đại vào năm 1550.[11][13][14]

"Chúng tôi vừa đặt chân đến hòn đảo Bornei (Brunei hay Borneo), cách Maluch khoảng hai trăm dặm, và chúng tôi phát hiện ra rằng đảo này lớn hơn như kể trên và thấp hơn nhiều. Người dân đều là những kẻ ngoại đạo và đầy thiện chí. Màu da của họ trắng hơn so với giống dân khác....tại hòn đảo này công lý được thực thi khá tốt..."[15]

Dưới thời trị vì của Bolkiah, Quốc vương thứ năm, đế quốc đã nắm quyền kiểm soát trên khu vực duyên hải phía tây bắc Borneo (nay là Brunei, SarawakSabah) và vươn tới tận Seludong (nay là Manila), quần đảo Sulu gồm các khu vực của đảo Mindanao.[10][16][17][18][19][20][21][22] Vào thế kỷ 16, ảnh hưởng của Đế quốc Brunei cũng lan xa tới tận vùng đồng bằng sông KapuasTây Kalimantan. Hồi quốc Sambas gốc Mã Lai ở Tây Kalimantan và Hồi quốc Sulu ở miền Nam Philippines nói riêng đã phát triển mối quan hệ vương triều với hoàng gia Brunei. Các sultan Mã Lai của Pontianak, Samarinda đến tận Banjarmasin đều đối đãi với Sultan của Brunei như thể là chúa tể của họ. Bản chất thực sự trong mối quan hệ của Brunei với những Vương quốc Hồi giáo Mã Lai khác ở ven biển Borneo và quần đảo Sulu vẫn là một đề tài nghiên cứu hiện nay. Cho dù là một nước chư hầu, một liên minh hay chỉ là một mối quan hệ mang tính nghi lễ. Kể từ đó xuất hiện những chính thể khác trong khu vực còn thực hiện ảnh hưởng của họ lên những vương quốc Hồi giáo. Hồi quốc Banjar (nay là Banjarmasin) là một ví dụ tiêu biểu, cũng chịu nằm dưới ảnh hưởng của Demak tại Java.

Suy tàn[sửa | sửa mã nguồn]

Đến cuối thế kỷ 17, Brunei bắt đầu bước vào một thời kỳ suy tàn bắt nguồn từ những xung đột nội bộ xung quanh vấn đề kế vị, quá trình mở rộng thuộc địa của các cường quốc châu Âu và nạn cướp biển hoành hành.[3] Đế quốc đã đánh mất nhiều lãnh thổ của mình do sự hiện diện của các cường quốc phương Tây chẳng hạn như Tây Ban Nha ở Philippines, Hà Lan ở phía nam đảo Borneo và Anh quốc ở Labuan, Sarawak và Bắc Borneo. Sultan Hashim Jalilul Alam Aqamaddin về sau đã kêu gọi người Anh phải ngăn chặn sự xâm lấn hơn nữa vào năm 1888.[23] Cùng năm đó, Anh đã ký kết "Hiệp ước Bảo hộ" và biến Brunei trở thành xứ bảo hộ,[3] mãi cho đến năm 1984 mới giành được độc lập.[21][24]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ B. A. Hussainmiya (2010). “The Malay Identity in Brunei Darussalam and Sri Lanka” (PDF) 10. Universiti Brunei Darussalam. tr. 67 and 68/3 and 4. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2014. 
  2. ^ “The Sultan who thwarted Rajah Brooke”. http://www.bt.com.bn. Ngày 3 tháng 8 năm 2008. 
  3. ^ a ă â “Brunei, Background”. The World Factbook CIA. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2014. 
  4. ^ Jamil Al-Sufri, Tarsilah Brunei: The Early History of Brunei up to 1432 AD (Bandar Seri Begawan: Brunei History Centre, 2000)
  5. ^ a ă Johannes L. Kurz. “Boni in Chinese Sources: Translations of Relevant Texts from the Song to the Qing Dynasties” (PDF). Universiti Brunei Darussalam. National University of Singapore. tr. 1. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2014. 
  6. ^ History for Brunei 2009, tr. 43
  7. ^ “Naskah Nagarakretagama” (bằng tiếng Indonesia). Perpustakaan Nasional Republik Indonesia. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2014. 
  8. ^ History for Brunei 2009, tr. 44
  9. ^ History for Brunei 2009, tr. 45
  10. ^ a ă Graham Saunders (ngày 5 tháng 11 năm 2013). A History of Brunei. Taylor & Francis. tr. 23 & 60. ISBN 978-1-136-87401-7. 
  11. ^ a ă Awang Abdul Aziz bin Awang Juned (Pehin Tuan Imam Dato Paduka Seri Setia Ustaz Haji.) (1992). Islam di Brunei: zaman pemerintahan Kebawah Duli Yang Maha Mulia Paduka Seri Baginda Sultan Haji Hassanal Bolkiah Mu'izzuddin Waddaulah, Sultan dan Yang Di-Pertuan Negara Brunei Darussalam (bằng tiếng Malay). Jabatan Pusat Sejarah Brunei Darussalam. 
  12. ^ Oxford Business Group. The Report: Sabah 2011. Oxford Business Group. tr. 179–. ISBN 978-1-907065-36-1. 
  13. ^ The Brunei Museum Journal. The Museum. 1986. 
  14. ^ Awang Mohd. Zain Jamil Al-Sufri (1990). Tarsilah Brunei: sejarah awal dan perkembangan Islam (bằng tiếng Malay). Jabatan Pusat Sejarah Kementerian Kebudayaan, Belia, dan Sukan. 
  15. ^ Bilcher Bala (2005). Thalassocracy: a history of the medieval Sultanate of Brunei Darussalam. School of Social Sciences, Universiti Malaysia Sabah. ISBN 978-983-2643-74-6. 
  16. ^ Frans Welman (ngày 1 tháng 8 năm 2013). Borneo Trilogy Brunei: Vol 1. Booksmango. tr. 8–. ISBN 978-616-222-235-1. 
  17. ^ David Lea; Colette Milward (2001). A Political Chronology of South-East Asia and Oceania. Psychology Press. tr. 16–. ISBN 978-1-85743-117-9. 
  18. ^ Patricia Herbert; Anthony Crothers Milner (1989). South-East Asia: Languages and Literatures: a Select Guide. University of Hawaii Press. tr. 99–. ISBN 978-0-8248-1267-6. 
  19. ^ Nigel Hicks (2007). The Philippines. New Holland Publishers. tr. 34–. ISBN 978-1-84537-663-5. 
  20. ^ Peter Church (ngày 3 tháng 2 năm 2012). A Short History of South-East Asia. John Wiley & Sons. tr. 16–. ISBN 978-1-118-35044-7. 
  21. ^ a ă Harun Abdul Majid (ngày 15 tháng 8 năm 2007). Rebellion in Brunei: The 1962 Revolt, Imperialism, Confrontation and Oil. I.B.Tauris. tr. 2 & 4. ISBN 978-1-84511-423-7. 
  22. ^ Eur (2002). The Far East and Australasia 2003. Psychology Press. tr. 203–. ISBN 978-1-85743-133-9. 
  23. ^ “Brunei Darussalam”. http://www.worldatlas.com. 
  24. ^ Jatswan S. Sidhu (ngày 22 tháng 12 năm 2009). Historical Dictionary of Brunei Darussalam. Scarecrow Press. tr. 92–. ISBN 978-0-8108-7078-9.