Đế quốc Mali

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đế quốc Mali
Nyeni  (tiếng Bambara)
after c. 1230:
Manden Kurufaba  (tiếng Bambara)[1]
Đế quốc

 

khoảng năm 1235–khoảng năm 1600
 

 

 

Phạm vi Đế quốc Mali (khoảng năm 1350)
Thủ đô Niani; sau này Ka-ba
Ngôn ngữ Malinké, Mandinka, Bambara, Fulani, Bozo
Tôn giáo Tôn giáo truyền thống châu Phi, Hồi giáo
Cấu trúc chính trị Đế quốc
Mansa (Hoàng đế)
 •  1235–1255 Mari Djata I (đầu tiên)
 •  khoảng thế kỷ 17 Mahmud IV (cuối cùng)
Lập pháp Gbara
Giai đoạn lịch sử Thời kỳ hậu cổ điển
 •  Thành lập khoảng năm 1235
 •  Thủ đô dời từ Niani đến Kangaba 1559
 •  Quốc gia sụp đổ và bị các con trai hoàng đế chia ra khoảng năm 1600
Diện tích
 •  1250[2] 100.000 km² (38.610 sq mi)
 •  1312[3] 1.294.994 km² (500.000 sq mi)
 •  1380[2] 1.100.000 km² (424.712 sq mi)
 •  1500[2] 400.000 km² (154.441 sq mi)
Tiền tệ Vàng cám
(Muối ăn, đồngvỏ sò phổ biến ở Đế quốc này)
Hiện nay là một phần của  The Gambia
 Guinea
 Guinea-Bissau
 Ivory Coast
 Mali
 Mauritania
 Niger
 Senegal
Biểu tượng quốc gia: Chim cắt
Động vật thiêng liêng: Chim cắt và một số loài động vật khác theo mỗi triều trị vì (Sư tử, lợn rừng, vân vân.)[cần dẫn nguồn]

Đế quốc Mali (tiếng Manding: Nyeni;[4] tiếng Anh: Niani), trong lịch sử cũng được đề cập với tên gọi Manden Kurufaba,[1] là một đế chế Mandinka / Bambara ở Tây Phi từ khoảng năm 1230 đến năm 1600. Đế chế này được thành lập bởi Sundiata Keita và trở nên nổi tiếng vì sự giàu có của những người cai trị của nó, đặc biệt là Mansa Musa.

Đế chế Mali là đế chế lớn nhất ở Tây Phi và ảnh hưởng sâu sắc văn hóa của khu vực thông qua sự truyền bá của ngôn ngữ, luật pháp và phong tục cùng vùng đất tiếp giáp với sông Niger của nó, cũng như các khu vực khác bao gồm nhiều vương quốc chư hầu và các tỉnh[5].

Đế quốc Mali[sửa | sửa mã nguồn]

Mansa Musa được miêu tả cầm một cục vàng, từ, từ Catalan Atlas 1375

Tên gọi Mālī (مالي) được Ibn Battuta (năm 1368/9) ghi chép là tên của đế quốc. Theo Chihab al-Umari (năm 1384) cùng thời của Battuta, tên gọi đế quốc là Nyeni (Niani), theo tên thủ đô. Các biến thể khác của tên gọi Mali gồm có Mallel, Mel, và Melit.

Tên bản địa Manden của lãnh thổ à cùng tên của tên của dân tộc, Manden’ka, với tiếp vĩ ngữ ka nghĩa là "người dân của".[6] Từ bằng chứng của Sử thi Sundiata, một ghi chép bán lịch sử về sự thành lập của đế chế đầu thế kỷ 13,[7] lãnh thổ với tên này đã bao gồm phần lớn khu vực ngày nay là bắc Guinea và nam Mali. Đế quốc xuất phát từ một liên bang của các bộ lạc Bambara có tên gọi là Manden Kurufaba[1] (Manden là đất nước, kuru là "tập hợp" và faba nghĩa là "nguyên vẹn vĩ đại"). Các vị vua cai trị của Mali được gọi là mansa, nghĩa là “hoàng đế” hay “chủ nhân.” Mansa Musa là vị hoàng đế được biết đến nhiều nhất của Mali, cai trị từ năm 1312 đến năm 1337. Ông là cháu nội của người anh em cùng cha khác mẹ của Sundiata, và đã cai trị Mali tại thời điểm Đế quốc này thịnh vượng nhất, trong thời kỳ đó mậu dịch tăng gấp ba lần. Dưới thời cai trị của ông, ông đã làm tăng gấp đôi diện tích đất của Mali; nó đã trở thành một vương quốc lớn hơn bất kỳ quốc gia nào ở châu Âu vào thời đó. Các thành phố của Mali đã trở thành các trung tâm thương mại quan trọng cho tất cả khu vực Tây Phi cũng như các trung tâm nổi tiếng về sự giàu có, văn hóa và học thuật. Timbuktu, một thành phố quan trọng ở Mali, đã trở thành một trong những trung tâm văn hóa lớn không chỉ của châu Phi mà của toàn thế giới. Các thư viện rộng lớn và các trường đại học Hồi giáo đã được xây dựng. Những nơi này đã trở thành nơi gặp gỡ của các nhà thơ, học giả, và các nghệ sĩ tốt nhất của châu Phi và Trung Đông. Mansa Musa, người theo Hồi giáo, được nhiều người biết đến nhiều nhất bên ngoài của Mali vì cuộc hành hương của ông đến thánh địa Mecca trong năm 1324. Theo một số ghi chép, 60.000 người cùng đi với ông, cùng với 200 con lạc đà chứa đầy vàng, bạc, thực phẩm, quần áo, và hàng hóa khác. Cuộc hành hương này biểu thị sự giàu có và hào phóng lớn Mansa Musa[cần dẫn nguồn].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Piga, Adriana: "Islam et villes en Afriqa au sud du Sahara: Entre soufisme et fondamentalisme", page 265. KARTHALA Editions, 2003
  2. ^ a ă â Taagepera, page 497
  3. ^ Hempstone, page 312
  4. ^ Ki-Zerbo, Joseph: "UNESCO General History of Africa, Vol. IV, Abridged Edition: Africa from the Twelfth to the Sixteenth Century", page 57. University of California Press, 1997
  5. ^ “The Empire of Mali, In Our Time - BBC Radio 4”. BBC. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2015. 
  6. ^ “N'ko Language – Tutorial”. Fakoli.net. Ngày 20 tháng 2 năm 2001. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2009. 
  7. ^ Jansen, Jan "The Intimacy of Belonging: Literacy and the Experience of Sunjata in Mali", History in Africa Vol. 38 (2011), p 107.