Nhà Pahlavi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nhà nước Hoàng gia Irana
1925–1979
Quốc kỳ (1964–1979) Iran
Quốc kỳ (1964–1979)
Quốc huy Iran
Quốc huy

Tiêu ngữمرا داد فرمود و خود داور است
"Marâ dâd farmoudo xod dâvar ast"
"Justice He [God] bids me do, as He will judge me"[1]

Quốc caسرود شاهنشاهی ایران
Sorude Šâhanšâhiye Irân
(tiếng Anh: "Imperial Salute of Iran")
Location of Iran
Tổng quan
Vị thếĐế quốc
Thủ đô
và thành phố lớn nhất
Tehran
Ngôn ngữ thông dụngtiếng Ba Tư
Chính trị
Chính phủ
Shah 
• 1925–41
Reza Shah Pahlavi
• 1941–79
Mohammad Reza Shah Pahlavi
Thủ tướng Iran 
• 1925–1926 (đầu)
Mohammad-Ali Foroughi
• 1979 (last)
Shapour Bakhtiar
Lập phápQuốc hội tham luận Iran
Thượng viện Iran
Quốc hội Cố vấn Iran
Lịch sử
Lịch sử 
• Thành lập
Ngày 15 tháng 12 năm 1925
25 tháng 8 – ngày 17 tháng 9 năm 1941
• Gia nhập Liên Hợp Quốc
24 tháng 10 năm 1945
19 tháng 8 năm 1953
26 tháng 1, 1963
11 tháng 2 1979
Kinh tế
Đơn vị tiền tệRial
Mã ISO 3166IR
Tiền thân
Kế tục
Nhà Qajar
Chính phủ lâm thời Iran
Hiện nay là một phần củaIran
  1. ^ Từ 1935 đến 1979. Từ 1925 đến 1935, nó có tên gọi chính thức là Nhà nước Hoàng gia Ba Tư ở phương Tây.


Pahlavi
Imperial Coat of Arms of Iran.svg
Quốc giaIran
Tước hiệu
Người sáng lậpRezā Shāh
Quốc chủ cuối cùngMohammad Reza Shah
Người đứng đầu hiện nayReza Pahlavi
Năm thành lậpngày 15 tháng 12 năm 1925
Phế truấtngày 11 tháng 2 năm 1979
Dân tộcngười Ba Tư

Nhà Pahlavi (tiếng Ba Tư: دودمان پهلوی‎) hay còn gọi là Vương quốc Iran (tiếng Ba Tư: پادشاهی ایران) hoặc tên chính thức là Nhà nước Hoàng gia Irantriều đại nắm quyền của Nhà nước Hoàng gia Iran, tồn tại từ năm 1925 đến năm 1979, khi cuộc Cách mạng Hồi giáo diễn ra và thay thế bằng Cộng hòa Hồi giáo Iran.

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Vương triều Pahlavi là một triều đại hoàng gia Iran thuộc dân tộc Mazandarani. Vương triều Pahlavi có nguồn gốc từ tỉnh Mazandaran.[2][3][4][5] Năm 1878, Reza Shah Pahlavi sinh ra tại làng Alasht thuộc hạt Savadkuh, tỉnh Mazandaran. Cha mẹ của ông là Abbas Ali Khan và Noushafarin Ayromlou.[6][7] Mẹ của ông là một người nhập cư Hồi giáo từ Gruzia (khi đó là một phần của Đế quốc Nga),[8][9] gia đình của ông đã di cư đến Ba Tư sau khi Ba Tư bị buộc phải nhượng lại tất cả các lãnh thổ của mình ở Caucasus sau một số cuộc Chiến tranh Nga-Ba Tư. Nhiều thập kỷ trước khi Reza Shah ra đời, Cha của ông hoạt động trong Trung đoàn Savadkuh số 7, và phục vụ trong Chiến tranh Anh-Ba Tư năm 1856.

Lập quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Ba Tư trước cuộc đảo chính của Reza Pahlavi

Năm 1925, Reza Khan, cựu Chuẩn tướng của Lữ đoàn Cossack Ba Tư, đã phế truất vương triều Qajar và tự xưng là vua (shah), gọi tên vương triều của mình là Pahlavi.[10] Vào giữa những năm 1930, sự cai trị thế tục mạnh mẽ của vua Rezā đã gây ra sự bất mãn trong một số nhóm, đặc biệt là giới tăng lữ, những người phản đối những cải cách của ông, nhưng tầng lớp trung lưuthượng lưu của Iran thích những cải cách của nhà vua. Năm 1935, Rezā Shāh ban hành sắc lệnh yêu cầu các đại diện đến từ ngoài lãnh thổ Iran phải sử dụng thuật ngữ Iran trong thư từ chính thức. Người kế nhiệm ông, Mohammad Reza Pahlavi, tuyên bố vào năm 1959 rằng cả thuật ngữ Ba Tư và Iran đều có thể chấp nhận và có thể được sử dụng thay thế cho nhau.

Reza Shah đã nỗ lực tránh dính líu đến Anh và Liên Xô trong mọi tình huấn, mặc dù nhiều dự án phát triển mà ông đề ra cần đến chuyên môn và kỹ thuật nước ngoài, nhưng ông đã tránh trao hợp đồng cho các công ty của Anh và Liên Xô vì lịch sử trước đó không mấy tốt đẹp giữa cựu vương triều Qajar - Ba Tư với 2 cường quốc này. Mặc dù Vương quốc Anh, thông qua quyền sở hữu Công ty Dầu mỏ Anh-Iran, kiểm soát tất cả các nguồn tài nguyên dầu của Iran, Rezā Shāh vẫn muốn nhận hỗ trợ kỹ thuật từ Đức, Pháp, Ý và các nước châu Âu khác. Điều này đã tạo ra nhiều vấn đề cho Iran sau năm 1939, khi Đức và Anh trở thành kẻ thù trong Thế chiến thứ hai. Reza Shah tuyên bố Iran là một quốc gia trung lập, nhưng Anh khẳng định rằng các kỹ sư và kỹ thuật viên người Đức ở Iran là gián điệp với nhiệm vụ phá hoại các cơ sở dầu của Anh ở tây nam Iran. Anh yêu cầu Iran trục xuất tất cả công dân Đức, nhưng Rezā Shāh từ chối, cho rằng điều này sẽ ảnh hưởng xấu đến các dự án phát triển của đất nước mình.

Chiến tranh Thế giới II[sửa | sửa mã nguồn]

Iran tuyên bố là một quốc gia trung lập trong những năm đầu của Chiến tranh Thế giới II. Vào tháng 4/1941, cuộc chiến đã lan đến gần biên giới Iran khi Rashid Ali, với sự hỗ trợ của ĐứcÝ, phát động cuộc đảo chính Iraq năm 1941, châm ngòi cho Chiến tranh Anh-Iraq bùng nổ vào tháng 5/1941. Đức và Ý nhanh chóng ủng hộ phe Iraq đối đầu với Anh. Các lực lượng ở Iraq nhận viện trợ quân sự từ Syria nhưng trong khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 7, Anh và các đồng minh của họ đã đánh bại lực lượng ủng hộ phe Trục ở Iraq và sau đó là Syria và Lebanon.

Vào tháng 6/1941, Đức Quốc xã phá vỡ Hiệp ước Molotov-Ribbentrop và xâm lược Liên Xô, nước láng giềng phía Bắc của Iran. Liên Xô nhanh chóng liên minh với các nước Đồng minh và vào tháng 7 và tháng 8/1941, người Anh yêu cầu chính phủ Iran trục xuất tất cả người Đức khỏi Iran. Reza Shah từ chối yêu sách này, thế là vào ngày 25/08/1941, Anh và Liên Xô mở một cuộc xâm lược bất ngờ vào lãnh thổ Iran, buộc chính phủ của Reza Shah nhanh chóng đầu hàng sau chưa đầy một tuần giao tranh.[11] Mục đích chiến lược của cuộc xâm lược là đảm bảo đường cung cấp hậu cần cho Liên Xô (sau này được đặt tên là Hành lang Ba Tư), bảo vệ các mỏ dầuNhà máy lọc dầu Abadan (thuộc Công ty Dầu mỏ Anh-Iran thuộc sở hữu của Anh), và hạn chế ảnh hưởng của Đức ở Iran. Sau cuộc xâm lược, vào ngày 16/09/1941, Reza Shah tuyên bố thoái vị và ngai vàng được trao lại cho Mohammad Reza Pahlavi, người con trai 21 tuổi của ông.[12][13][14]

Chiến tranh Lạnh[sửa | sửa mã nguồn]

Mohammed Reza Pahlavi và vợ Farah Diba khi đăng quang làm Shâhanshâh của Iran.

Mohammad Reza Pahlavi thay thế cha mình vào ngày 16 tháng 9 năm 1941. Ông chủ đích muốn hướng tới những cải cách của cha ông, nhưng một cuộc tranh giành quyền kiểm soát chính phủ đã sớm nổ ra giữa ông ta và một chính trị gia chuyên nghiệp và dày dặn, Mohammad Mosaddegh theo Chủ nghĩa Quốc gia.

Vào năm 1951, Majlis (Quốc hội Hoàng gia Iran) bổ nhiệm Mohammad Mossadegh là thủ tướng với số phiếu tương quan 79–12, người sau đó quốc hữu hóa công ty dầu mỏ do Anh làm chủ (xem Khủng hoảng Abadan). Mossadegh bị Shah phản đối vì lo ngại kết quả là lệnh cấm vận dầu mỏ do phương Tây áp đặt sẽ khiến Iran bị hủy hoại kinh tế. Quốc vương sau đó trốn khỏi Iran nhưng quay trở lại khi Vương quốc Anh và Hoa Kỳ tổ chức một cuộc đảo chính chống lại Mossadegh vào tháng 8 năm 1953 (xem Đảo chính 1953 Iran). Mossadegh sau đó bị lực lượng quân đội ủng hộ Shah bắt giữ.

Các kế hoạch lớn để xây dựng cơ sở hạ tầng của Iran đã được thực hiện, một tầng lớp trung lưu mới bắt đầu nở rộ và trong vòng chưa đầy hai thập kỷ, Iran đã trở thành cường quốc kinh tế và quân sự lớn và hùng mạnh của Trung Đông.[cần dẫn nguồn]

Vào ngày 12 đến ngày 16 tháng 10 năm 1971, một loạt các lễ kỷ niệm và lễ hội công phu cho lễ kỷ niệm 2.500 năm của Đế chế Ba Tư đã diễn ra để tưởng nhớ sự thành lập của Đế chế Achaemenid của Cyrus Đại đế.

Sụp đổ[sửa | sửa mã nguồn]

Vị Shah cuối cùng của Iran gặp các giáo sĩ. Một số giáo sĩ Iran phản đối ông trong khi một số người khác ủng hộ ông là "Người cai trị Shia duy nhất".[cần dẫn nguồn]

Chính phủ của Shah đã trấn áp các phe đối lập của mình với sự trợ giúp của lực lượng mật vụ an ninh và tình báo Iran, SAVAK. Những người chống đối như vậy bao gồm cánh tảHồi giáo chủ nghĩa.

Vào giữa những năm 1970, dựa vào doanh thu từ dầu mỏ tăng lên, Mohammad Reza bắt đầu một loạt các kế hoạch thậm chí còn tham vọng hơn và táo bạo hơn cho sự phát triển của đất nước và cuộc "Cách mạng Trắng". Nhưng những tiến bộ về kinh tế xã hội của ông ngày càng khiến giới giáo sĩ khó chịu, dẫn đến sự bất bình và kêu gọi lật đổ Shah. Chế độ Pahlavi sụp đổ sau các cuộc nổi dậy lan rộng vào năm 1978 và 1979.

Mohammad Reza đã trốn khỏi đất nước, tìm cách điều trị y tế ở Ai Cập, Mexico, Hoa KỳPanama, và cuối cùng tái định cư cùng gia đình ở Ai Cập với tư cách là khách của Anwar Sadat. Khi ông qua đời, con trai ông là Thái tử Reza Pahlavi kế vị làm người thừa kế vương triều Pahlavi. Reza được chính thức đăng quang làm Thái tử vào ngày 26 tháng 10 năm 1967 tại Tehran.[15] Reza Pahlavi và vợ sống ở Hoa Kỳ ở Potomac, Maryland, với ba cô con gái. [16]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Iranian Empire (Pahlavi dynasty): Imperial standards”. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 4 năm 2007. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2012.
  2. ^ کوروش, نوروز مرادی; نوری, مصطفی (1388). “سندی نویافته از نیای رضاشاه” (PDF). پیام بهارستان. د۲،س ۱،ش۴.
  3. ^ معتضد, خسرو (1387). تاج های زنانه . تهران: نشر البرز. tr. 46 47 48 49 50 51 جلد اول. ISBN 9789644425974.
  4. ^ نیازمند, رضا (1387). رضاشاه از تولد تا سلطنت . تهران: حکایت قلم نوین. tr. 15 16 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 39 40 43 44 45. ISBN 9645925460.
  5. ^ زیباکلام, صادق (1398). رضاشاه . تهران: روزنه،لندن:اچ انداس. tr. 61, 62. ISBN 9781780837628.
  6. ^ Gholam Reza Afkhami (ngày 27 tháng 10 năm 2008). The Life and Times of the Shah. University of California Press. tr. 4. ISBN 978-0-520-25328-5. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2012.
  7. ^ Zirinsky, Michael P. (1992). “Imperial power and dictatorship: Britain and the rise of Reza Shah, 1921-1926”. International Journal of Middle East Studies. 24: 639–663. doi:10.1017/s0020743800022388. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2012.
  8. ^ Afkhami, Gholam Reza (2009). The Life and Times of the Shah. University of California Press. tr. 4. (..) His mother, who was of Georgian origin, died not long after, leaving Reza in her brother's care in Tehran. (...).
  9. ^ GholamAli Haddad Adel; và đồng nghiệp (2012). The Pahlavi Dynasty: An Entry from Encyclopaedia of the World of Islam. EWI Press. tr. 3. (...) His mother, Nush Afarin, was a Georgian Muslim immigrant (...).
  10. ^ Ansari, Ali M. (2003). Modern Iran Since 1921: The Pahlavis and After. Longman. tr. 36. ISBN 978-0-582-35685-6. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2016.
  11. ^ Glenn E. Curtis, Eric Hooglund; US Government Printing Office (2008). Iran: A Country Study. U.S. Government Printing Office. tr. 30. ISBN 978-0-8444-1187-3.
  12. ^ Farrokh, Kaveh (2011). Iran at War: 1500–1988. ISBN 978-1-78096-221-4.
  13. ^ David S. Sorenson (2013). An Introduction to the Modern Middle East: History, Religion, Political Economy, Politics. Westview Press. tr. 206. ISBN 978-0-8133-4922-0.
  14. ^ Iran: Foreign Policy & Government Guide. International Business Publications. 2009. tr. 53. ISBN 978-0-7397-9354-1.
  15. ^ “The Imperial Coronation of Iran”. Farahpahlavi.org. Truy cập 3 Tháng hai năm 2022.
  16. ^ Michael Coleman (30 tháng 7 năm 2013). “Son of Iran's Last Shah: 'I Am My Own Man'. The Washington Diplomat. Lưu trữ bản gốc 22 tháng Chín năm 2013. Truy cập 21 tháng Chín năm 2013.