Đế quốc Brasil

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đế quốc Brasil
Império do Brasil

 

1822–1889
 

Flag Quốc huy
Khẩu hiệu
Independência ou Morte!
"Độc lập hay là chết!"
Quốc ca
Hino da Independência (1822–1831)
"Bài ca Độc lập"

Hino Nacional Brasileiro (1831–1889)
"Quốc ca Brasil"
Đế quốc Brasil tại thời điểm khuếch trương lãnh thổ lớn nhất, bao gồm tỉnh cũ Cisplatina
Thủ đô Rio de Janeiro
Ngôn ngữ Bồ Đào Nha
Tôn giáo Công giáo La Mã
Chính quyền quân chủ lập hiến
Hoàng đế Brasil
 •  1822–1831 Pedro I
 •  1831–1889 Pedro II
Thủ tướng
 •  1843–1844 Hầu tước xứ Paraná (thực tế)
 •  1847–1848 Đệ nhị tử tước xứ Caravelas (chức vụ thiết lập)
 •  1889 Tử tước xứ Ouro Preto]] (cuối)
Lập pháp Đại hội đồng
 •  Upper house Tham nghị viện
 •  Lower house [Chúng nghị viện
Thời kỳ Lịch sử thế kỷ 19
 •  Độc lập 7 tháng 9 năm 1822
 •  Pedro I đăng cơ 12 tháng 10 1822
 •  Thông qua Hiến pháp Đế quốc 25 tháng 3 năm 1824
 •  Pedro II đăng cơ 7 tháng 4 năm 1831
 •  Bãi nô 13 tháng 5 năm 1888
 •  Phế trừ chế độ quân chủ 15 tháng 11 1889
Diện tích
 •  1889 8.363.186 km² (3.229.044 sq mi)
Dân số
 •  1823 (ước tính) 4.000.000 
 •  1854 (ước tính) 7.000.700 
 •  1872 (ước tính) 9.930.479 
 •  1890 (ước tính) 14.333.915 
Tiền tệ Real

Đế quốc Brasil là một quốc gia tồn tại trong thế kỷ 19, về đại thể bao gồm các lãnh thổ mà nay tạo thành BrasilUruguay. Chính phủ quốc gia vận hành theo chế độ quân chủ lập hiến nghị viện đại diện, nằm dưới quyền của hai cha con hoàng đế Pedro IPedro II. Brasil nguyên là một thuộc địa của Vương quốc Bồ Đào Nha, song đến năm 1808 lại trở thành nơi đặt trị sở của Đế quốc Bồ Đào Nha khi Thân vương nhiếp chính Bồ Đào Nha, về sau trở thành Quốc vương João VI, phải đào tị khi Napoléon xâm lược Bồ Đào Nha và an định bản thân và chính phủ của mình tại thành phố Rio de Janeiro của Brasil. João VI sau đó trở về Bồ Đào Nha, để lại người con trai cả là Pedro cai trị Vương quốc Brasil trong địa vị người nhiếp chính. Đến ngày 7 tháng 9 năm 1822, Pedro tuyên bố Brasil độc lập sau khi tiến hành một cuộc chiến không thành công chống lại vương quốc của cha, và đến ngày 12 tháng 10 cùng năm được tôn làm hoàng đế đầu tiên của Brasil với hiệu là Pedro I. Quốc gia mới có lãnh thổ rất rộng lớn song cư dân thưa thớt và đa dạng về thành phần dân tộc.

Không giống như hầu hết các nước cộng hòa sử dụng tiếng Tây Ban Nha lân cận, Brasil có được ổn định chính trị, tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, đảm bảo quyền tự do ngôn luận theo hiến pháp, và tôn trọng các quyền dân sự của thần dân, mặc dù có các hạn chế pháp lý đối với nữ giới và nô lệ, nô lệ bị xem như vật sở hữu và không phải công dân. Nghị viện lưỡng viện của đế quốc được bầu theo phương pháp tương đối dân chủ trong thời kỳ này, các cơ quan lập pháp cấp tỉnh và địa phương cũng tương tự. Tình trạng này dẫn đến một cuộc xung đột tư tưởng giữa Pedro I và một phái nghị viện khá lớn về vị thế của quân chủ trong chính phủ. Brasil thất bại trong Chiến tranh Cisplatina trước Liên hiệp các tỉnh Río de la Plata (Argentina) vào năm 1828, dẫn đến việc tỉnh Cisplatina ly khai (sau này trở thành Uruguay). Năm 1826, bất chấp vai trò của mình trong sự kiện Brasil độc lập, Pedro I trở thành quốc vương của Bồ Đào Nha; ông lập tức thoái vị vương vị Bồ Đào Nha để nhượng lại cho con gái trưởng là Maria. Hai năm sau, Maria bị em trai của Pedro I là Miguel đoạt quyền. Không thể giải quyết sự vụ của cả Brasil và Bồ Đào Nha, Pedro I thoái vị vương vị Brasil vào ngày 7 tháng 4 năm 1831 và lập tức khởi hành đi châu Âu để khôi phục vương vị Bồ Đào Nha cho con gái.

Người kế vị Pedro I tại Brasil là cậu con trai năm tuổi của ông, hiệu là Pedro II. Do Pedro II khi đó còn nhỏ tuổi, một chức vụ nhiếp chính ở mức độ yếu được lập ra. Khoảng trống quyền lực bắt nguồn từ việc thiếu vắng một quân chủ cai trị, là người phân xử cuối cùng các tranh chấp chính trị, dẫn đến nội chiến giữa các phái địa phương. Kế thừa một quốc gia bên bờ tan rã, Pedro II ngay khi được tuyên bố trưởng thành đã giải quyết nhằm đem đến hòa bình và ổn định cho quốc gia, cuối cùng khiến Brasil trở thành một cường quốc quốc tế mới nổi. Brasil giành chiến thắng trong ba cuộc xung đột quốc tế là Chiến tranh Plata, Chiến tranh Uruguay và Chiến tranh Paraguay trong thời gian Pedro II cai trị, và đế quốc này chiếm ưu thế trong một số tranh chấp quốc tế khác và bùng phát xung đột nội bộ. Sự thịnh vượng và phát triển về kinh tế tại Brasil thu hút một dòng người châu Âu di cư, trong đó có cả những tín đồ đạo Tin Lành và Do Thái giáo, song tín đồ Công giáo La Mã vẫn chiếm hầu hết cư dân đế quốc này. Chế độ nô lệ ban đầu trở nên phổ biến, song bị hạn chế dần theo pháp luật và đến năm 1888 thì bị bãi bỏ hoàn toàn. Nghệ thuật thị giác, văn học, và sân khấu Brasil phát triển trong giai đoạn tiến bộ này. Mặc dù chịu ảnh hưởng mạnh từ các phong cách châu Âu, từ tân cổ điển cho đến lãng mạn, song mỗi quan niệm được điều chỉnh để tạo nên một nền văn hóa Brasil độc nhất.

Hòa bình nội bộ và thịnh vượng kinh tế được duy trì trong bốn thập niên cuối Pedro II cai trị, song ông không mong muốn chế độ quân chủ tồn tại sau thời của mình và không thực hiện nỗ lực nào để duy trì ủng hộ cho thể chế. Người thuộc hàng kế vị ông là con gái Isabel, song cả Pedro II và tầng lớp cai trị đều nhận định một nữ quân chủ là không thỏa đáng. Không có người kế vị khả thi, các thủ lĩnh chính trị của đế quốc nhận thấy không có lý do để bảo vệ chế độ quân chủ. Một phái gồm các nhà lãnh đạo trong quân đội tiến hành đảo chính bất ngờ, buộc Hoàng đế phải thoái vị vào ngày 15 tháng 11 năm 1889 sau 58 năm trị vì, mục đich của họ là thành lập một nước cộng hòa do một nhà độc tài đứng đầu, hình thành Đệ nhất Cộng hòa Brasil.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Độc lập và những năm sơ khởi[sửa | sửa mã nguồn]

Pedro Álvares Cabral đổ bộ Brasil năm 1500.

Bồ Đào Nha yêu sách lãnh thổ nay là Brasil vào ngày 22 tháng 4 năm 1500, khi nhà hàng hải Pedro Álvares Cabral đổ bộ tại bờ biển nơi đây.[1] Người Bồ Đào Nha tiến hành định cư thường xuyên bắt đầu vào năm 1532, và trong 300 năm sau đó họ khuếch trương về phía tây với tốc độ chậm cho đến khi vươn tới gần như toàn bộ biên giới Brasil hiện tại.[2] Năm 1808, quân đội của Hoàng đé Napoléon I xâm chiếm Bồ Đào Nha, buộc vương tộc Braganza của Bồ Đào Nha phải lưu vong. Họ tái lập triều đình tại thành phố Rio de Janeiro của Brasil, nơi này trở thành trị sở phi chính thức của Đế quốc Bồ Đào Nha.[3]

Năm 1815, thái tử Bồ Đào Nha là João (về sau là João VI), đang giữ vai trò nhiếp chính, lập ra Vương quốc Liên hiệp Bồ Đào Nha, Brasil và Algarves, địa vị của Brasil được thăng từ thuộc địa thành vương quốc. Ông đăng cơ vương vị Bồ Đào Nha vào năm 1816, sau khi mẹ là Maria I từ trần. João VI trở về Bồ Đào Nha vào tháng 4 năm 1821, để lại con trai và người kế vị của mình là Pedro cai trị Brasil với địa vị người nhiếp chính.[4][5] Chính phủ Bò Đào Nha lập tức hành động nhằm thu hồi quyền tự trị mà Brasil được ban cho từ năm 1808.[6][7] Mối đe dọa về việc mất đi quyền kiểm soát hạn chế đối với nội vụ đã kích động người Brasil phản đối rộng khắp. José Bonifácio de Andrada cùng với các thủ lĩnh người Brasil khác thuyết phục Pedro tuyên bố Brasil độc lập từ Bồ Đào Nha vào ngày 7 tháng 9 năm 1822.[8][9] Ngày 12 tháng 10, vương tử được tôn làm Pedro I, trở thành hoàng đế đầu tiên của Đế quốc Brasil mới thành lập, với một chế độ quân chủ lập hiến.[10][11] Các đơn vị quân sự vũ trang trung thành với Bồ Đào Nha tiến hành phản đối tuyên bố độc lập trên khắp Brasil. Chiến tranh hậu độc lập diễn ra trên khắp đế quốc, có các trận đánh tại các khu vực miền bắc, đông bắc và miền nam. Các binh sĩ Bồ Đào Nha cuối cùng đầu hàng vào tháng 3 năm 1824,[12][13] và Bồ Đào Nha công nhận độc lập của Brasil vào tháng 8 năm 1825.[14]

Pedro I phải đương đầu với một số cuộc khủng hoảng trong thời gian ông cai trị. Một cuộc phản loạn ly khai tại tỉnh Cisplatina vào đầu năm 1825, sau đó Liên hiệp các tỉnh Río de la Plata (nay là Argentina) nỗ lực nhằm sáp nhập Cisplatina khiến đế quốc tham gia Chiến tranh Cisplatina: "một cuộc chiến trường kỳ, không vinh quang, và rốt cuộc vô ích tại phương nam".[15] Trong tháng 3 năm 1826, João VI từ trần và Pedro I kế thừa vương vị Bồ Đào Nha, tng một thời gian ngắn ông trở thành Quốc vương Pedro IV của Bồ Đào Nha trước khi thoái vị để nhượng lại vương vị cho con gái trưởng là Maria II.[16] Tình hình xấu đi vào năm 1828 khi chiến tranh tại phương nam kết thúc với kết quả là Brasil để mất Cisplatina, lãnh thổ này trở thành quốc gia Uruguay độc lập.[17] Tại Lisboa trong cùng năm, em trai của Pedro I là Thân vương Miguel đoạt vương vị của Maria II.[18]

Các khó khăn khác nổi lên khi nghị viện của đế quốc khai mạc vào năm 1826. Pedro I cùng một tỷ lệ đáng kể nghị viên tranh luận ủng hộ về hệ thống tư pháp độc lập, một nghị viện tuyển cử đại chúng và một chính phủ do hoàng đế lãnh đạo, hoàng đế nắm giữ các quyền hành chính tổng thể và đặc quyền.[19] Các nghị viên khác tranh luận ủng hộ một cấu trúc tương tự, chỉ khác là vị thế của quân chủ có ảnh hưởng ít hơn và nhánh lập pháp chiếm ưu thế trong chính sách và cai quản.[20] Cuộc đấu tranh về việc hoàng đế hay nghị viện chi phối chính phủ chuyển thành các cuộc tranh luận từ năm 1826 đến năm 1831 về xác lập cấu trúc chính phủ và chính trị.[15] Không thể đồng thời giải quyết các vấn đề tại Brasil và Bồ Đào Nha, ngày 7 tháng 4 năm 1831 Hoàng đế thoái vị để nhượng vương vị cho con trai là Pedro II và lập tức lên thuyền sang châu Âu để phục vị cho con gái.[21]

Hỗn loạn[sửa | sửa mã nguồn]

Nơi đặt trụ sở của chính phủ Đế quốc Brasil, năm 1840

Sau khi Pedro I vội vàng rời đi, Brasil có nguyên thủ quốc gia là một bé trai năm tuổi. Do không có tiền lệ, Đế quốc phải đối diện với viễn cảnh về một giai đoạn kéo dài hơn 12 năm không có quyền hành pháp mạnh, do theo hiến pháp phải đến ngày 2 tháng 12 năm 1843 Pedro II mới không đến tuổi thành niên và bắt đầu thi hành quyền lực của hoàng đế.[22] Một người nhiếp chính được lựa chọn để cai trị quốc gia trong giai đoạn quá độ. Do người nhiếp chính nắm giữ ít thi hành quyền lực của hoàng đế và hoàn toàn phụ thuộc Đại hội đồng, nên ông không thể lấp đầy khoảng trống tại thượng tầng chính phủ Brasil.[23]

Người nhiếp chính tỏ ra không thể giải quyết các tranh chấp và kình địch giữa các phái chính trị quốc gia và địa phương. Tin tưởng rằng trao cho chính quyền cấp tỉnh và địa phương quyền tự trị lớn hơn sẽ giúp chế ngự bất đồng đang lớn dần, Đại hội đồng thông qua một tu chính án hiến pháp vào năm 1834, mang tên Ato Adicional (Đạo luật Bổ sung). Tuy nhiên, thay vì kết thúc tình trạng hỗn loạn, các quyền lực mới này chỉ thúc đẩy cho các tham vọng và kình địch địa phương. Bạo lực bùng phát trên toàn quốc.[24] Các đảng địa phương cạnh tranh với mức độ tàn bạo mới nhằm chi phối chính quyền cấp tỉnh thành, do bất kỳ đảng nào chi phối tỉnh cũng sẽ giành quyền kiểm soát hệ thống tuyển cử và chính trị. Các đảng thất cử nổi loạn và nỗ lực nắm quyền bằng vũ lực, kết quả là một số cuộc nổi loạn.[25]

Các chính trị gia lên nắm quyền trong thập niên 1830 đễn lúc này trở nên quen thuộc với các khó khăn và cạm bẫy quyền lực. Theo sử gia Roderick J. Barman, đến năm 1840 "họ đã mất toàn bộ niềm tin vào năng lực của mình trong việc tự cai trị quốc gia. Họ chấp thuận Pedro II trong vị thế một nhân vật quyền lực, sự hiện diện của ông là điều không thể thiếu đối với sự sống còn của quốc gia."[26] Một vài trong số các chính trị gia này (những người hình thành Đảng Bảo thủ trong thập niên 1840) tin tưởng rằng một nhân vật trung lập là điều cần thiết, một người có thể đứng trên các phái chính trị và lợi ích tầm thường để đối thoại với bất đồng và tiết chế tranh chấp.[27] Họ hình dung một hoàng đế phụ thuộc nhiều hơn vào cơ quan lập pháp so với chế độ quân chủ lập hiến mà Pedro I hình dung, song với quyền lực lớn hơn so với vị thế mà những kình địch của họ (về sau hình thành Đảng Tự do) chủ trương vào đầu thời kỳ nhiếp chính.[28] Tuy nhiên, những người tự do trù tính thông qua một sáng kiến nhằm hạ thấp tuổi thành niên của Pedro II từ 18 xuống 14. Hoàng đế được tuyên bố thích hợp để cai trị vào tháng 7 năm 1840.[29]

Củng cố[sửa | sửa mã nguồn]

Recife là thủ phủ của Pernambuco tại đông bắc Brasil, hai năm sau khi kết thúc khởi nghĩa Praieira

Nhằm đạt được các mục tiêu của mình, những người tự do liên kết với một nhóm gồm các công vụ viên cao cấp trong cung và các chính trị gia nổi bật: "Phái Triều thần". Thành viên phái này nằm trong phạm vi thân cận của Hoàng đế và thiết lập ảnh hưởng đối với ông,[30] tạo điều kiện cho việc bổ nhiệm các nội các tự do-triều thần liên tiếp nhau. Tu nhiên, ưu thế của họ kéo dài ngắn ngủi. Đến năm 1846, Pedro II đã trưởng thành về thể chất và tinh thần. Không còn là một cậu bé 14 tuổi bất an chịu ảnh hưởng từ tin đồn nhảm, các đề xuất có tính âm mưu bí mật, và các sách lược vận động khác,[31] Các nhược điểm của hoàng đế trẻ tuổi mất dần đi và độ mạnh bạo trong tính cách trở nên rõ rệt.[31] Ông sắp đặt thành công việc kết thúc ảnh hưởng của triều thần bằng cách loại bỏ họ khỏi phạm vi thân cận của mình mà không gây bất kỳ rối loạn công khai nào.[32] Ông cũng giải tán những người tự do vốn tỏ ra vô tích sự khi giữ chức vụ, và kêu gọi những người bảo thủ thành lập một chính phủ vào năm 1848.[33]

Năng lực của Hoàng đế và nội các bảo thủ mới bổ nhiệm được thử thách qua ba cuộc khủng hoảng trong giai đoạn từ 1848 đến 1852.[34] Cuộc khủng hoảng đầu tiên là đối phó với nhập khẩu lậu nô lệ. Nhập khẩu nô lệ bị cấm chỉ vào năm 1826 theo một hiệp định với Anh Quốc.[33] Tuy nhiên, việc buôn người tiếp tục mà không giảm đi, và khi Anh Quốc thông qua Đạo luật Aberdeen năm 1845 thì các chiến hạm Anh Quốc được phép cho người nhảy sang tàu của Brasil và bắt giữ bất kỳ ai bị phát hiện là tham dự mua bán nô lệ.[35] Trong khi Brasil phải vật lộn với vấn đề này, khởi nghĩa Praieira bùng phát vào ngày 6 tháng 11 năm 1848, đây là mọ cuộc xung đột giữa các phái chính trị địa phương trong tỉnh Pernambuco, song bị trấn áp vào tháng 3 năm 1849. Đây là cuộc nổi loạn cuối cùng diễn ra thời chế độ quân chủ, và nó kết thúc đáng dấu bắt đầu bốn mươi năm hòa bình nội bộ tại Brasil. Luật Eusébio de Queirós được ban hành vào ngày 4 tháng 9 năm 1850, trao cho chính phủ quyền lực rộng để chiến đấu với nạn mua bán nô lệ bất hợp pháp. Với công cụ mới này, Brasil hành động nhằm diệt trừ nhập khẩu nô lệ, và đến năm 1852 cuộc khủng hoảng đầu tiên này kết thúc, với việc Anh Quốc chấp thuận rằng nạn mua bán này đã được ngăn chặn.[36]

Cuộc khủng hoảng thứ ba là xung đột với Liên bang Argentina về uy thế tại các lãnh thổ lân cận Río de la Plata và thông hành tự do trên thủy đạo này.[37] Kể từ thập niên 1830, nhà độc tài Juan Manuel de Rosas tại Argentina ủng hộ các cuộc khởi nghĩa tại Uruguay và Brasil. Đế quốc không thể đối phó với mối đe dọa do Rosas gây ra cho đến năm 1850,[37] khi hình thành một liên minh giữa Brasil, Uruguay và những người Argentina bất mãn,[37] dẫn đến Chiến tranh Plata và sau đó là sự kiện người cai trị Argentina bị phế truất tng tháng 2 năm 1852.[38][39] Do vượt qua thành công các cơn khủng hoảng này, Brasil nâng cao đáng kể độ ổn định và uy tín quốc gia, nổi lên thành một cường quốc Tây bán cầu.[40] Trên phương diện quốc tế, người châu Âu nhận thấy quóc gia này như là hiện thân của các lý tưởng tự do quen thuộc, như tự do báo chí và tôn trọng theo hiến pháp các quyền tự do dân sự. Chế độ quân chủ nghị viện đại diện tại Brasil cũng hoàn toàn tương phản với đặc điểm pha trộn giữa độc tài và bất ổn tại các quốc gia khác tại Nam Mỹ đồng thời kỳ.[41]

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu máy xe lửa Pequenina tại tỉnh Bahia, khoảng năm 1859

Đầu thập niên 1850, Brasil có được ổn định nội bộ và kinh tế phồn vinh.[42] Cơ sở hạ tầng quốc gia được phát triển, việc tiến hành xây dựng các tuyến đường sắt, điện báo và tàu hơi nước giúp liên kết Brasil thành một thực thể quốc gia cố kết.[42] Sau 5 năm cầm quyền, nội các bảo thủ thành công được giải thể và đến tháng 9 năm 1853, thủ lĩnh Đảng Bảo thủ là Hầu tước xứ Paraná-Honório Hermeto Carneiro Leão được giao nhiệm vụ thành lập một nội các mới.[43] Hoàng đế Pedro II muốn thúc đẩy một kế hoạch tham vọng, được gọi là "Sự hòa giải",[44] nhằm mục tiêu tăng cường vị thế của nghị viện trong giải quyết các tranh chấp chính trị của quốc gia.[43][45]

Hầu tước xứ Paraná mời một số người tự do gia nhập hàng ngũ bảo thủ và đi xa đến mức chỉ định một số người làm bộ trưởng. Nội các mới có thành công cao độ, song bị quấy rầy từ ban đầu trước phản đối mãnh liệt từ các thành viên bảo thủ cực đoan trong Đảng Bảo thủ do họ bác bỏ các thành viên tự do mới trong nội các. Họ cho rằng nội các đã biến thành một cỗ máy chính trị bị phá hoại khi mà các nhân vật tự do đổi phe vốn không thực tâm chia sẻ các tư tưởng của đảng và chủ yếu quan tâm đến việc giành được chức vụ công.[46] Bất chấp hồ nghi này, Bá tước xứ Paraná thể hiện tính kiên cường trong việc đẩy lui các mối đe dọa và khắc phục các chướng ngại và khó khăn.[47][48] Tuy nhiên, đến tháng 9 năm 1856, Bá tước xứ Paraná đột ngột từ trần tại đỉnh cao sự nghiệp, song nội các tồn tại cho đến tháng 5 năm 1857.[49]

Đảng Bảo thủ bị phân chia làm hai nửa: một bên là những người bảo thủ cực đoan, bên còn lại là những người bảo thủ ôn hòa ủng hộ Hòa giải.[50] Lãnh đạo những người bảo thủ cực đoan là Tử tước xứ Itaboraí- Joaquim Rodrigues Torres, Eusébio de Queirós và Tử tước xứ Uruguai- Paulino Soares de Sousa, họ đều là cựu bộ trưởng trong nội các 1848–1853. Các chính khách lão luyện này nắm quyền kiểm soát Đảng Bảo thủ sau khi Bá tước xứ Paraná từ trần.[51] Trong những năm sau năm 1857, không nội các nào tồn tại được lâu, nguyên do là thiếu thế đa số trong Chúng nghị viện.

Các thành viên còn lại của Đảng Tự do vốn đã suy yếu từ khi đảng sụp đổ vào năm 1848 và khởi nghĩa Praieira vào năm 1849, nay nắm bắt thời cơ được cho là Đảng Bảo thủ sắp sụp đổ để trở lại chính trường quốc gia với sức mạnh mới. Họ giáng một đòn mạnh lên chính phủ khi giành được một số ghế trong Chúng nghị viện vào năm 1860.[52] Khi nhiều người bảo thủ ôn hòa ly khai để hợp nhất vớinhững người tự do nhằm hình thành một chính đảng mới mang tên "Liên minh Tiến bộ",[53] thế nắm giữ quyền lực của phái bảo thủ trở nên không bền vững do thiếu đa số chi phối khả thi trong nghị viện. Nọi các từ chức, và đến tháng 5 năm 1862 Pedro II bổ nhiệm một nội các tiến bộ.[54] Giai đoạn từ năm 1853 là mọt thời kỳ hòa bình và phồn vinh của Brasil: "Hệ thống chính trị vận hành thông suốt. Các quyền tự do dân sự được duy trì. Một sự khởi đầu trong việc đưa các tuyến đường sắt, điện báo và tàu hơi nước đến Brasil. Quốc gia không còn rối loạn do các tranh chấp và xung đột như đã từng bị rung chuyển trong ba mươi năm đầu."[55]

Chiến tranh Paraguay[sửa | sửa mã nguồn]

Pháo binh Brasil tại chiến trường trong Chiến tranh Paraguaya, 1866

Giai đoạn tĩnh lặng này kết thúc khi lãnh sự Anh Quốc tại Rio de Janeiro suýt châm ngòi một cuộc chiến giữa Anh Quốc và Brasil. Ông gửi mọt tối hậu thư gồm các yêu cầu có tính lăng mạ phát sinh từ hai sự kiện nhỏ vào cuối năm 1861 và đầu năm 1862.[56] Chính phủ Brasil cự tuyệt khuất phục, và lãnh sự ban lệnh cho các chiến hạm Anh Quốc bắt giữ các thương thuyền của Brasil làm tài sản bồi thường.[57] Brasil chuẩn bị cho xung đột sắp xảy đến,[58][59] và lực lượng tuần duyên được cấp phép khai hỏa vào bất kỳ chiến hạm Anh Quốc nào cố tình bắt giữ các thương thuyền của Brasil.[60] Chính phủ Brasil sau đó đoạn tuyệt quan hệ ngoại giao với Anh Quốc vào tháng 6 năm 1863.[61]

Do chiến tranh với Đế quốc Anh còn mơ hồ, Brasil chuyển chú ý của mình đến biên giới phương nam. Cuộc nội chiến khác bắt đầu tại Uruguay khi các chính đảng tại đây kình chống nhau.[62] Xung đột nội bộ tại đó dẫn đến các vụ sát hại người Brasil và tài sản của họ tại Uruguay bị cướp bóc.[63] Nội các tiến bộ của Brasil quyết định can thiệp và phái một đạo quân đi xâm chiếm Uruguay trong tháng 12 năm 1864, khởi đầu Chiến tranh Uruguay ngắn ngủi.[64] Nhà độc tài tại Paraguay láng giềng là Francisco Solano López tận dụng tình thế Uruguay để biến quốc gia của mình thành một cường quốc khu vực. Trong tháng 11 cùng năm, ông lệnh cho bắt giữ một tàu hơi nước dân sự của Brasil, gây nên Chiến tranh Paraguay, và sau đó xâm chiếm Brasil.[65][66]

Mặc dù ban đầu có vẻ là một cuộc can thiệp quân sự ngắn gọn và đơn giản, song nó diễn biến thành một cuộc chiến toàn diện tại khu vực đông nam của Nam Mỹ. Tuy nhiên, khả năng xung đột trên hai mặt trận (với Anh Quốc và Paraguay) mất dần khi vào tháng 9 năm 1865, chính phủ Anh Quốc cử một phái viên đến xin lỗi công khai về khủng hoảng giữa hai đế quốc.[67][68] Cuộc xâm chiếm của Paraguay vào năm 1864 dẫn đến mọt cuộc xung đột lâu hơn dự kiến, và niềm tin vào năng lực của nội các tiến bộ trong việc tiến hành chiến tranh không còn nữa.[69] Ngoài ra, từ khi bắt đầu, Liên minh Tiến bộ đã gặp trở ngại do xung đột nội bộ giữa các phái hình thành từ các cựu thành viên bảo thủ ôn hòa và cựu thành viên tự do.[69][70]

Nội các từ chức và Hoàng đế bổ nhiệm Tử tước xứ Itaboraí đã lớn tuổi làm người đứng đầu nội các mới vào tháng 7 năm 1868, đánh dấu những người bảo thủ trở lại nắm quyền.[71] Điều này thúc đẩy cả hai phái tiến bộ bỏ sang bên các khác biệt, khiến họ đặt lại tên cho đảng là Đảng Tự do. Một phái tiến bộ thứ ba, nhỏ hơn và cấp tiến đã tuyên bố bản thân ủng hộ chế độ cộng hòa vào năm 1870—một điềm xấu đối với chế độ quân chủ.[72] Tuy thế, "chính phủ nội các do Tử tước xứ Itaboraí thành lập là một thể chế có năng lực vượt xa nội các mà nó thay thế"[71] và xung đột với Paraguay kết thúc trong tháng 3 năm 1870 với thắng lợi toàn thể của Brasil và các đồng minh của họ.[73] Trên 50.000 binh sĩ Brasil thiệt mạng,[74] và phí tổn chiến tranh cao gấp 11 lần so với ngân sách thường niên của chính phủ.[75] Tuy nhiên, do Brasil rất phồn vinh nên chính phủ có thể thoát nợ chiến tranh chỉ trong mười năm.[76][77] Xung đột cũng kích thích sản xuất quốc gia và tăng trưởng kinh tế.[78]

Cực thịnh[sửa | sửa mã nguồn]

Một nhóm nô lệ lớn tụ tập tại một trang trại thuộc tỉnh Minas Gerais, 1876

Chiến thắng ngoại giao trước Đế quốc Anh và chiến thắng quân sự trước Uruguay vào năm 1865, tiếp đến là kết thúc thắng lợi trng chiến tranh với Paraguay vào năm 1870, đánh dấu khởi đầu "thời đại hoàng kim" của Đế quốc Brasil.[79] Kinh tế Brasil tăng trưởng nhanh chóng; đường sắt, tàu thủy và các dự án hiện đại hóa khác được khởi động; nhập cư phát triển mạnh.[80] Đế quốc bắt đầu được quốc tế biết đến là một quốc gia hiện đại và phồn vinh, chỉ xếp sau Hoa Kỳ tại châu Mỹ; là nơi có kinh tế ổn định về chính trị cùng một tiềm năng đầu tư tốt.[79]

Trong tháng 3 năm 1871, Pedro II bổ nhiệm nhân vật bảo thủ là Tử tước xứ Rio Branco- José Paranhos làm người đứng đầu nội các, mục tiêu chính của người này là thông qua một luật nhắm lập tức giải phóng cho toàn bộ trẻ em sinh ra từ các bà mẹ là nô lệ.[81] Dự luật gây tranh luận này được đưa ra Chúng nghị viện trong tháng 5 và đối diện với một sự phản đối kiên quyết từ khoảng một phần ba số đại biểu ủng hộ, họ còn tạo dư luận quần chúng chống đối.[82] Dự luật cuối cùng được ban hành trong tháng 9 và được gọi là "Luật Ra đời tự do".[82] Tuy nhiên, thành công của Tử tước xứ Rio Branco gây tổn thất nghiêm trọng đến ổn định chính trị trường kỳ của Đế quốc. Điều luật "phân chia những người bảo thủ làm hai nửa, một phái trong đảng ủng hộ các cải cách của nội các Tử tước xứ Rio Branco, trong khi phái thứ hai mang tên escravocratas (lãnh đạo phái ủng hộ chế độ nô lệ) không nguôi phản đối", hình thành một thế hệ bảo thủ cực đoan mới.[83]

"Luật Ra đời tự do" cùng sự ủng hộ của Pedro II dành cho nó khiến lòng trung thành vô điều kiện của những người bảo thủ cực đoan đối với chế độ quân chủ bị mất đi.[83] Đảng Bảo thủ trải qua phân tranh nghiêm trọng từ trước đó, trong thập niên 1850, khi Hoàng đế hoàn toàn ủng hộ chính sách hòa giải và khiến Đảng Tiến bộ nổi lên. Các nhân vật bảo thủ cực đoan dưới sự lãnh đạo của Eusébio, Uruguai và Itaboraí, những người phản đối hòa giải trong thập niên 1850 tuy thế vẫn tin rằng Hoàng đế không thể thiếu chức năng trong hệ thống chính trị: Hoàng đế là người phân xử tối hậu và công bằng khi bế tắc chính trị uy hiếp.[84] Ngược lại, thế hệ bảo thủ cực đoan mới này không trải qua thời kỳ nhiếp chính và những năm đầu Pedro II cai trị, khi các nguy cơ ngoại vụ và nội vụ uy hiếp ngay sự tồn tại của quốc gia; họ chỉ biết đến phồn vinh, hòa bình và một chính phủ ổn định.[26] Đối với họ—và với tầng lớp cai trị nói chung—sự hiện diện của một quân chủ trung lập, người có thể giải quyết các tranh chấp chính trị là điều không còn quan trọng. Hơn thế, kể từ khi Pedro II tỏ rõ lập trường chính trị trong vấn đề nô lệ, ông đã làm tổn hại đến vị thế trọng tài trung lập của mình. Những chính trị gia bảo thủ cực đoan trẻ tuổi nhận thấy không có lý do để tán thành hay bảo vệ chức hoàng đế.[85]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Viana 1994, tr. 42–44
  2. ^ Viana 1994, tr. 59, 65, 66, 78, 175, 181, 197, 213, 300
  3. ^ Barman 1988, tr. 43–44
  4. ^ Barman 1988, tr. 72
  5. ^ Viana 1994, tr. 396
  6. ^ Barman 1988, tr. 75, 81–82
  7. ^ Viana 1994, tr. 399, 403
  8. ^ Viana 1994, tr. 408–408
  9. ^ Barman 1988, tr. 96
  10. ^ Viana 1994, tr. 417–418
  11. ^ Barman 1988, tr. 101–102
  12. ^ Viana 1994, tr. 420–422
  13. ^ Barman 1988, tr. 104–106
  14. ^ Barman 1988, tr. 128
  15. ^ a ă Barman 1988, tr. 131
  16. ^ Barman 1988, tr. 142
  17. ^ Barman 1988, tr. 151
  18. ^ Barman 1988, tr. 148–149
  19. ^ Barman 1999, tr. 18–19
  20. ^ Barman 1999, tr. 19
  21. ^ Barman 1988, tr. 159
  22. ^ Barman 1988, tr. 160
  23. ^ Barman 1988, tr. 161–163
  24. ^ Barman 1999, tr. 61
  25. ^ Barman 1988, tr. 179–180
  26. ^ a ă Barman 1999, tr. 317
  27. ^ Barman 1999, tr. 64
  28. ^ Barman 1999, tr. 58
  29. ^ Barman 1999, tr. 68–73
  30. ^ Barman 1999, tr. 49
  31. ^ a ă Barman 1999, tr. 109
  32. ^ Barman 1999, tr. 114
  33. ^ a ă Barman 1999, tr. 123
  34. ^ Barman 1999, tr. 122
  35. ^ Barman 1999, tr. 122–123
  36. ^ Barman 1999, tr. 124
  37. ^ a ă â Barman 1999, tr. 125
  38. ^ Barman 1999, tr. 126
  39. ^ Carvalho 2007, tr. 102–103
  40. ^ Levine 1999, tr. 63–64
  41. ^ See:
  42. ^ a ă Barman 1999, tr. 159
  43. ^ a ă Vainfas 2002, tr. 343
  44. ^ Lira 1977, Vol 1, tr. 182
  45. ^ Barman 1999, tr. 162
  46. ^ See:
  47. ^ Barman 1999, tr. 166
  48. ^ Nabuco 1975, tr. 162
  49. ^ Nabuco 1975, tr. 313
  50. ^ Nabuco 1975, tr. 346, 370, 373, 376
  51. ^ Nabuco 1975, tr. 346
  52. ^ Nabuco 1975, tr. 364–365
  53. ^ Nabuco 1975, tr. 378
  54. ^ Nabuco 1975, tr. 374–376
  55. ^ Barman 1999, tr. 192
  56. ^ See:
  57. ^ See:
  58. ^ Calmon 1975, tr. 680
  59. ^ Doratioto 2002, tr. 98, 203
  60. ^ Calmon 1975, tr. 684
  61. ^ See:
  62. ^ See:
  63. ^ Lira 1977, Vol 1, tr. 220
  64. ^ See:
  65. ^ Carvalho 2007, tr. 109
  66. ^ Lira 1977, Vol 1, tr. 227
  67. ^ Calmon 1975, tr. 748
  68. ^ Lira 1977, Vol 1, tr. 237
  69. ^ a ă Barman 1999, tr. 222
  70. ^ Nabuco 1975, tr. 592
  71. ^ a ă Barman 1999, tr. 223
  72. ^ Nabuco 1975, tr. 666
  73. ^ Barman 1999, tr. 229–230
  74. ^ Doratioto 2002, tr. 461
  75. ^ Doratioto 2002, tr. 462
  76. ^ Calmon 2002, tr. 201
  77. ^ Munro 1942, tr. 276
  78. ^ Barman 1999, tr. 243
  79. ^ a ă Lira 1977, Vol 2, tr. 9
  80. ^ Barman 1999, tr. 240
  81. ^ Barman 1999, tr. 235
  82. ^ a ă Barman 1999, tr. 238
  83. ^ a ă Barman 1999, tr. 261
  84. ^ Barman 1999, tr. 234, 317
  85. ^ Barman 1999, tr. 318
  • Adas, Melhem (2004). Panorama geográfico do Brasil (bằng tiếng Bồ Đào Nha) (ấn bản 4). São Paulo: Moderna. ISBN 85-16-04336-3. 
  • Alencastro, Luiz Felipe de (1997). História da vida privada no Brasil: Império (bằng tiếng Bồ Đào Nha). São Paulo: Companhia das Letras. ISBN 85-7164-681-3. 
  • Azevedo, Aroldo (1971). O Brasil e suas regiões (bằng tiếng Bồ Đào Nha). São Paulo: Companhia Editora Nacional. 
  • Baer, Werner (2002). A Economia Brasileira (bằng tiếng Bồ Đào Nha) (ấn bản 2). São Paulo: Nobel. ISBN 85-213-1197-4. 
  • Barman, Roderick J. (1988). Brazil: The Forging of a Nation, 1798–1852. Stanford: Stanford University Press. ISBN 0-8047-1437-1. 
  • Barman, Roderick J. (1999). Citizen Emperor: Pedro II and the Making of Brazil, 1825–1891. Stanford: Stanford University Press. ISBN 0-8047-3510-7. 
  • Barsa (29 tháng 8 năm 1987). “Maranhão”. Enciclopédia Barsa (bằng tiếng Bồ Đào Nha) 10. Rio de Janeiro: Encyclopædia Britannica do Brasil. 
  • Besouchet, Lídia (1985) [1945]. José Maria Paranhos: Visconde do Rio Branco: ensaio histórico-biográfico (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Rio de Janeiro: Nova Fronteira. OCLC 14271198. 
  • Besouchet, Lídia (1993). Pedro II e o Século XIX (bằng tiếng Bồ Đào Nha) (ấn bản 2). Rio de Janeiro: Nova Fronteira. ISBN 85-209-0494-7. 
  • Bethell, Leslie (1993). Brazil: Empire and Republic, 1822–1930. Cambridge, United Kingdom: Cambridge University Press. ISBN 0-521-36293-8. 
  • Boxer, Charles R. (2002). O império marítimo português 1415–1825 (bằng tiếng Bồ Đào Nha). São Paulo: Companhia das Letras. ISBN 85-359-0292-9. 
  • Calmon, Pedro (1975). História de D. Pedro II (bằng tiếng Bồ Đào Nha) 1–5. Rio de Janeiro: J. Olympio. 
  • Calmon, Pedro (2002). História da Civilização Brasileira (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Brasília: Senado Federal. OCLC 685131818. 
  • Carvalho, Affonso de (1976). Caxias (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Rio de Janeiro: Biblioteca do Exército. OCLC 2832083. 
  • Carvalho, José Murilo de (1993). A Monarquia brasileira (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Rio de Janeiro: Ao Livro Técnico. ISBN 85-215-0660-0. 
  • Carvalho, José Murilo de (2002). Os Bestializados: o Rio de Janeiro e a República que não foi (bằng tiếng Bồ Đào Nha) (ấn bản 3). São Paulo: Companhia das Letras. ISBN 85-85095-13-X. 
  • Carvalho, José Murilo de (2007). D. Pedro II: ser ou não ser (bằng tiếng Bồ Đào Nha). São Paulo: Companhia das Letras. ISBN 978-85-359-0969-2. 
  • Carvalho, José Murilo de (2008). Cidadania no Brasil: o longo caminho (bằng tiếng Bồ Đào Nha) (ấn bản 10). Rio de Janeiro: Civilização Brasileira. ISBN 85-200-0565-9. 
  • Coelho, Marcos Amorim (1996). Geografia do Brasil (bằng tiếng Bồ Đào Nha) (ấn bản 4). São Paulo: Moderna. 
  • Dolhnikoff, Miriam (2005). Pacto imperial: origens do federalismo no Brasil do século XIX (bằng tiếng Bồ Đào Nha). São Paulo: Globo. ISBN 85-250-4039-8. 
  • Doratioto, Francisco (2002). Maldita Guerra: Nova história da Guerra do Paraguai (bằng tiếng Bồ Đào Nha). São Paulo: Companhia das Letras. ISBN 85-359-0224-4. 
  • Holanda, Sérgio Buarque de (1974). História Geral da Civilização Brasileira: Declínio e Queda do Império (bằng tiếng Bồ Đào Nha) (ấn bản 2). São Paulo: Difusão Européia do Livro. 
  • Ermakoff, George (2006). Rio de Janeiro – 1840–1900 – Uma crônica fotográfica (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Rio de Janeiro: G. Ermakoff Casa Editorial. ISBN 85-98815-05-5. 
  • Fausto, Boris (1995). História do Brasil (bằng tiếng Bồ Đào Nha). São Paulo: Fundação de Desenvolvimento da Educação. ISBN 85-314-0240-9. 
  • Fausto, Boris; Devoto, Fernando J. (2005). Brasil e Argentina: Um ensaio de história comparada (1850–2002) (bằng tiếng Bồ Đào Nha) (ấn bản 2). São Paulo: Editoria 34. ISBN 85-7326-308-3. 
  • Graça Filho, Afonso de Alencastro (2004). A economia do Império brasileiro (bằng tiếng Bồ Đào Nha). São Paulo: Atual. ISBN 85-357-0443-4. 
  • Graham, Richard (1994). Patronage and Politics in Nineteenth-Century Brazil. Stanford: Stanford University Press. ISBN 0-8047-2336-2. 
  • Levine, Robert M. (1999). The History of Brazil. Westport, Connecticut: Greenwood Press. ISBN 0-313-30390-8. 
  • Lyra, Heitor (29 tháng 8 năm 1977). História de Dom Pedro II (1825–1891): Ascenção (1825–1870) (bằng tiếng Bồ Đào Nha) 1. Belo Horizonte: Itatiaia. 
  • Lyra, Heitor (29 tháng 8 năm 1977). História de Dom Pedro II (1825–1891): Fastígio (1870–1880). (bằng tiếng Bồ Đào Nha) 2. Belo Horizonte: Itatiaia. 
  • Lyra, Heitor (29 tháng 8 năm 1977). História de Dom Pedro II (1825–1891): Declínio (1880–1891) (bằng tiếng Bồ Đào Nha) 3. Belo Horizonte: Itatiaia. 
  • Moreira, Igor A. G. (1981). O Espaço Geográfico, geografia geral e do Brasil (bằng tiếng Bồ Đào Nha) (ấn bản 18). São Paulo: Ática. 
  • Munro, Dana Gardner (1942). The Latin American Republics: A History. New York: D. Appleton. 
  • Nabuco, Joaquim (1975). Um Estadista do Império (bằng tiếng Bồ Đào Nha) (ấn bản 4). Rio de Janeiro: Nova Aguilar. 
  • Olivieri, Antonio Carlos (1999). Dom Pedro II, Imperador do Brasil (bằng tiếng Bồ Đào Nha). São Paulo: Callis. ISBN 85-86797-19-7. 
  • Parkinson, Roger (2008). The Late Victorian Navy: The Pre-Dreadnought Era and the Origins of the First World War. Woodbridge, Suffolk: The Boydell Press. ISBN 978-1-84383-372-7. 
  • Pedrosa, J. F. Maya (2004). A Catástrofe dos Erros: razões e emoções na guerra contra o Paraguai (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Rio de Janeiro: Biblioteca do Exército. ISBN 85-7011-352-8. 
  • Ramos, Arthur (2003). A mestiçagem no Brasil (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Maceió: EDUFAL. ISBN 85-7177-181-2. 
  • Rodrigues, José Carlos (1863). Constituição política do Império do Brasil (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Rio de Janeiro: Typographia Universal de Laemmert. 
  • Rodrigues, José Honório (1975). Independência: Revolução e Contra-Revolução – A política internacional (bằng tiếng Bồ Đào Nha) 5. Rio de Janeiro: F. Alves. 
  • Rodrigues, José Honório (1995). Uma história diplomática do Brasil, 1531–1945 (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Rio de Janeiro: Civilização Brasileira. ISBN 85-200-0391-5. 
  • Salles, Ricardo (1996). Nostalgia Imperial (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Rio de Janeiro: Topbooks. OCLC 36598004. 
  • Schwarcz, Lilia Moritz (1998). As barbas do Imperador: D. Pedro II, um monarca nos trópicos (bằng tiếng Bồ Đào Nha) (ấn bản 2). São Paulo: Companhia das Letras. ISBN 85-7164-837-9. 
  • Skidmore, Thomas E. (2003). Uma História do Brasil (bằng tiếng Bồ Đào Nha). São Paulo: Paz e Terra. ISBN 85-219-0313-8. 
  • Smith, Joseph (2010). Brazil and the United States: Convergence and Divergence. Athens, Georgia: University of Georgia Press. ISBN 978-0-8203-3733-3. 
  • Sodré, Nelson Werneck (2004). Panorama do Segundo Império (bằng tiếng Bồ Đào Nha) (ấn bản 2). Rio de Janeiro: Graphia. ISBN 85-85277-21-1. 
  • Topik, Steven C. (2000). Trade and Gunboats: The United States and Brazil in the Age of Empire. Stanford: Stanford University Press. ISBN 0-8047-4018-6. 
  • Vainfas, Ronaldo (2002). Dicionário do Brasil Imperial (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Rio de Janeiro: Objetiva. ISBN 85-7302-441-0. 
  • Vasquez, Pedro Karp (2007). Nos trilhos do progresso: A ferrovia no Brasil imperial vista pela fotografia (bằng tiếng Bồ Đào Nha). São Paulo: Metalivros. ISBN 978-85-85371-70-8. 
  • Vesentini, José William (1988). Brasil, sociedade e espaço – Geografia do Brasil (bằng tiếng Bồ Đào Nha) (ấn bản 7). São Paulo: Ática. ISBN 85-08-02340-5. 
  • Vianna, Hélio (1968). Vultos do Império (bằng tiếng Bồ Đào Nha). São Paulo: Companhia Editora Nacional. 
  • Vianna, Hélio (1994). História do Brasil: período colonial, monarquia e república (bằng tiếng Bồ Đào Nha) (ấn bản 15). São Paulo: Melhoramentos. ISBN 85-06-01999-0.