Đây là một bài viết cơ bản. Nhấn vào đây để biết thêm thông tin.

Nhà Hán

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Hán
202 TCN–9 CN
25 CN – 220 CN
Bản đồ nhà Tây Hán vào năm 2 CN[1] *      Các quận thuộc nhà Hán *      Tây Vực đô hộ phủ (Bồn địa Tarim)
Bản đồ nhà Tây Hán vào năm 2 CN[1]
Vị thếĐế quốc
Thủ đôTrường An
(206 TCN–9 CN, 190–195 CN)

Lạc Dương
(23–190 CN, 196 CN)

Hứa Xương
(196–220 CN)
Ngôn ngữ thông dụngTiếng Trung Quốc cổ
Tôn giáo chính
Đạo giáo
Tín ngưỡng dân gian Trung Hoa
Chính trị
Chính phủQuân chủ chuyên chế
Hoàng đế 
• 202–195 TCN (đầu tiên)
Hán Cao Tổ
• 141–87 TCN
Hán Vũ Đế
• 25–57 CN
Hán Quang Vũ Đế
• 189–220 CN (cuối cùng)
Hán Hiến Đế
Tể tướng 
• 206–193 TCN
Tiêu Hà
• 193–190 TCN
Cao Cán
• 189–192 CN
Đổng Trác
• 208–220 CN
Tào Tháo
• 220 CN
Tào Phi
Lịch sử
Thời kỳĐế quốc
• Hạng Vũ lập Lưu Bang làm vua thái ấp Hán Trung
206 TCN
• Trận Cai Hạ; nhà Hán làm chủ Trung Hoa
202 TCN
• Nhà Tân
9 CN–23 CN
• Nhường ngôi cho nhà Tào Ngụy
220 CN
Địa lý
Diện tích 
• 50 TCN (đỉnh cao Tây Hán)[2]
6.000.000 km2
(2.316.613 mi2)
• 100 CN (đỉnh cao Đông Hán)[2]
6.500.000 km2
(2.509.664 mi2)
Dân số 
• 2 CN[3]
57,671,400
Kinh tế
Đơn vị tiền tệĐồng Bán LưỡngNgũ Thù
Tiền thân
Kế tục
Nhà Tần
Mười tám nước
Tào Ngụy
Thục Hán
Đông Ngô
Nhà Hán
Han (Chinese characters).svg
Chữ "Hán" viết theo Triện thư (bên trái trên), theo Lệ thư thời Hán (bên phải trên), Phồn thể hiện đại (bên trái dưới), và Giản thể (bên phải dưới)
Phồn thể
Giản thể

Nhà Hán (tiếng Trung: 漢朝; bính âm: Hàncháo) là triều đại thứ hai của Trung Quốc (202 TCN - 220 CN), sáng lập bởi Lưu Bang và được cai trị bởi gia tộc Lưu. Kế tục triều đại nhà Tần ngắn ngủi (221–206 TCN) và một giai đoạn vô quân chủ gọi là Hán Sở tranh hùng (206–202 TCN). Nhà Hán bị gián đoạn một thời gian ngắn bởi nhà Tân (9–23 CN) do Vương Mãng lập ra nên bị chia cắt thành hai thời kỳ - Tây Hán (202 TCN – 9 CN) và Đông Hán (25–220 CN) rồi tiếp nối bởi gia đoạn Tam Quốc (220–280 CN). Kéo dài hơn bốn thế kỷ, triều đại nhà Hán được coi là thời kỳ hoàng kim trong lịch sử Trung Quốc, có ảnh hưởng đến bản sắc của nền văn minh Trung Hoa kể từ đó.[4] Nhóm dân tộc đa số của Trung Quốc hiện nay tự xưng là "người Hán", nhóm ngôn ngữ Sina được gọi chung là "Hán ngữ" và chữ viết của Trung Quốc được gọi là "Hán tự".[5]

Hoàng đế là trung tâm quyền lực của xã hội thời nhà Hán. Ông đứng đầu chính quyền nhà Hán, chia sẻ quyền lực với giới quý tộc và các tể tướng được bổ nhiệm, phần lớn xuất thân từ tầng lớp nho học. Đế chế nhà Hán được chia thành các khu vực do chính quyền trung ương trực tiếp kiểm soát kế thừa từ thời nhà Tần được gọi là các quận (tiếng Trung: 郡) và một số nước bán tự trị. Các nước này dần dần mất đi nền độc lập, đặc biệt là sau sự kiện loạn bảy nước. Từ triều đại của Hán Vũ Đế (k. 141–87 TCN) trở đi, nhà nước chính thức bảo trợ Nho giáo trong giáo dục và chính trị triều đình cùng với vũ trụ quan của các học giả sau này như Đổng Trọng Thư. Chính sách này kéo dài cho đến khi nhà Thanh sụp đổ năm 1912.

Nền kinh tế phát triển đáng kể dưới thời Hán và chứng kiến sự phát triển của nền kinh tế tiền tệ được thiết lập lần đầu tiên dưới triều đại nhà Chu (k. 1050–256 TCN). Tiền đúc do chính quyền trung ương phát hành vào năm 119 TCN vẫn là tiền đúc tiêu chuẩn của Trung Quốc cho đến thời nhà Đường (618–907 CN). Thời kỳ này chứng kiến một số đổi mới thể chế hạn chế. Để tài trợ cho các chiến dịch quân sự và chinh phục các lãnh thổ biên cương mới, triều đình Hán quốc hữu hóa các ngành muối và sắt vào năm 117 TCN nhưng nắm độc quyền các ngành này bị bãi bỏ vào thời Đông Hán. Khoa học và công nghệ thời Hán đạt được những thành tựu đáng kể, bao gồm quá trình sản xuất giấy, đuôi lái ở đáy thuyền đi biển, sử dụng số âm trong toán học, bản đồ địa hình, hỗn thiên nghi (thiên cầu) chạy bằng thủy lực dùng cho thiên văn họcđịa chấn kế dùng con lắc đảo để tìm ra địa điểm của các trận động đất ở xa.

Hung Nô là một liên minh du mục ở thảo nguyên Á-Âu luôn quấy nhiễu nhà Hán ở phương Bắc. Hán Vũ Đế đã phát động nhiều chiến dịch quân sự chống lại họ. Thắng lợi của nhà Hán trong các chiến dịch này đã buộc người Hung Nô phải chấp nhận địa vị chư hầu và phải triều cống cho nhà Hán. Các chiến dịch này cũng mở rộng chủ quyền của người Hán đối với bồn địa TarimTrung Á, chia rẽ liên minh Hung Nô thành hai thể riêng biệt và giúp thiết lập mạng lưới thương mại con đường Tơ lụa, vươn tới thế giới Địa Trung Hải. Các vùng lãnh thổ biên giới phía bắc của nhà Hán nhanh chóng bị liên minh du mục người Tiên Ti đánh chiếm. Hán Vũ Đế cũng đã phát động các cuộc viễn chinh quân sự thành công ở phía nam, sáp nhập Nam Việt năm 111 TCN, nước Điền năm 109 TCN và ở Bán đảo Triều Tiên, nơi các quận Huyền ThốLạc Lãng được thành lập năm 108 TCN. Sau năm 92 CN, các hoạn quan trong cung ngày càng can thiệp vào các cuộc tranh giành quyền lực giữa các ngoại thích của các hoàng hậuhoàng thái hậu, gây lục đục nội bộ. Quyền lực của đế quốc cũng bị thách thức nghiêm trọng bởi các tổ chức Đạo giáo lớn kích động Khởi nghĩa Khăn VàngKhởi nghĩa Thiên sư Đạo. Sau khi Hán Linh Đế băng hà (k. 168–189 CN), các hoạn quan trong cung bị các quan quân tàn sát, cho phép tầng lớp quý tộc và các tướng lĩnh quân đội trở thành lãnh chúa và xâu xé đế quốc ra làm trăm mảnh. Khi Tào Phi (vua nước Ngụy) cướp ngôi Hán Hiến Đế, nhà Hán chính thức sụp đổ.

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Sử ký Tư Mã Thiên, sau sự sụp đổ của nhà Tần, bá quyền Hạng Vũ đã bổ nhiệm Lưu Bang làm Hán Vương của thái ấp non trẻ Hán Trung, được đặt tên theo vị trí của nó trên sông Hán Thủy (ở phía tây nam của tỉnh Thiểm Tây). Sau chiến thắng của Lưu Bang trong chiến tranh Hán-Sở, hệ quả là nhà Hán được đặt theo tên của thái ấp Hán Trung.[6]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tây Hán[sửa | sửa mã nguồn]

Ảnh trái: Bình gốm trang trí thời Tây Hán với hình long phụng và thao thiết
Ảnh phải: Mặt lật lại của một gương đồng thời Tây Hán với hoa văn trang trí
Mười ba quận trực tiếp nằm dưới sự cai trị của nhà Hán (màu vàng) và mười nước bán tự trị thời kì đầu, 195 TCN

Triều đại đế quốc đầu tiên của Trung Hoa là nhà Tần (221–207 TCN). Nhà Tần thống nhất toàn bộ Trung Hoa nhưng suy vong sau cái chết của Tần Thủy Hoàng. Trong vòng bốn năm sau đó, vương triều sụp đổ hoàn toàn trước sức ép của các cuộc khởi nghĩa.[7] Hai thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa là Hạng Vũ (232–202 TCN) nước Sở và Lưu Bang (256-195 TCN) đất Hán tranh bá và Trung Hoa bị chia cắt thành 18 tiểu quốc lớn nhỏ.[8] Lưu Bang đánh bại Hạng Vũ tại trận Cai Hạ thuộc An Huy ngày nay năm 202 TCN. Lưu Bang lên ngôi "hoàng đế" (phồn thể: 黃帝) hiệu là Hán Cao Tổ (khoảng 202–195 TCN). [9] Trường An (nay là Tây An) được chọn làm nơi đóng đô.[10]

Vào đầu thời Tây Hán (phồn thể: 西漢; giản thể: 西汉; bính âm: Xīhàn), còn gọi là Tiền Hán (phồn thể: 前漢; giản thể: 前汉; bính âm: Qiánhàn), vùng đất phía tây chia làm 13 quận (kể cả kinh đô), trực tiếp nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền trung ương còn 2/3 phía đông chia thành 10 tiểu quốc lệ thuộc.[11] Để xoa dịu các tướng lĩnh thời chiến tranh Hán-Sở, Cao Tổ phong nhiều kẻ lên làm vương các vùng đất phía đông. Tới năm 196 TCN, triều đình nhà Hán đã thay thế hầu hết tất cả các vị vua này (ngoại trừ đất Trường Sa) bằng các thành viên hoàng tộc họ Lưu để củng cố quyền lực.[11] Sau một số cuộc nổi dậy của các tiểu quốc này, lớn nhất là loạn bảy nước vào năm 154 TCN, triều đình đã thực hiện cải cách bắt đầu từ năm 145 TCN trở đi để hạn chế quy mô, quyền lực của các nước này và phân chia chúng thành các quận mới do trung ương kiểm soát.[12] Vua các nước không còn quyền bổ nhiệm quan chức.[13] Vua trở thành người sở hữu trên danh nghĩa của các thái ấp của họ và lấy một phần thuế làm thu nhập.[12] Các tiểu quốc không bị xóa bỏ hoàn toàn và tồn tại trong suốt phần còn lại của hai triều Tây Hán và Đông Hán.[14]

Ở phía bắc Trung Quốc, thiền vu Hung Nô Mặc Đốn (khoảng 209–174 TCN) chinh phục nhiều bộ tộc sinh sống ở phía đông thảo nguyên Á-Âu. Ông kiểm soát Mãn Châu, Mông Cổbồn địa Tarim, khuất phục hơn 20 nước ở phía đông Samarkand.[15] Cao Tổ đã phải đau đầu về lượng vũ khí bằng sắt dồi dào do người Hán sản xuất bán cho người Hung Nô dọc biên giới phía bắc và khiến ông phải đóng cửa giao thương với họ.[16] Để trả đũa, quân Hung Nô xâm lược vùng ngày nay là tỉnh Sơn Tây, nơi họ đánh bại quân Hán tại Bạch Đăng vào năm 200 TCN.[17] Sau khi đàm phán hòa thân vào năm 198 TCN, trên danh nghĩa, nhà Hán coi Hung Nô và Hán ngang hàng nhau thông qua liên hôn hoàng gia nhưng nhà Hán vẫn phải gửi một lượng lớn cống phẩm như quần áo lụa, thực phẩm và rượu cho người Hung Nô.[18]

Bất chấp các triều cống và một cuộc đàm phán giữa Lão Thượng thiền vu (khoảng 174–160 TCN) và Hán Văn Đế (khoảng 180–157 TCN) để mở lại các chợ biên giới, nhiều thuộc hạ Hung Nô của Lão Thượng không tuân theo hiệp ước và liên tục cướp bóc lãnh thổ nhà Hán phía nam Vạn Lý Trường Thành.[19] Trong một hội nghị triều đình do Hán Vũ Đế (khoảng 141–87 TCN) triệu tập vào năm 135 TCN, sự đồng thuận của đa số các quan quân là giữ nguyên thỏa thuận hòa thân. Vũ Đế chấp nhận mặc cho Hung Nô tiếp tục quấy nhiễu.[20]

Tuy nhiên, một hội nghị triều đình vào năm sau đã thuyết phục họ rằng một cuộc giao tranh hạn chế tại Mã Ấp để ám sát thiền vu sẽ khiến Hung Nô rơi vào hỗn loạn.[21] Khi âm mưu này thất bại vào năm 133 TCN,[22] Vũ Đế phát động một loạt các cuộc xâm lược quy mô lớn vào lãnh thổ Hung Nô. Cuộc tấn công đạt đỉnh điểm vào năm 119 TCN tại trận Mạc Bắc, nơi các tướng Hán là Hoắc Khứ Bệnh (mất năm 117 TCN) và Vệ Thanh (mất năm 106 TCN) buộc tướng lĩnh quân Hung Nô phải tháo chạy lên phía bắc sa mạc Gobi.[23]

Sau đời Vũ Đế, quân Hán tiếp tục chiếm ưu thế trước người Hung Nô. Hô Hàn Tà thiền vu (khoảng 58–31 TCN) chịu quy phục nhà Hán vào năm 51 TCN. Kình địch của ông, Chí Chi thiền vu (khoảng 56–36 TCN), bị giết bởi Trần Thang (陳湯) và Cam Diên Thọ (甘延壽/甘延寿) trong trận Chí Chi, ở Taraz, Kazakhstan hiện nay.[24]

Nhà Hán mở rộng lãnh thổ ở thế kỷ thứ 2 TCN

Vào năm 121 TCN, quân Hán trục xuất người Hung Nô khỏi một lãnh thổ rộng lớn kéo dài từ Hành lang Hà Tây đến Lop Nur. Quân Hán đẩy lùi một cuộc xâm lược của người Hung Nô-Khương vào lãnh thổ phía tây bắc năm 111 TCN. Cùng năm đó, triều đình lập bốn quận biên cương mới ở vùng này: Tửu Tuyền, Trương Dịch, Đôn HoàngVũ Uy.[25] Phần lớn dân biên giới là binh lính.[26] Đôi khi, triều đình đưa nông dân đến các khu định cư mới, cùng những kẻ bị kết án lao động khổ sai để đồng hóa khu vực.[27] Triều đình cũng khuyến khích thường dân như nông dân, thương gia, địa chủ tự nguyện di cư ra biên cương.[28]

Phế tích của một tháp canh thời Hán đắp từ đất nện tại Đôn Hoàng, tỉnh Cam Túc, rìa phía đông của Con đường Tơ lụa.

Ngay cả trước khi nhà Hán mở rộng sang Trung Á, các chuyến đi của Trương Khiên từ năm 139 đến năm 125 TCN đã thiết lập mối liên hệ của Trung Quốc với nhiều nền văn minh lân cận. Trương Khiên đã tới Đại Uyên (Fergana), Khương Cư (Sogdiana), và Đại Hạ (Bactria, từng là Vương quốc Hy Lạp-Bactria); ông cũng thu thập thông tin về nước Quyên Độc (thung lũng sông Ấn miền Bắc Ấn Độ) và An Tây (Đế quốc Ba Tư). Tất cả các nơi này đều nhận được sứ bộ của người Hán sau này.[29] Những kết nối này đánh dấu sự khởi đầu của mạng lưới thương mại Con đường Tơ lụa kéo dài đến Đế quốc La Mã, đưa các mặt hàng của người Hán như lụa đến La Mã và hàng hóa La Mã như đồ thủy tinh đến Trung Quốc.[30]

Từ khoảng năm 115-60 TCN, quân Hán và Hung Nô tranh giành các thành bang ốc đảo ở lòng chảo Tarim. Quân Hán chiếm cứ và thành lập Tây Vực đô hộ phủ vào năm 60 TCN, bình ổn các vấn đề quốc phòng và đối ngoại tại khu vực.[31] Nhà Hán cũng lăm le mở rộng về phía nam. Chiến tranh Hán-Nam Việt năm 111 TCN đã mở rộng lãnh thổ của người Hán đến vùng ngày nay là Quảng Đông, Quảng Tâymiền Bắc Việt Nam. Vân Nam bị thôn tính trong cuộc chinh phục nước Điền vào năm 109 TCN. Một phần Bán đảo Triều Tiên thuộc Cổ Triều Tiên bị đô hộ và các quận Huyền ThốLạc Lãng được thành lập năm 108 TCN.[32] Cuộc điều tra dân số được biết đến đầu tiên của Trung Quốc được thực hiện vào năm 2 với kết quả là dân số đạt mức 57.671.400 người thuộc 12.366.470 hộ gia đình.[3]

Để tài trợ cho các chiến dịch quân sự và thâu tóm các lãnh thổ mới bị chinh phục, Vũ Đế quốc hữu hóa một số ngành tư nhân bao gồm các ngành sản xuất muối, sắt và rượu, cũng như đúc tiền đồng. Độc quyền về rượu kéo dài từ năm 98 đến năm 81 TCN, còn các độc quyền về muối và sắt bị bãi bỏ vào đầu thời Đông Hán. Việc phát hành tiền đúc là độc quyền của chính quyền trung ương trong suốt phần còn lại của triều đại nhà Hán.[33]

Vương Mãng soán ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

Các kho quân lương đắp từ đất nện tại Hà Thương Thành (tiếng Trung: 河仓城; bính âm: Hécāng chéng), tọa lạc ~11 km đông bắc Ngọc Môn quan thời Tây Hán (202 TCN – 9) và được trùng tu vào thời Nhà Tấn (280–316).[34]
Ảnh trái: Tượng gốm kỵ binh thời Tây Hán trong mộ của một tướng quân tại Hàm Dương, Thiểm Tây
Ảnh phải: Tượng ngựa đồng với cương và yên

Vương Chính Quân (71 TCN – 13 CN) là hoàng hậu của Hán Nguyên Đế (49–33 TCN), thái hậu đời Hán Thành Đế (khoảng 33–7 TCN), thái hoàng thái hậu đời Hán Ai Đế (khoảng 7–1 TCN). Trong thời gian này, bà cho hàng loạt anh em trong gia tộc họ Vương của mình lên giữ chức lớn.[35] Sau cái chết của Hán Ai Đế, cháu trai của bà là Vương Mãng (45 TCN – 23 CN) được bổ nhiệm làm nhiếp chính Tân Đô hầu vào ngày 16 tháng 8 đời Hán Bình Đế (khoảng 1 TCN – 6).[36]

Hán Bình Đế băng hà ngày 3 tháng 2 năm 6, Nhũ Tử Anh (mất năm 25) được chọn làm người thừa kế và Vương Mãng được phong làm hoàng đế tạm quyền.[36] Vương Mãng hứa sẽ trao trả ngôi vị cho Lưu Anh một khi đến tuổi.[36] Vương Mãng bội ước mặc cho phản ứng dữ dội của triều đình và vào ngày 10 tháng 1, ông tuyên bố Thiên mệnh kêu gọi sự kết thúc của nhà Hán và sự khởi đầu của nhà Tân (9–23).[37]

Vương Mãng khởi xướng một loạt các cải cách lớn nhưng bất thành. Chúng bao gồm việc bãi bỏ chế độ nô lệ, quốc hữu hóa đất đai để phân phối công bằng giữa các hộ gia đình và giới thiệu loại tiền tệ mới, một sự thay đổi làm giảm giá trị của tiền đúc.[38] Triều đại của Vương Mãng bị suy yếu bởi những trận lụt lớn khoảng năm 3 và 11 CN. Lượng phù sa dần dần tích tụ ở sông Hoàng Hà đã nâng mực nước và lấn át các công trình đê điều. Sông Hoàng Hà tách thành hai nhánh mới: một đổ về phía bắc và nhánh kia ở phía nam bán đảo Sơn Đông. Các kỹ sư người Hán đã đắp đê phần phía nam vào năm 70.[39]

Trận lụt đã ảnh hương cuộc sống của hàng ngàn nông dân, nhiều người đã phải tham gia các tập đoàn thổ phỉ và phản động như Xích Mi để tồn tại.[39] Quân đội của Vương Mãng không đủ khả năng để dẹp yên các nhóm phiến quân này và chúng tiến được vào Vị Ương cung giết chết Vương Mãng ngày 6 tháng 10, năm 23.[40]

Hán Canh Thủy Đế (khoảng 23–25), hậu duệ của Hán Cảnh Đế (157–141 TCN) đã cố gắng khôi phục nhà Hán và chiếm lại Trường An làm kinh đô. Tuy nhiên, ông bị quân Xích Mi hạ bệ, ám sát và thay thế bằng quốc vương bù nhìn Hán Kiến Thế Đế.[41] Người anh em họ xa của Hán Canh Thủy Đế là Lưu Tú (khoảng 25–57), chứng tỏ mình trong trận Côn Dương năm 23, kế vị Canh Thủy làm hoàng đế, người đời sau gọi là Hán Quang Vũ Đế.[42]

Dưới sự cai trị của Quang Vũ đế, nhà Hán được phục hồi. Ông đóng đô ở Lạc Dương năm 25 và đến năm 27, các tướng lĩnh của ông là Đặng VũPhùng Dị đánh bại quân Xích Mi và xử tử các thủ lĩnh quân nổi dậy.[43] Từ năm 26 đến năm 36, Quang Vũ mang quân đi đánh dẹp các quân phiệt tự xưng là hoàng đế và tái thống nhất toàn cõi Trung Hoa.[44]

Đông Hán[sửa | sửa mã nguồn]

Tình hình các tập đoàn quân phiệt và nghĩa quân nông dân đầu thời Đông Hán

Triều đại Đông Hán (phồn thể: 東漢; giản thể: 东汉; bính âm: Dōnghàn), còn được gọi là Hậu Hán (phồn thể: 後漢; giản thể: 后汉; bính âm: Hòuhàn) chính thức bắt đầu từ ngày 5 tháng 8 năm 25 khi Lưu Tú xưng đế nhà Hán.[45] Trong tình hình loạn lạc thời Vương Mãng, nhà nước Cao Câu Ly tự do quẫy nhiễu bốn quận của nhà Hán; nhà Hán không tái khẳng định quyền kiểm soát đối với khu vực này cho đến năm 30.[46]

Hai Bà Trưng nổi dậy chống nhà Hán năm 40. Cuộc khởi nghĩa của hai bà (42-43 CN) bị đàn áp bởi tướng Mã Viện (mất năm 49).[47] Thời Vương Mãng, nhà Tân tiếp tục thù địch với Hung Nô cho đến khi thiền vu Bỉ (比) tranh ngai vàng với người anh em họ Bồ Nô (蒲奴), quy thuận làm chư hầu triều cống vào năm 50. Hung Nô lúc này bị chia cắt thành hai miền: Hung Nô phía Nam do Bỉ lãnh đạo phục tùng nhà Hán và Hung Nô phía Bắc lãnh đạo bởi Bồ Nô căm thù nhà Hán.[48]

Cũng do thời trị vì của Vương Mãng, Trung Quốc đã mất quyền kiểm soát đối với lòng chảo Tarim, bị Hung Nô phương Bắc chiếm năm 63 và được sử dụng làm bàn đạp để xâm lược Hành lang Hà Tây ở Cam Túc.[49] Đậu Cố (mất năm 88) đại thắng quân Hung Nô phương Bắc trong trận Y Vu Lư năm 73, xua đuổi quân Hung Nô khỏi Turfan và đuổi đánh đến tận hồ Barkol trước khi đóng quân tại Hami.[50] Sau khi Thái thú mới của Tây Vực Đô hộ phủ là Trần Mục (mất năm 75) bị ám sát bởi các đồng minh của Hung Nô ở KarasahrKucha, các đơn vị đồn trú tại Hami mới triệt thoái.[51]

Trong trận Ikh Bayan năm 89, Đậu Hiến (mất năm 92 sau Công nguyên) đánh bại một thiền vu Bắc Hung, bắt Hung Nô phải rút lui vào dãy núi Altai. [52] Sau khi Bắc Hung chạy trốn vào thung lũng sông Ili năm 91, người du mục Tiên Ti tiếp quản khu vực từ biên giới của Vương quốc Phù Dư ở Mãn Châu đến sông Ili của người Ô Tôn.[53] Người Tiên Ti đạt đến đỉnh cao của họ dưới thời Đàn Thạch Hòe (檀石槐) (mất năm 180), một thủ lĩnh chống Hán trăm trận trăm thắng. Tuy nhiên, liên minh của Hòe tan rã sau khi ông qua đời.[54]

Ban Siêu (mất năm 102) tranh thủ sự trợ giúp của đế quốc Quý Sương, đế quốc chiếm cứ khu vực Ấn Độ, Pakistan, AfghanistanTajikistan hiện nay để khuất phục KashgarSogdiana.[55] Vua Quý Sương là Vima Kadphises (khoảng 90 - 100) yêu cầu liên minh với nhà Hán thông qua hôn nhân, ông bị khước từ vào năm 90, uất ức nên đem quân đánh Wakhan (Afghanistan) lúc đó đáng bị chiếm bởi Ban Siêu. Cuộc xung đột kết thúc do Quý Sương thiếu thốn lương thực.[55] Năm 91, Ban Siêu được thăng làm Định Viễn hầu, quan cai trị vùng Tây Vực thuộc Hán.[56]

Chữ khắc thời Đông Hán trên một thỏi chì, sử dụng bảng chữ cái Hy Lạp theo phong cách của người Quý Sương, được khai quật ở Thiểm Tây, thế kỷ I - II sau Công nguyên[57]

Lữ khách ngoại quốc trong đó có các nhà sư như An Thế Cao từ Ba Tư và Lâu-ca-sấm từ Càn-đà-la thời Quý Sương, Ấn Độ đã du nhập Phật giáo vào Trung Quốc.[58] Ngoài quan hệ triều cống với người Quý Sương, nhà Hán cũng nhận cống từ Đế quốc Ba Tư, Miến Điện, Nhật Bản và từng có một sứ mệnh bất thành đến Đại Tần (La Mã) vào năm 97 với sứ giả là Cam Anh.[59]

Một phái đoàn sứ bộ La Mã của Hoàng đế Marcus Aurelius (khoảng 161–180) được ghi lại trong cuốn Ngụy Lược (魏略, sơ lược về nước Ngụy) và Hậu Hán Thư yết kiến Hán Hoàn Đế (khoảng 146–168) vào năm 166,[60][61] nhưng sử gia Rafe de Crespigny khẳng định rằng đây rất có thể chỉ là một nhóm thương nhân La Mã.[62] Ngoài đồ thủy tinh và tiền xu La Mã được tìm thấy ở Trung Quốc,[63] huy hiệu La Mã từ đời Hoàng đế Antoninus Pius và con nuôi của ông là Marcus Aurelius đã được tìm thấy tại Óc Eo, Việt Nam.[64] Trước đây gần quận Nhật Nam (còn gọi là Giao Chỉ), nơi sử liệu Trung Quốc cho rằng người La Mã đã tới đầu tiên cũng như các đại sứ tới từ Thiên Chủ (ở miền bắc Ấn Độ) trong các năm 159 và 161.[65] Óc Eo cũng được cho là thành phố cảng "Cattigara" được Ptolemy mô tả trong cuốn Địa lý (tiếng Hy Lạp: Γεωγραφικὴ Ὑφήγησις) (khoảng năm 150) nằm ở phía đông của Bán đảo Vàng (bán đảo Mã Lai) dọc theo Magnus Sinus (tức là vịnh Thái Lanbiển Đông), nơi một thủy thủ người Hy Lạp từng đến thăm.[66]

Hán Chương Đế (75–88) được các học giả Đông Hán sau này rất coi trọng.[67] Các triều đại sau đó ngày càng bị can thiệp bởi các hoạn quan và rối ren bởi ngoại thích trong triều đình.[68] Vào năm 92, với sự trợ giúp của thái giám Trịnh Chúng (mất năm 107), Hán Hòa Đế (khoảng 88–105) cho giam lỏng Đậu Hoàng thái hậu (mất năm 97) và tước bỏ quyền lực gia tộc của bà để trả thù cho việc bà thanh trừng thị tộc mẹ ruột ông là Lương quý nhân và che giấu chuyện này.[69] Sau khi Hòa Đế qua đời, vợ ông là Đặng hoàng hậu (mất năm 121) quản thúc các công việc triều chính với tư cách là hoàng thái hậu nhiếp chính trong cuộc khủng hoảng kinh tế và cuộc nổi dậy của người Khương tiếp đó từ năm 107-118.[70]

Nhân khẩu Trung Hoa năm 2

Khi Đặng Thái hậu chết, Hán An Đế (khoảng 106–125) hay tin từ hai hoạn quan là Lý Nhuận (李閏) và Giang Kinh (江京) rằng họ Đặng và gia đình bà đã lên kế hoạch phế truất ông. An Đế bèn thải hồi họ Đặng, đày ải và bức tử nhiều thành viên gia tộc họ Đặng.[71] Sau cái chết của An Đế, vợ ông là Diêm hoàng hậu (mất năm 126) đưa con là Lưu Ý lên ngôi để giữ quyền lực nội tộc. Tuy nhiên, thái giám Tôn Trình (mất năm 132) đã âm mưu đưa Hán Thuận Đế lên ngôi (khoảng 125–144). Diêm hoàng hậu bị giam lỏng, người thân của bà hoặc bị giết hoặc bị lưu đày và các thái giám thân tín bị tàn sát.[72] Nhiếp chính Lương Ký (mất năm 159), anh trai của Lương thái hậu (mất năm 150) cho người giết anh rể của Vương phi Đặng Mãnh Nữ (sau này là hoàng hậu) (mất năm 165) sau khi bà ta không nghe lời Lương thái hậu. Hoàn Đế sau này tịch thu ấn tướng quân của Lương Ký sau khi Lương thái hậu qua đời. Lương Ký quá sợ hãi đã cùng vợ con tự sát, toàn bộ tài sản của ông bị sung công.[73]

Học sinh Thái Học đã tổ chức biểu tình chống lại các hoạn quan của triều đình Hoàn Đế.[74] Hoàn Đế không để tâm đến việc triều chính mà cho xây dựng các công trình hoành tráng và còn tuyển hàng ngàn phi tần vào hậu cung dù kinh tế đang khủng hoảng.[75] Các hoạn quan trong cung bỏ tù quan Lý Ưng (李膺), vu khống tội phản quốc. Năm 167, đại thần Đậu Vũ (mất năm 168) thuyết phục con rể là Hán Hoàn Đế thả Lý Ưng.[76] Tuy nhiên, ông vĩnh viễn cấm Lý Ưng và các cộng sự của ông ta trở lại quan trường, đánh dấu sự khởi đầu của Đảng Cố Chi Họa (黨錮之禍).[76]

Hoàn Đế băng hà, Đậu Vũ cùng đại thần Trần Phồn (năm 168) âm mưu đảo chính chống lại hoạn quan Hầu Lấm (năm 172), Tào Tiết (năm 181) và Vương Phủ (王甫). Khi âm mưu bại lộ, các hoạn quan đã bắt giữ Thái hậu Đậu Diệu (mất năm 172) và Trần Phồn. Tướng quân Trương Hoán (張奐) ủng hộ các hoạn quan. Đậu Vũ bèn chỉ huy mấy ngàn quân đóng ở Đô Đình,[77] giao chiến ác liệt với quân Hổ bôn và quân Vũ lâm của Vương Phủ nhưng cuối cùng ông bị thua trận và buộc phải tự sát. Trần Phồn cũng tham chiến và bị bắt giết.[78]

Đến đời Hán Linh Đế (khoảng 168–189), hoạn quan ngày càng lộng hành, mua quan bán chức.[79] Nhiều công việc nhà nước được giao cho Thập thường thị. Linh Đế hoang dâm vô độ, không lo việc nước mà chỉ lo vui chơi với phi tần và tổ chức các cuộc diễu hành phô trương quân sự.[80]

Sụp đổ[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Hoa sau thời Hán

Đảng Cố Chi Họa được bãi bỏ trong thời kỳ Khởi nghĩa Khăn VàngThiên sư Đạo vào năm 184, phần lớn là do triều đình không muốn tiếp tục xa lánh một bộ phận đáng kể tầng lớp quý tộc, những người uất ức và có thể tham gia nổi dậy.[81] Hai nghĩa quân này thuộc về hai giáo hội Đạo giáo có thứ bậc khác nhau lần lượt do Trương Giác (mất năm 184) và Trương Lỗ (mất năm 216) lãnh đạo.

Cuộc nổi dậy của Trương Lỗ ở bắc Tứ Xuyên và nam Thiểm Tây hiện đại mãi đến năm 215 mới bị dập tắt.[82] Cuộc nổi dậy lớn của Trương Giác ở tám tỉnh bị quân Hán tiêu diệt trong vòng một năm. Những thập kỷ sau đó lại chứng kiến những cuộc nổi dậy nhỏ hơn tiếp diễn.[83] Mặc dù quân Khăn Vàng bị đánh bại, nhiều tướng lĩnh trong cuộc khủng hoảng không giải tán quân đội và sử dụng chúng để tích lũy sức mạnh nhân lúc triều đình suy yếu.[84]

Tướng quân Hà Tiến. Anh em cùng cha khác mẹ với Hà thái hậu (năm 189) âm mưu với Viên Thiệu (mất năm 202) cùng Đổng Trác đang đóng quân ở Hà Đông và thứ sử Tinh châu là Đinh Nguyên mang quân vào Lạc Dương "giả làm phản đòi dẹp hoạn quan" với mục đích là dọa thái hậu phải bằng lòng bãi chức các hoạn quan. Hà Tiến theo ý kiến của Viên Thiệu, vào cung Trường Lạc gặp Hà thái hậu xin ý chỉ đề nghị giết hết các hoạn quan.[85] Sau một thời gian đắn đo, bà đã đồng ý. Tuy nhiên, khi các hoạn quan biết chuyện, họ yêu cầu anh trai của bà là Hà Miêu (何苗) hủy bỏ mệnh lệnh.[86] Các hoạn quan ám sát Hà Tiến vào ngày 22 tháng 9 năm 189.

Viên Thiệu sau đó bao vây Bắc Cung Lạc Dương trong khi anh trai của ông là Viên Thuật (mất năm 199) bao vây Nam Cung. Vào ngày 25 tháng 9, cả hai cung điện bị phá hủy và khoảng hai ngàn hoạn quan bị giết.[87] Trương Nhượng trước đó đã bỏ trốn cùng Hán Thiếu Đế (khoảng năm 189) và anh trai của ông là Lưu Hiệp - Hán Hiến Đế tương lai (khoảng năm 189–220). Trong khi bị anh em nhà họ Viên truy sát, Trương Nhượng gieo mình xuống Hoàng Hà tự vẫn.[88]

Tướng Đổng Trác (mất năm 192) tìm thấy vị hoàng đế trẻ tuổi và anh trai đang lang thang ở vùng nông thôn. Ông hộ tống họ trở về kinh đô và được thăng chức, nắm quyền kiểm soát Lạc Dương và buộc Viên Thiệu phải chạy trốn.[89] Sau khi Đổng Trác phế truất Hán Thiếu Đế và phong cho anh trai Lưu Hiệp làm Hoàng đế, Viên Thiệu dẫn đầu một liên minh gồm các quan chức cũ chống lại Đổng Trác. Đổng Trác cho đốt thành Lạc Dương dời đô về Trường An vào tháng 5 năm 191. Đổng Trác sau đó đã đầu độc Thiếu Đế.[90]

Đổng Trác bị giết bởi con nuôi Lã Bố (mất năm 198) do Vương Doãn (mất năm 192) chủ mưu.[91] Hiến Đế chạy trốn khỏi Trường An năm 195 về Lạc Dương. Hiến Đế gặp Tào Tháo (155–220), lúc đó cai quản Duyễn Châu (miền tây Sơn Đông và miền đông Hà Nam hiện đại). Tào Tháo thuyết phục Hoàng đế dời đô đến Hứa Xương năm 196.[92]

Viên Thiệu thách thức Tào Tháo giành quyền kiểm soát vị hoàng đế. Quyền lực của Viên Thiệu đã suy giảm đáng kể sau khi Tào Tháo đánh bại ông ở trận Quan Độ năm 200. Sau khi Viên Thiệu chết, Tào Tháo giết con trai ông ta là Viên Đàm (173–205).[93] Anh em của Đàm là Viên ThượngViên Hi bị giết bởi Công Tôn Khang (mất năm 221), đầu được gửi cho Tào Tháo.[93]

Sau thất bại của Tào Tháo trong trận hải chiến Xích Bích năm 208, Trung Quốc bị chia ba, Tào Tháo thống trị miền bắc, Tôn Quyền (182–252) thống trị miền nam và Lưu Bị (161–223) thống trị miền tây.[94] Tào Tháo qua đời vào tháng 3 năm 220. Đến tháng 12, con trai của ông là Tào Phi (187–226) ép Hiến Đế nhường ngôi và xưng là Tào Ngụy Văn Đế. Triều đại nhà Hán chính thức kết thúc và bắt đầu thời đại xung đột giữa tam quốc: Tào Ngụy, Đông NgôThục Hán.[95]

Văn hóa và xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Bức bích họa trong lăng mộ thời Đông Hán muộn này mô tả một cảnh yến tiệc ( yến ẩm, 宴飲), khiêu vũ và âm nhạc (võ lạc, 舞樂), nhào lộn (bách hỉ, 百戲), và đấu vật (tướng bổ, 相撲), ở Mộ Tá Hổ Đình (打虎亭漢墓; Dáhǔtíng hànmù), bờ nam sông Tứ ĐộTrịnh Châu, Hà Nam (phía tây Tức, Tín Dương)

Tầng lớp xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Bức bích họa mộ thời Đông Hán tại (Chu Thôn 朱村), Lạc Dương, Hà Nam; hai hình nhân ở phía trước đang chơi Lục bác, thảm ở giữa, và bàn cờ ở bên cạnh.

Trong trật tự xã hội Hán, hoàng đế là bậc cao nhất của xã hội và chính quyền nhà Hán. Tuy nhiên, hoàng đế thường quá nhỏ để lo việc chính trị. Quyền lực do vậy thường được chuyển giao cho một nhiếp chính như thái hậu hoặc một trong những người thân nam của bà.[96] Xếp ngay dưới hoàng đế là các vị vua hay vương nội tộc họ Lưu.[97] Phần còn lại của xã hội, bao gồm các quý tộc thấp hơn vua chúa và tất cả bình dân không kể nô lệ đều thuộc một trong hai mươi cấp bậc (Nhị Thập Công Thặng 二十公乘).

Mỗi cấp bậc kế tiếp trong nấc thang này quyền lực và giàu có hơn. Cấp bậc hầu tước đi kèm với bổng lộc triều đình và một thái ấp. Những kẻ có cấp bậc ngay bên dưới được nhận bổng lộc nhưng không có thái ấp.[98] Các Sĩ đại phu phục vụ trong triều đình thuộc tầng lớp bình dân và được xếp dưới quý tộc về uy tín xã hội. Các quan chức triều đình cấp cao cũng có thể được cấp thái ấp như hầu tước.[99]

Đến thời kỳ Đông Hán, giới tinh hoa địa phương gồm các học giả, giáo viên, học sinh và quan chức triều chính không liên hệ bắt đầu tự nhận mình là thành viên của một tầng lớp gọi là thân sĩ có cùng một giá trị và liên quan đến học thức.[100] Khi chính quyền trở nên tham nhũng đáng kể từ giữa đến cuối thời Đông Hán, nhiều người quý tộc này coi việc vun đắp các mối quan hệ cá nhân đạo đức quan trọng hơn việc phục vụ cho triều đình.[101]

Nông dân, cụ thể là tiểu địa chủ, được xếp ngay dưới các học giả và quan chức trong hệ thống phân cấp xã hội. Những tầng lớp canh tác nông nghiệp khác có địa vị thấp hơn, chẳng hạn như tá điền, người làm công và nô lệ.[102] Nhà Hán đã điều chỉnh chế độ nô lệ và số nô lệ nông nghiệp tăng cao. Các nghệ nhân, kỹ thuật viên, người buôn bán và thợ thủ công có địa vị kinh tế xã hội hợp pháp nằm giữa nông dân tiểu địa chủ và thương gia thông thường.[103]

Các thương gia có đăng ký kinh doanh buộc phải mặc quần áo màu trắng và phải trả thuế thương mại cao. Họ bị giới quý tộc coi là những kẻ ăn bám xã hội và đáng khinh.[104] Những người này thường là những chủ tiệm ở các khu chợ thành thị; các thương gia lưu động làm việc giữa các thành thị có thể tránh đăng ký kinh doanh và thường giàu có và quyền lực hơn đại đa số các quan chức nhà nước.[105]

Các địa chủ giàu có như quý tộc và quan chức thường cung cấp chỗ ở cho người làm công và thuộc hạ đôi khi có nhiệm vụ chống ăn cướp hoặc cưỡi ngựa ra trận. Không giống như nô lệ, thuộc hạ có thể đến và đi vào nhà của chủ nhân tùy ý.[106] Các thầy thuốc, người chăn lợn và đồ hộ có địa vị xã hội khá cao trong khi thầy bói và người đưa tin có địa vị thấp.[107]

Hình chạm nổi bằng gạch với cảnh nhào lộn từ đời Hán (202 BC – 220 AD)

Hôn nhân, giới tính và quan hệ họ hàng[sửa | sửa mã nguồn]

Hai thiếu nữ mặc Hán phục làm từ lụa, Mộ Tá Hổ Đình (打虎亭汉墓; Dáhǔtíng hànmù) thời Đông Hán muộn (25–220), tọa lạc ở Trịnh Châu, Hà Nam
Trái: Tượng gốm một người phụ nữ đang ngồi với chiếc gương đồng, Đông Hán (25–220), Bảo tàng Tứ Xuyên, Thành Đô
Phải: Tượng khuyển được tìm thấy trong mộ Hán đeo vòng cổ trang trí, cho thấy rằng chó được dùng làm thú nuôi dưới thời Hán.[108] Sử liệu cũng đề cập nhiều hoàng đế có các cũi giữ chó săn trong cung.[109]
Tranh tường thời Tây Hán muộn (202 TCN–9) hoặc thời nhà Tân (9–25) mô tả nam thanh nữ tú mặc hán phục, với Tây Vương Mẫu mặc thâm y, trong một ngôi mộ ở Đông Bình, Thái An, Sơn Đông, Trung Quốc

Gia đình theo phụ hệ và một hộ dân thường có từ bốn đến năm gia đình hạt nhân chung sống. Các thế hệ khác nhau của một gia tộc không sống cùng một ngôi nhà, không giống như gia đình ở các triều đại sau này.[110] Theo Nho giáo, các thành viên có thứ bậc được phân chia rạch ròi. Ví dụ, có những khung thời gian được chấp nhận khác nhau để tang cái chết của người cha so với người chú ruột.[111]

Hôn nhân rất được nghi thức hóa với nhiều tục lệ, đặc biệt là đối với những người giàu có. Việc tặng sính lễcủa hồi môn, đặc biệt quan trọng. Thiếu một trong hai thứ đều bị coi là thiếu tôn trọng và người phụ nữ sẽ không được xem như một người vợ mà là một người thiếp.[112] Hôn nhân sắp đặt là chuyện bình thường, quyết định của người cha thường được coi trọng hơn người mẹ.[113]

Các cuộc hôn nhân một vợ một chồng cũng bình thường mặc dù quý tộc và quan chức cấp cao đủ giàu có sẽ có khả năng chi trả và cưới thêm vợ lẽ.[114] Trong những điều kiện nhất định do tập quán, không phải luật pháp quy định, cả nam và nữ đều có thể ly dị và tái hôn.[115] Tuy nhiên, một người phụ nữ góa chồng vẫn thuộc về gia đình chồng. Để tái hôn, góa phụ sẽ phải trả phí chuộc thân. Các con của phụ nữ góa sẽ không được phép đi theo mẹ.[112]

Trái: Hình nhân hầu nữ bằng gốm thời Hán
Phải: Hình nhân vũ nữ thời Hán

Ngoài việc truyền đạt các tước vị hoặc cấp bậc cao quý, con cả không được hưởng tất cả của cải; mỗi người con trai nhận được một phần tài sản thừa kế bằng nhau.[116] Không giống như thông lệ ở các triều đại sau này, người cha thường gửi cho những người con trai trưởng thành đã lập gia đình đi cùng với phần tài sản của gia đình.[117] Con gái nhận được một phần tài sản của gia đình thông qua của hồi môn khi kết hôn, tuy vậy, số tiền này thường ít hơn so với tài sản cho con trai.[118] Việc phân phối phần còn lại khác được quy định trong di chúc nhưng không rõ mức độ phổ biến của điều này.[119]

Phụ nữ phải tuân theo cha, sau đó là chồng và sau đó là con trai trưởng thành của họ khi về già. Tuy nhiên, theo các sử liệu hiện có, người ta biết rằng có nhiều ngoại lệ đối với quy tắc này, ví dụ như các hoàng hậu gièm pha cha và anh trai họ.[120] Phụ nữ được miễn nghĩa vụ sưu dịch hàng năm nhưng họ cũng thường tham gia vào một loạt các công việc có thu nhập ngoài việc nấu nướng và dọn dẹp trong nhà.[121]

Nghề nghiệp phổ biến nhất của phụ nữ là dệt quần áo cho gia đình, bán ở chợ hoặc cho các doanh nghiệp dệt lớn. Họ có thể giúp đỡ trong trang trại của anh em họ hoặc trở thành ca sĩ, vũ công, phù thủy, thầy thuốc được kính trọng và thương nhân thành đạt, những người có thể tự mua quần áo lụa.[122]

Giáo dục, văn học và triết học[sửa | sửa mã nguồn]

Bức bích họa Tây Hán vẽ chân dung Khổng TửLão Tử trong một ngôi mộ cổ ở Đông Bình, Thái An, Sơn Đông, Trung Quốc

Triều đình Tây Hán thời kỳ đầu đồng thời chấp nhận những giáo lý triết học của Pháp gia, Hoàng Lão ĐạoNho giáo trong việc đưa ra các quyết định và định hình chính sách của triều đình.[123] Đời Vũ Đế chỉ bảo trợ độc quyền Nho giáo. Ông bãi bỏ tất cả các Bác sĩ (博士) không học Ngũ kinh của Nho giáo vào năm 136 và khuyến khích những người được đề cử học nền giáo dục dựa trên Nho giáo tại Thái Học mà ông thành lập năm 124.[124]

Không giống như hệ tư tưởng ban đầu được Khổng Tử (551–479 TCN) khởi xương, Hán Nho đời Vũ Đế là sự sáng tạo của Đổng Trọng Thư (179–104 TCN). Trọng Thư là một học giả và một quan chức nhỏ, người tổng hợp các tư tưởng đạo đức của Nho giáo về lễ nghi, đạo hiếu, và các mối quan hệ ngũ hành và vũ trụ quan âm dương.[125] Triết học của ông cho rằng chính quyền của đế quốc là điều hiển nhiên, là trật tự tự nhiên của vũ trụ.[126]

Thái Học có 30.000 sinh viên vào thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên.[127] Nền giáo dục dựa trên Nho giáo cũng được đưa vào các trường học cấp quận và các trường tư được mở ở các thị trấn nhỏ, nơi giáo viên kiếm thu nhập đáng kể từ học phí.[128]

Các thẻ tre ghi chép Binh pháp Tôn Tẫn thời Hán, khai quật từ núi Ngân Tước, Lâm Nghi, Sơn Đông.
Hy Binh Thạch Kinh; những mảnh đá này có khắc Ngũ Kinh đời Hán Linh Đế dọc bên vệ đường tới Thái Học (ngay bên ngoài Lạc Dương) theo chỉ đạo của Thái Ung (132–192).[129]

Các tác phẩm triết học được viết bởi Dương Hùng (53 TCN – 18), Hoàn Đàm (43 TCN – 28), Vương Sung (27–100) và Vương Phù (78–163 SCN) đã đặt câu hỏi liệu bản chất con người là tốt hay xấu và đặt ra những thách thức đối với trật tự vũ trụ của Đổng Trọng Thư.[130] Cuốn Sử ký của Tư Mã Đàm (mất năm 110 TCN) và con trai của ông là Tư Mã Thiên (145–86 TCN) thiết lập mô hình tiêu chuẩn cho tất cả các bộ Sử ký sau này của Trung Quốc, chẳng hạn như Hán Thư viết bởi Ban Bưu (3–54), con trai ông Ban Cố (32–92), và con gái ông Ban Cơ (45–116).[131] Nhiều cuốn từ điển cũng được viết như Thuyết văn giải tự của Hứa Thận (k. 58 – k. 147) và Phương Ngữ của Dương Hùng.[132]

Tiểu sử về các nhân vật quan trọng thường được nhiều học giả chép lại.[133] Thi ca thời Hán hầu hết viết theo kiểu phú, thể loại này đạt đỉnh cao đời Hán Vũ Đế.[134]

Luật pháp và trật tự[sửa | sửa mã nguồn]

Các học giả Hán như Giả Nghị (201–169 TCN) miêu tả triều đại nhà Tần trước đây là một chế độ tàn bạo. Tuy nhiên, bằng chứng khảo cổ từ Trang Gia SơnThụy Hổ Địa tiết lộ rằng nhiều quy chế trong bộ luật Hán do Tiêu Hà (mất năm 193) biên soạn có nguồn gốc từ luật đời Tần.[135]

Các vụ hiếp dâm, lạm dụng thân thể và giết người đã bị truy tố trước tòa. Phụ nữ, thường có ít quyền lợi hơn do tập quán, vẫn được phép buộc tội dân sự và hình sự đối với đàn ông.[136] Trong khi những kẻ tình nghi bị bỏ tù, những tội phạm bị kết án không bao giờ bị bỏ tù. Thay vào đó, các hình phạt thường là phạt tiền, lao động khổ sai, hoặc tử hình bằng chặt đầu.[137] Tùng xẻo tra tấn thời kỳ đầu nhà Hán được vay mượn từ luật pháp của Tần. Một loạt các cải cách đã bãi bỏ các hình phạt cắt xén và thay thế bằng phạt roi.[138]

Huyện lệnh và quận lệnh cũng có bổn phận làm thẩm phán tại các quan tòa. Các vụ án phức tạp, liên quan đến cấp cao hoặc chưa được giải quyết thường được giao cho Đình Úy (廷尉) hoặc thậm chí là bởi hoàng đế.[139]

Thức ăn[sửa | sửa mã nguồn]

Hai đồ sơn mài đỏ và đen thời Hán, một cái bát với một cái khay; thường chỉ có những quý tốc, quan cao, và thương nhân mới sở hữu được những đồ xa xỉ do các nghệ nhân trình độ cao tạo tác.[140]

Các cây lương thực được tiêu thụ phổ biến thời Hán là lúa mì, lúa mạch, kê vàng, kê proso, lúađậu.[141] Các loại trái cây và rau quả được tiêu thụ bao gồm hạt dẻ, lê, mận, đào, dưa, , dâu, dương mai, táo tàu, bầu, măng, mù tạc và khoai môn.[142] Động vật đã thuần hóa bao gồm gà, uyên ương, ngỗng, bò, cừu, lợn, lạc đà và chó (nhiều loại khác nhau được nuôi để làm thịt, nhưng hầu hết dùng làm thú nuôi). Rùa và cá được lấy từ suối và hồ. Người Hán săn bắt các loài thú hoang bao gồm cú, gà lôi, ác là, hươu sao, và hôi hung trúc.[143] Gia vị bao gồm đường, mật ong, muối và nước tương.[144] Bia và rượu là thức uống phổ biến.[145]

Trang phục[sửa | sửa mã nguồn]

Các loại quần áo mặc và chất liệu được sử dụng trong thời Hán phụ thuộc vào tầng lớp xã hội. Những kẻ giàu có mặc áo choàng lụa, váy, tất và găng tay, áo khoác làm từ lông lửng hoặc lông cáo, lông vịt, và dép đi trong nhà bằng da, gán ngọc trai và lót lụa. Nông dân thường mặc quần áo bằng da gai dầu, len, và da chồn.[146]

Tôn giáo, vũ trụ quan và siêu hình học[sửa | sửa mã nguồn]

Một phần thủ bản chép Đạo giáo, mực trên lụa, thể kỷ thứ 2 TCN, nhà Hán, khai quật từ mộ 3 Mã Vương Đồi, Trường Sa, Tỉnh Hồ Nam.

Các gia đình trên khắp Trung Hoa cúng tế động vật và thực phẩm cho các vị thần, linh hồntổ tiên tại các đền thờ. Họ tin rằng những vật phẩm đó có thể được dùng ở thế giới bên kia.[147] Người ta cho rằng mỗi người có hai phần linh hồn: phần hồn (魂) lên thiên đường của những người đã khuất (chốn tiên), và phần bạc (魄) vẫn trú ngụ tại các đền thờ và chỉ được đoàn tụ với phần hồn thông qua một nghi lễ.[148]

Bức tượng Kì Lân Đông Hán làm bằng đồng, thế kỷ thứ 1 CN

Hoàng đế ngoài việc trị nước, còn đóng vai trò là thầy tế lễ cao nhất, tế cho Trời, cho các vị thần chính được gọi là Ngũ thần và các thần linh (thần 神) của núi và sông.[149] Người ta tin rằng có ba cõi Trời, Đất và Nhân loại được liên kết bởi các chu kỳ tự nhiên của âm dươngngũ hành.[150] Nếu hoàng đế không hành xử có đạo đức và luân lý, ông có thể khiến mất cân bằng các chu kỳ vũ trụ này và gây ra những tai họa như động đất, lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh và nạn châu chấu.[151]

Người ta tin rằng có thể đạt được sự bất tử nếu một người đến được vùng đất của Tây Vương Mẫu hoặc Núi Bồng Lai.[152] Những người theo Đạo giáo thời Hán đã tập hợp thành những nhóm nhỏ các ẩn sĩ cố gắng đạt được sự bất tử thông qua các bài tập thở, kỹ thuật tình dục và sử dụng thuốc trường sinh bất lão.[153]

Đến thế kỷ thứ 2 CN, những người theo Đạo giáo đã thành lập các xã hội tôn giáo lớn như Thiên sư Đạo. Các tín đồ tin rằng nhà hiền triết Lão Tử (thế kỷ thứ 6 TCN) là một nhà tiên tri thánh thiện, người sẽ ban phát sự cứu rỗi và sức khỏe nếu những người sùng đạo thú nhận tội lỗi của họ, cấm thờ cúng các vị thần ô uế mà nhận đồ tế từ thịt và tụng Đạo đức kinh.[154]

Phật giáo lần đầu tiên du nhập vào Trung Quốc thông qua Con đường Tơ lụa thời Đông Hán, và lần đầu tiên được đề cập vào năm 65 CN.[155] Lưu Anh (mất năm 71 CN), em trai cùng cha khác mẹ của Hán Minh Đế (khoảng 57–75 CN), là một trong những tín đồ Phật giáo sớm nhất, mặc dù Phật giáo Trung Quốc vào thời điểm này có liên kết chặt chẽ với Hoàng Lão Đạo.[156] Ngôi chùa Phật giáo đầu tiên được biết đến của Trung Quốc, chùa Bạch Mã, được xây dựng bên ngoài bức tường thành của thủ đô Lạc Dương dưới triều đại của Minh Đế.[157] Những tác phẩm kinh điển của Phật giáo đã được dịch sang tiếng Trung Quốc trong thế kỷ 2 CN, bao gồm Kinh Tứ Thập Nhị Chương, Bát-nhã-ba-la-mật-đa, Kinh Lăng NghiêmKinh Pratyutpanna.[158]

Nhà nước và chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Chính quyền trung ương[sửa | sửa mã nguồn]

Cảnh người trò chuyện với nhau của tác phẩm nghệ thuật vẽ trên một chiếc hộp sơn mài, được khai quật từ một ngôi mộ Đông Hán thuộc quận Lạc LãngBán đảo Triều Tiên.

Trong bộ máy chính quyền nhà Hán, hoàng đế là thẩm phán tối cao, người đưa ra luật pháp, tổng tư lệnh quân đội và là người duy nhất được quyền bổ nhiệm các chức vụ cao ở trung ương và địa phương (những người giữ chức vụ có mức lương 600 giạ trở lên).[159] Trên lý thuyết, quyền lực của một hoàng đế là không giới hạn.

Tuy nhiên, các cơ quan nhà nước có quyền lợi và thể chế cạnh tranh như hội nghị triều đình (đình nghị 廷議) - nơi các quan khanh (giống như bộ trưởng bây giờ) được triệu tập để đạt đến sự đồng thuận đa số về một vấn đề - gây áp lực buộc hoàng đế phải chấp nhận lời khuyên của họ về các quyết định chính sách.[160] Nếu hoàng đế bác bỏ quyết định của hội nghị triều đình, ông sẽ có nguy cơ xa lánh các quan đại thần của mình. Tuy nhiên, các hoàng đế đôi khi vẫn bác bỏ ý kiến ​​đa số đạt được tại các hội nghị này.[161]

Dưới hoàng đế là các thành viên nội các của ông được gọi là Tam công (三公). Họ bao gồm: thừa tướng (丞相) hoặc đại tư đồ (大司徒), ngự sử đại phu (御史大夫) hoặc đại tư khổng (大司空), và thái úy (太尉) hoặc đại tư mã (大司馬):[162]

  • Thừa tướng, đổi chức danh thành 'đại tư đồ' năm 8 TCN, chịu trách nhiệm chính trong việc quản lý ngân sách chính phủ. Các nhiệm vụ khác của thừa tướng bao gồm quản lý các tài liệu khai báo cấp tỉnh về đất đai và dân số, chủ trì các cuộc họp triều đình, làm thẩm phán trong các vụ kiện tụng và giới thiệu những người được đề cử cho các chức vụ cao. Thừa tướng có thể bổ nhiệm các quan chức có mức lương dưới 600 giạ.[163]
  • Nhiệm vụ chính của ngự sử đại phu là tiến hành các thủ tục kỷ luật đối với các quan chức. Ông có chung các nhiệm vụ với thừa tướng, chẳng hạn như nhận các báo cáo hàng năm của các tỉnh lị. Tuy nhiên, khi chức danh của ông được đổi thành đại tư khổng vào năm 8 TCN, nhiệm vụ chính của ông đã trở thành giám sát các dự án công trình công cộng.[164]
  • Thái úy, có chức danh được đổi thành đại tư mã vào năm 119 TCN trước khi lại đổi về thái úy vào năm 51, là người chỉ huy quân đội không chính quy và sau đó là nhiếp chính trong thời Tây Hán. Thời Đông Hán, chức này lại trở thành chức dân sự gần giống với hai chức danh trên.[165]
Một đền thờ cũng tổ tiên (từ đường 祠堂)

Dưới tam công là cửu khanh (九卿) bao gồm: thái thường (太常) phụ trách các nghi lễ và duy trì các đền thờ tổ tiên;[166] quang lộc huân (光祿勳) phụ trách an ninh cho hoàng đế trong khuôn viên cung điện, khu vườn bên ngoài hoàng cung và bất cứ nơi nào hoàng đế đi du ngoạn bằng xe ngựa;[167] vệ úy (衛尉) chịu trách nhiệm bảo vệ, tuần tra các bức tường, tháp và cổng của cung điện;[168] thái bộc (太僕) phụ trách các chuồng ngựa, xe ngựa cho hoàng đế và các thị vệ của ông, cũng như cung cấp ngựa cho quân đội;[169] đình úy (廷尉) phụ trách luật pháp;[170] đại hồng lô (大鴻臚) phụ trách việc tiếp đón những vị khách danh dự tại triều đình, chẳng hạn như quý tộc và đại sứ ngoại quốc;[171] tông chính (宗正) giám sát các mối quan hệ của triều đình với giới quý tộc và gia đình hoàng tộc mở rộng của đế quốc, chẳng hạn như phong tước và tước vị;[172] đại tư nông (大司農) là thủ quỹ của bộ máy hành chính và lực lượng vũ trang, người xử lý các khoản thu thuế và đặt ra các tiêu chuẩn đo lường;[173] thiếu phủ (少府) phục vụ riêng cho hoàng đế, cung cấp cho ông những trò tiêu khiển, thức ăn và quần áo, thuốc men và chăm sóc thể chất, các vật dụng và thiết bị có giá trị.[174]

Chính quyền địa phương[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Hán, không bao gồm các nước lệ thuộc, được chia theo thứ tự kích thước giảm dần thành các đơn vị chính trị gồm các tỉnh, quận và huyện.[175] Huyện lại được chia thành các hương (鄉), rồi chi tiếp thành các lí (里). Mỗi lí gồm khoảng 100 hộ dân.[176][177]

Các vương quốc và đất hầu tước[sửa | sửa mã nguồn]

Các vương quốc (quy mô gần giống với quận) được cai trị bởi những người thân nam của hoàng đế với tư cách là các vương quốc nửa tự trị. Trước năm 157 TCN, một số vương quốc được cai trị bởi những người không phải họ hàng, được cấp cho bởi Hán Cao Tổ sau chiến tranh Hán-Sở. Mô hình cai trị của các vương quốc rất giống với chính quyền trung ương.[178] Tuy vậy, hoàng đế có quyền bổ nhiệm quan công của mỗi vương quốc, các vị vua có quyền bổ nhiệm tất cả các quan chức dân sự còn lại trên đất của họ.[179]

Quân đội[sửa | sửa mã nguồn]

Một bức bích họa mô tả chiến xa và ngựa chiến, từ mộ Tá Hổ Đình thời Hán muộn (25–220)
Nỏ từ thời Chiến Quốc muộn hoặc đầu thời Hán; làm từ đồng và dát bạc

Vào thời kì đầu triều Hán, mọi nam thường dân ở độ tuổi 23 đều phải nhập ngũ. Độ tuổi tối thiểu để tham gia quân dịch giảm xuống 20 sau đời Chiêu Đế (87–74 TCN).[180] Những người lính nhập ngũ trải qua một năm huấn luyện và một năm phục vụ đi lính. Huấn luyện một trong ba nhánh: bộ binh, kỵ binh hoặc hải quân.[181] Năm đi lính thì phải ra biên cương, hoặc phụng sự Vệ Úy ở kinh đô. Một đội quân thường trực chuyên nghiệp nhỏ (được trả lương) đóng quân gần kinh đô.[181]

Thời Đông Hán, có thể tránh đi nghĩa vụ nếu trả đủ thuế hoán đổi. Triều đình Đông Hán thường tuyển mộ quân tình nguyện.[182] Quân tình nguyện bao gồm Nam Quân (南軍), trong khi đội quân thường trực đóng tại và gần thủ đô là Bắc Quân (北軍).[183] Đứng đầu là Hiệu úy (校尉), quân đội phương Bắc bao gồm năm trung đoàn, mỗi trung đoàn gồm vài nghìn binh sĩ.[184]

Trong thời kỳ chiến tranh, quân tình nguyện được củng cố, và một lượng dân quân lớn hơn nhiều sẽ được hiệu triệu trên khắp đất nước để bổ sung cho Bắc Quân. Trong những trường hợp này, một Tướng quân (將軍) sẽ lãnh đạo một sư đoàn, được chia thành các trung đoàn do Hiệu úy chỉ huy, đôi khi là Tư mã (司馬). Các trung đoàn được chia thành các đại đội. Trung đội là đơn vị nhỏ nhất.[185]

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền tệ[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng Ngũ Thù (五銖) thời Hán Vũ Đế (141-87 TCN), đường kính 25.5 mm
Xu hình xẻng thời Vương Mãng (9-23 CN).

Nhà Hán kế thừa loại tiền xu Bán Lưỡng từ thời Tần. Vào đầu thời Hán, Cao Tổ đóng cửa các cơ quan đúc tiền của chính phủ cho tư nhân đúc tiền xu. Quyết định này bị bãi bỏ vào năm 186 TCN bởi vợ ông là Lã Hậu (mất năm 180 TCN).[186] Vào năm 182 TCN, bà ban hành đồng xu bằng đồng có trọng lượng nhẹ hơn nhiều so với những đồng xu trước đó. Điều này gây ra lạm phát trên diện rộng, mãi đến năm 175 TCN, tình trạng này mới được khắc phục khi Văn Đế cho phép các nhà đúc tiền tư nhân sản xuất tiền xu có trọng lượng chính xác là 2,6 g (0,09 oz).[186]

Năm 144 TCN, Cảnh Đế bãi bỏ việc đúc tiền tư nhân để ưu tiên cho việc đúc tiền ở cấp trung ương và cấp quận; ông cũng cho lưu hành một đồng xu mới.[187] Vũ Đế ban hành một loại khác vào năm 120 TCN, nhưng một năm sau đó, ông bãi bỏ đồng Bán Lưỡng hoàn toàn mà chỉ lưu hành đồng Ngũ Thù (五銖), nặng 3,2 g (0,11 oz).[188] Đồng tiền này đã trở thành đồng xu tiêu chuẩn của Trung Quốc cho đến triều đại nhà Đường (618–907). Việc sử dụng nó đã bị gián đoạn một thời gian ngắn bởi một số loại tiền mới được giới thiệu trong chế độ của Vương Mãng cho đến khi được phục hồi vào năm 40 bởi Quang Vũ Đế.[189]

Vì tiền xu do quận đúc thường có chất lượng kém hơn và trọng lượng nhẹ hơn, chính quyền trung ương đã đóng cửa các xưởng đúc tiền và độc quyền phát hành tiền đúc vào năm 113 TCN. Việc phát hành tiền đúc của chính quyền Trung ương do Thủy hành đô úy (水衡都尉) giám sát, rồi được chuyển giao cho Đại tư nông thời Đông Hán.[190]

Thuế và tài sản[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài thuế đất được trả bằng một phần hoa lợi của chủ đất, họ còn phải trả thuế khoán ​​và thuế tài sản bằng xu.[191] Mức thuế khoán ​​hàng năm cho nam và nữ trưởng thành là 120 xu và 20 xu cho trẻ vị thành niên. Các thương gia bị đánh thuế nặng hơn ở mức 240 xu.[192] Thuế khoán đã kích thích một nền kinh tế tiền tệ đòi hỏi phải đúc hơn 28.000.000.000 xu từ năm 118 TCN đến năm 5 CN, trung bình mỗi năm đúc 220.000.000 xu.[193]

Việc lưu hành rộng rãi tiền xu cho phép các thương gia thành đạt đầu tư vào đất đai. Điều này hóa ra lại phản tác dụng, do nó củng cố tầng lớp xã hội mà chính phủ đang cố gắng đàn áp thông qua các loại thuế tài sản và thương mại.[194] Vũ Đế thậm chí còn ban hành luật cấm các thương nhân đã đăng ký sở hữu đất đai, tuy nhiên các thương gia quyền lực vẫn có thể tránh đăng ký và sở hữu những vùng đất rộng lớn.[195]

Những tiểu địa chủ làm nên phần lớn cơ sở thuế của người Hán; nguồn thu này bị đe dọa trong nửa sau thời Đông Hán do nhiều nông dân lâm vào cảnh nợ nần và bị buộc phải làm thuê ruộng cho các địa chủ giàu có.[196] Chính quyền nhà Hán đã ban hành các cải cách để giữ cho những người này không mắc nợ và làm chủ nông trang của họ. Những cải cách này bao gồm giảm thuế, miễn thuế tạm thời, cho vay và cho nông dân không có đất ở tạm thời và làm việc trong các đồn điền nhà nước cho đến khi họ có khả năng trả nợ.[197]

Vào năm 168 TCN, thuế suất ruộng đất đã giảm từ 1/15 hoa lợi của một hộ dân xuống còn 1/30,[198] và sau đó còn giảm chỉ còn 1% cuối triều đại. Hậu quả là hao hụt nguồn thu của triều đình được bù đắp bằng cách tăng thuế tài sản.[199]

Thuế lao động áp dụng hình thức lao động quân dịch một tháng mỗi năm, được áp dụng đối với nam thường dân từ 15 đến 56 tuổi. Thời Đông Hán có thể trả phí để không phải tham gia, do triều đình thời kì này dùng lao động thuê nhiều hơn.[200]

Sản xuất tư nhân và độc quyền của chính phủ[sửa | sửa mã nguồn]

Một cái kíchdao sắt thời Hán

Vào đầu thời Tây Hán, một nhà sản xuất muối hoặc sắt giàu có, có thể là vua chư hầu hay thương nhân giàu có, đều có thể sở hữu khoản tiền ngang ngửa với ngân khố triều đình và tích lũy được một lực lượng nông dân hơn ngàn người. Điều này khiến nhiều nông dân rời bỏ nông trang của họ và khiến chính phủ mất đi một phần đáng kể doanh thu từ thuế đất.[201] Để loại bỏ ảnh hưởng của các doanh nhân tư nhân như vậy, Vũ Đế đã quốc hữu hóa muối và sắt vào năm 117 TCN và cho phép nhiều doanh nhân cũ trở thành quan chức quản lý các công ty độc quyền nhà nước.[202] Đến thời Đông Hán, các độc quyền của chính quyền trung ương bị bãi bỏ để chuyển giao sản xuất sang các quận huyện và các doanh nhân tư nhân.[203]

Rượu là một ngành tư nhân sinh lợi khác được chính quyền trung ương quốc hữu hóa vào năm 98 TCN. Tuy nhiên, nó bị bãi bỏ vào năm 81 TCN và mức thuế tài sản là hai xu cho mỗi 0,2 L (0,05 gallon) đối với tư nhân.[204] Đến năm 110 TCN, Vũ Đế cũng can thiệp vào việc buôn bán thóc có lãi khi ông loại bỏ đầu cơ bằng cách bán thóc do chính phủ tích trữ với giá thấp hơn của các thương nhân.[205] Ngoài việc Minh Đế từng thành lập một Văn phòng điều chỉnh và ổn định giá cả một thời gian ngắn (cơ quan này đã bị bãi bỏ vào năm 68 CN), các quy định kiểm soát giá cả của chính phủ trung ương hầu như không tồn tại thời Đông Hán.[206]

Khoa học và kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Một cây đèn dầu thếp đồng theo hình một hầu nữ đang quỳ gối, thế kỷ thứ 2 TCN, tìm thấy trong mộ của Đậu Oản, vợ của Lưu Thắng, vua của nước Trung Sơn thờ Hán; người dùng có thể kéo khe để điều chỉnh độ sáng và bức tượng còn giữ khói bên trong.[207]

Thời kỳ nhà Hán là thời kỳ độc đáo trong sự phát triển của khoa học kỹ thuật tại Trung Quốc thời cổ đại, có thể sánh ngang với mức độ phát triển thời nhà Tống (960–1279).[208]

Vật liệu viết[sửa | sửa mã nguồn]

Vào thiên niên kỷ 1 TCN, vật liệu dùng để khắc lên chủ yếu là đồ đồng, xương động vật, và những tấm thẻ tre hoặc ván gỗ. Đến đầu thời Hán, vật liệu để ghi hầu hết là phiến đất sét, vải lụa, giấy gai dầu,[209][210] và cuộn giấy làm từ các dải tre đan lại với nhau bằng dây gai dầu; sợi dây được luồn qua các lỗ đục và kết dính lại bằng đất sét.[211]

Mảnh giấy gai dầu cổ nhất được biết đến ở Trung Quốc có niên đại vào thế kỷ thứ 2 TCN.[212][209] Quy trình sản xuất giấy tiêu chuẩn được Thái Luân (50–121) phát minh năm 105.[213] Mảnh giấy lâu đời nhất còn sót lại có chữ viết trên đó được tìm thấy trong tàn tích của một tháp canh bị bỏ hoang vào năm 110, Nội Mông.[214]

Luyện kim và nông nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Chuông đồng Tây Hán
Đai thắt lưng được trang trí với hình các loài linh vật. Vàng khắc thời Hán muộn.
Trái: Đóng khuôn bánh xe làm từ đồng thời Hán (Bảo tàng Thượng Hải)
Phải: Một cái kéo thời Đông Hán

Bằng chứng cho thấy rằng các lò cao được sử dụng để nung chảy các quặng sắt thô thành gang thỏi, có thể được nấu chảy lại trong lò đứng để sản xuất gang bằng phương pháp thổi nguộithổi nóng, được đưa vào áp dụng ở Trung Quốc vào cuối thời Xuân Thu (722 –481 TCN).[215] Lò kiểu bloomery không tồn tại ở Trung Quốc cổ đại; tuy nhiên, người Trung Quốc thời Hán đã luyện được sắt rèn bằng cách bơm oxy dư vào lò nung để tạo quá trình khử cacbon.[216] Gang và gang thỏi có thể được chuyển thành sắt rèn và thép bằng quá trình nghiền.[217]

Người Trung Quốc thời Hán sử dụng đồng và sắt để chế tạo nhiều loại vũ khí, công cụ nấu ăn, công cụ thợ mộc và đồ gia dụng.[218] Các tiến bộ trong kỹ thuật luyện kim thúc đẩy việc phát minh các nông cụ mới. Máy gieo hạt giống ba cáng bằng sắt, được phát minh vào thế kỷ thứ 2 TCN, cho phép người nông dân trồng cây theo hàng thẳng thay vì gieo hạt bằng tay.[219] Máy cày được phát minh đời Hán; một người điều khiển, hai con bò kéo. Nó có ba lưỡi cày, một hộp đựng hạt để gieo, một công cụ dùng để xới đất và có thể gieo khoảng 45.730 mét vuông đất chỉ trong một ngày.[220]

Để bảo vệ cây trồng khỏi gió và hạn hán, nhà nông nghiệp Triệu Cao đã tạo ra hệ thống ruộng xen kẽ (đại điền pháp 代田法) đời Hán Vũ Đế. Hệ thống này chuyển đổi vị trí của rãnh và mương giữa các mùa trồng trọt.[221] Sau khi thử nghiệm gặt hái nhiều thành quả, triều đình chính thức tài trợ cho dự án và khuyến khích nông dân áp dụng nó.[221] Người Hán cũng sử dụng hệ thống ruộng hố (ao điền 凹田) để trồng hoa màu, hệ thống này bao gồm các hố được bón phân nhiều mà không cần cày hoặc bò và có thể đặt trên địa hình dốc.[222] Ở miền nam và miền trung Trung Quốc thời Hán, ruộng dùng để trồng lúa. Nông dân dọc sông Hoài sử dụng phương pháp dời trồng.[223]

Kỹ thuật công trình và địa kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Trái: Mô hình một cung điện thời Hán; lối vào cung của Hoàng đế được bảo vệ bởi Vệ úy; nếu một thường dân, quý tộc hay quan chức đi vào mà chưa có sự cho phép sẽ bị xử tử.[224]
Phải: Mô hình bằng gốm thời Đông Hán trong một ngôi mộ ở Giai Tá, Hà Nam—cho thấy một khu nhà với tháp canh, sân nhà, mái hiên, ngói nghiêng, giá chìa đỡ đấu củng, và cầy cầu có mái bắc từ tầng 3 sang tháp canh nhỏ hơn.[225]
Trái: Mô hình bằng gốm một kho thóc với 5 lớp ngói nghiêng và cột trụ mái nhà của các ban công ở hai tầng đầu tiên, có niên đại giữa Tây Hán (202 TCN – 9) tới khoảng Đông Hán sớm (25–220).
Phải: Mô hình thời Hán (202 TCN – 220) cho thấy kho thóc hình tháp với cửa sổ và ban công đặt trên rất cao để đặt cung thủ.[226]

Gỗ là vật liệu xây dựng chính thời Hán; được sử dụng để xây dựng các sảnh cung điện, tháp và hội trường dân cư nhiều tầng và những ngôi nhà một tầng.[227] Bởi vì gỗ bị phân hủy nhanh chóng, bằng chứng duy nhất còn lại của kiến ​​trúc gỗ Hán là tập hợp các mái ngói gốm rời rạc.[228] Những sảnh gỗ cổ nhất còn sót lại ở Trung Quốc có niên đại vào thời nhà Đường (618–907 ).[229] Nhà sử học kiến ​​trúc Robert L. Thorp chỉ ra sự khan hiếm di tích khảo cổ thời Hán, và cho rằng các nguồn văn học và nghệ thuật thời Hán thường không đáng tin cậy nếu sử dụng để tìm manh mối về kiến ​​trúc Hán đã mất.[230]

Mặc dù các công trình kiến ​​trúc bằng gỗ của nhà Hán đã biến mất, một số tàn tích thời Hán làm bằng gạch, đá và đất nện vẫn còn nguyên vẹn. Chúng bao gồm cổng trụ bằng đá, phòng mộ bằng gạch, tường thành bằng đất nện, tháp canh bằng gạch và đất nện, phần đất nện của Vạn Lý Trường Thành, nền bằng đất nện để đỡ các sảnh cao và hai lâu đài bằng đất nện ở Cam Túc.[231]Tàn tích của những bức tường bằng đất nện bao quanh thủ đô Trường An và Lạc Dương vẫn còn tồn tại, cùng với hệ thống thoát nước gồm các mái vòm bằng gạch, rãnh và ống dẫn nước bằng gốm.[232] 29 cột khuyết (một kiểu cột đá) còn tồn tại từ thời Hán, tạo thành lối vào các khu đền thờ và lăng mộ.[233] Những cột mô phỏng nghệ thuật lại các kiến trúc xây dựng bằng gỗ và gốm như ngói lợp, mái hiên và lan can.[234]

Nhà có sân là kiểu nhà phổ biến nhất được miêu tả trong các tác phẩm nghệ thuật của người Hán.[227] Các mô hình kiến ​​trúc bằng gốm của các ngôi nhà và tháp được tìm thấy trong các ngôi mộ Hán, có lẽ tượng trưng cho chỗ ở của người chết ở thế giới bên kia. Những mo hình này cung cấp những manh mối có giá trị về kiến ​​trúc bằng gỗ đã mất. Các thiết kế nghệ thuật tìm thấy trên mái ngói gốm của các mô hình tháp có khi trùng khớp hoàn toàn với ngói nhà được tìm thấy tại các di chỉ khảo cổ.[235]

Hơn mười ngôi mộ dưới lòng đất thời Hán đã được tìm thấy. Nhiều ngôi mộ có cổng vòng cung, buồng kiểu voûte và mái vòm.[236] Các hầm và mái vòm dưới lòng đất không cần cột chống vì chúng được giữ cố định bằng các hố đất.[237] Kiến trúc vòng cung và mái vòm bằng gạch có được dùng trên mặt đất hay không vẫn chưa rõ.[237]

Từ các nguồn văn học Hán, người ta biết rằng các cầu dầm cột gỗ, cầu vòm, cầu treo đơn giản và cầu phao nổi đã tồn tại ở Trung Quốc.[238] Tuy nhiên, chỉ có hai tài liệu tham khảo được biết đến về cầu trúc vòm trong văn học Hán,[239] và chỉ có một phù điêu Hán ở Tứ Xuyên mô tả một cây cầu vòm.[240]

Các hầm mỏ dưới lòng đất, một số có độ sâu hơn 100 mét, từng được dùng khai thác quặng kim loại.[241] Hố khoan và chòi khoan được sử dụng để hút nước muối cố đặc lên các chảo sắt rồi chưng cất thành muối. Các lò chưng cất được đốt nóng bằng khí tự nhiên dẫn lên bề mặt thông qua các đường ống tre.[242] Những lỗ khoan này có thể đã đạt đến độ sâu 600 m.[243]

Cơ khí và thủy lực[sửa | sửa mã nguồn]

Kỹ sư nghệ nhân chuyên nghiệp (tượng 匠) không để lại ghi chép chi tiết về công việc của họ.[244] Các học giả Hán, những người thường có ít hoặc không có chuyên môn về kỹ thuật cơ khí, đôi khi cung cấp không đủ thông tin về các công nghệ khác nhau mà họ mô tả.[245] Tuy nhiên, một số nguồn văn học Hán cho ta một số thông tin quan trọng.

Ví dụ, vào năm 15 TCN, triết gia và nhà văn Dương Hùng đã mô tả phát minh bộ truyền động đai cho máy sản xuất giấy xoắn, có tầm quan trọng lớn đối với ngành sản xuất dệt thời kỳ đầu.[246] Các phát minh của kỹ sư cơ khí và thợ thủ công Đinh Hoãn được đề cập trong cuốn Tây Kinh tạp ký.[247] Vào khoảng năm 180, Đinh Hoãn đã tạo ra một chiếc quạt quay hoạt động bằng tay được sử dụng để điều hòa không khí trong các tòa nhà cung điện.[248] Ông cũng sử dụng chống rung làm trụ đỡ cho một trong những chiếc lư hương của mình và phát minh ra chiếc đèn zoetrope (đèn hoạt họa) đầu tiên trên thế giới.[249]

Hai người đàn ông đang dùng phong phiên xa với tay quay điều khiển búa có cán dùng để giã gạo.

Khảo cổ học hiện đại đã dẫn đến việc phát hiện ra các tác phẩm nghệ thuật mô tả các phát minh vốn không có trong các nguồn văn học Hán. Như đã quan sát thấy trong các mô hình lăng mộ thu nhỏ của người Hán, nhưng không có trong các nguồn tài liệu, tay quay được sử dụng để vận hành các quạt của máy tời (gọi là phong phiến xa) để tách trấu và thóc.[250] Hành trình kế, được phát minh vào thời Hán, đo độ dài quãng đường, sử dụng cấu tạo cơ học đập vào trống và chiêng để báo hiệu từng quãng đường đã đi.[251] Phát minh này được mô tả trong tranh tường của người Hán vào thế kỷ thứ 2, nhưng các mô tả chi tiết bằng văn bản chưa được cung cấp cho đến thế kỷ thứ 3.[252]

Các nhà khảo cổ học hiện đại cũng đã khai quật được các mẫu vật thiết bị được sử dụng thời Hán, ví dụ như một đôi thước cặp kim loại dùng bởi các thợ thủ công để đo đạc chính xác. Những thước cặp này có ghi dòng chữ chính xác ngày và năm chúng được sản xuất. Những công cụ này không được đề cập trong bất kỳ nguồn văn học Hán nào[253]

Bánh xe nước xuất hiện trong các ghi chép của Trung Quốc vào thời Hán. Như được đề cập bởi Hoàn Đàm vào khoảng năm 20, chúng được sử dụng để quay bánh răng nâng cối bằng sắt để dầm thóc.[254] Tuy nhiên, không có bằng chứng đầy đủ về nhà có bánh xe nước (水磨) ở Trung Quốc cho đến khoảng thế kỷ thứ 5.[255] Quận ủy Nam Dương và kỹ sư cơ khí Đỗ Thi (mất năm 38) đã tạo ra một pittông chạy bằng guồng nước chạy các ống thổi để nung chảy sắt.[256] Bánh xe nước cũng được sử dụng để cung cấp năng lượng cho máy bơm dây chuyền bơm nước lên các mương thủy lợi. Máy bơm xích lần đầu tiên được đề cập đến ở Trung Quốc bởi nhà triết học Vương Sung trong cuốn Luận Hành vào thế kỷ thứ 1.[257]

Quả cầu thiên văn, mô hình ba chiều mô phỏng lại các chuyển động trên thiên cầu, được phát minh ở Trung Quốc vào thế kỷ thứ 1 TCN.[258] Sử dụng đồng hồ nước, guồng nước và một loạt bánh răng, Nhà thiên văn học Trương Hành (78–139) đã chế ra một quả thiên cầu có thể quay bằng cơ học.[259] Để giải quyết vấn đề thời gian đo đạc bị chậm trong cột áp của đồng hồ nước đầu vào, ông là người đầu tiên ở Trung Quốc lắp đặt một bể chứa bổ sung giữa bể chứa và bình nước đầu vào.[260]

Trương Hành cũng phát minh ra một thiết bị mà ông gọi là Hậu phong địa động nghi (候風地動儀) mà nhà sinh hóa học, Trung Hoa học kiêm sử học người Anh Joseph Needham mô tả là "tổ tiên của tất cả các địa chấn kế".[261] Thiết bị này có thể phát hiện hướng các trận động đất xảy ra cách xa hàng trăm dặm.[280] Nó sử dụng một con lắc đảo, khi bị nhiễu bởi chấn động mặt đất, sẽ kích hoạt một bộ bánh răng thả một quả cầu kim loại từ một trong tám miệng rồng (đại diện cho tám hướng) vào miệng một con cóc kim loại nằm dưới.[262]

Ghi chép về thiết bị này trong Hậu Hán Thư có nói, từng có một lần, một trong những quả cầu kim loại bị kích hoạt mà không có bất kỳ ai cảm thấy có xáo động. Vài ngày sau, có tin bẩm báo từ quận Lũng Tây (thuộc tỉnh Cam Túc ngày nay) rằng một trận động đất đã xảy ra nơi đó, đúng theo hướng mà thiết bị đã chỉ ra.[263]

Toán học[sửa | sửa mã nguồn]

Chứng minh toán học định lí Pi-ta-go của tam giác (3, 4, 5) trong Chu bễ toán kinh 500–200 TCN.

Ba luận thuyết toán học thời Hán vẫn tồn tại đến ngày nay: Toán sổ thư, Chu bễ toán kinhCửu chương toán thuật. Các thành tựu toán học thời Hán bao gồm tìm ra lời giải cho các bài toán tam giác vuông, căn bậc hai, căn bậc ba và phương pháp ma trận,[264] ước tính gần đúng số pi,[265] chứng minh toán học định lý Pitago,[266] sử dụng phân số,[267] phép khử Gauss để giải phương trình tuyến tính,[268] và liên phân số để tìm nghiệm phương trình[269]

Một trong những tiến bộ toán học lớn nhất của người Hán là số âm. Số âm lần đầu tiên xuất hiện trong Cửu chương toán thuật dưới dạng các que đếm màu đen còn số dương được biểu thị bằng các que đếm màu đỏ.[270] Số âm cũng được nhà toán học Hy Lạp Diophantus sử dụng vào khoảng năm 275, và trong thủ bản Bakhshali thế kỷ thứ VII ở Gandhara, Nam Á,[271] nhưng không được chấp nhận rộng rãi ở châu Âu cho đến thế kỷ XVI.[270]

Người Hán đã áp dụng toán học vào nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong chuỗi nốt nhạc, Lý Phòng (李房, 78–37 TCN) nhận ra rằng 53 quãng năm hoàn hảo xấp xỉ với 31 quãng tám trong lúc ông tạo thang âm giai gồm 60 tông nhạc, tính toán sai số khác biệt là 177147⁄176776 (cùng một giá trị của 53 bình quân luật do nhà toán học Nicholas Mercator người Đức [1620–1687] phát hiện ra, tức 353/284).[272]

Thiên văn học[sửa | sửa mã nguồn]

Toán học rất cần thiết trong việc soạn thảo lịch thiên văn, một loại lịch âm dương sử dụng Mặt trời và Mặt trăng làm mốc thời gian trong suốt cả năm. [273] Trong thời kỳ Xuân Thu thế kỷ thứ 5 TCN, người Trung Quốc đã có lịch Tứ Phân (cổ tứ phân lịch 古四分历), đo năm nhiệt đới 365 1⁄4 ngày. Lịch này bị thay thế vào năm 104 TCN bằng lịch Thái Sơ (thái sơ lịch 太初曆) đo năm nhiệt đới 365 385⁄1539 ngày và âm lịch là 294 43⁄81 ngày.[274] Tuy nhiên, Hán Chương Đế sau này khôi phục lại lịch Tứ Phân.[275]

Các nhà thiên văn học người Hán đã lập danh mục sao và ghi chép chi tiết về các sao chổi xuất hiện trên bầu trời đêm, bao gồm sự xuất hiện của sao chổi Halley vào năm 12 TCN.[276]

Các nhà thiên văn học thời Hán tin vào mô hình địa tâm, cho rằng vũ trụ có là một quả cầu bao quanh với trái đất ở trung tâm.[277] Họ cho rằng Mặt trời, Mặt trăng và các hành tinh là hình cầu chứ không phải hình đĩa. Họ cũng nghĩ rằng sự chiếu sáng của Mặt trăng và các hành tinh là do ánh sáng từ mặt trời, nguyệt thực xảy ra khi Trái đất cản ánh sáng Mặt trời chiếu vào Mặt trăng và nhật thực xảy ra khi Mặt trăng cản ánh sáng mặt trời chiếu tới Trái đất.[278] Vương Sung đã mô tả chính xác sự bốc hơi của nước thành mây, mặc dù không được người bấy giờ ủng hộ.[279]

Bản đồ, thuyền và phương tiện[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ lụa thời Tây Hán sớm tìm thấy trong mộ 3 của Mã Vương Đồi mô tả vương quốc Trường SaNam Việt ở nam Trung Quốc (ghi chú: hướng nam là phần trên của bản đồ).

Bằng chứng tìm thấy trong văn học Trung Quốc, và khảo cổ học, cho thấy bản đồ đã tồn tại ở Trung Quốc trước thời Hán.[280] Một số bản đồ Hán sớm nhất được phát hiện là bản đồ lụa viết bằng mực được tìm thấy trong số Mã Vương Đồi bạch thư (馬王堆帛書) trong một ngôi mộ vào thế kỷ thứ 2 TCN.[281] Mã Viện tạo ra bản đồ địa hình từ gạo đầu tiên được biết đến trên thế giới vào thế kỷ I.[282] Con số này có thể thay đổi nếu lăng Tần Thủy Hoàng được khai quật (Sử ký của Tư Mã Thiên có chép một bản đồ như vậy đã được làm dưới lăng).[283]

Mặc dù việc sử dụng thang tỷ lệtham chiếu lưới trên bản đồ không được mô tả kỹ lưỡng cho đến khi công trình của Bùi Tú (224–271) được xuất bản, ta có bằng chứng cho thấy vào đầu thế kỷ thứ 2, Trương Hành là người đầu tiên sử dụng thang tỷ lệ và tham chiếu lưới trên bản đồ.[284]

Mô hình thuyền thời Đông Hán với bánh lái ở đuôi tàu và neo ở mũi tàu.

Thời Hán đi bằng nhiều loại thuyền khác với của các thời đại trước, chẳng hạn như lầu thuyền. Thiết kế buồm Trung Quốc được phát triển và đưa vào sử dụng thời Hán. Thuyền Hán là những chiếc đầu tiên trên thế giới được lái bằng bánh lái ở đáy đuôi tàu, cho phép chúng đi trên biển cả.[285]

Xe bò và xe ngựa đã được sử dụng ở Trung Quốc từ trước còn xe rùa lần đầu tiên được sử dụng ở Trung Quốc vào thế kỷ 1 TCN.[286] Các tác phẩm nghệ thuật thời Hán mô tả chiến xa thời Hán không dùng ách gỗ (buộc gia súc để kéo xe) như thời Chiến Quốc nữa, mà dùng dây luồn qua ngực con ngựa nhẹ hơn.[287] Thời Bắc Ngụy (386–534), vòng cổ ngựa đầy đủ đã được phát minh.[287]

Y học[sửa | sửa mã nguồn]

Các tư thế tập khí công; khai quật năm 1973 tại Hồ Nam, Trung Quốc, từ thế kỷ 2 TCN thời Tây Hán ở Mộ số 3, di chỉ Mã Vương Đồi.

Các lang y thời Hán tin rằng cơ thể con người chịu sự tác động của cùng một lực lượng tự nhiên chi phối vũ trụ lớn hơn, phải kể đến là tính âm dươngngũ hành. Mỗi cơ quan trong cơ thể được liên kết với một trạng thái nhất định. Bệnh tật được xem là dấu hiệu cho thấy các luồng khí chứa năng lượng sống dẫn đến một cơ quan nào đó bị gián đoạn. Do đó, các thầy thuốc thời Hán bốc thuốc cho bệnh nhân để chống lại sự mất cân bằng này.[288]

Chẳng hạn, vì mộc sinh hỏa, các thành phần thuốc liên quan đến thuộc tính mộc có thể được dùng để chữa lành các cơ quan hành hỏa.[289] Bên cạnh việc ăn kiêng, các thầy thuốc người Hán còn kê toa các phương pháp xoa bóp, châm cứu và dưỡng sinh để duy trì sức khỏe của một người.[290] Khi lang y Hoa Đà (mất năm 208) tiến hành phẫu thuật, ông sử dụng thuốc mê để giảm cơn đau của bệnh nhân và kê đơn thuốc mỡ bôi trơn được cho là thúc đẩy quá trình chữa lành vết thương phẫu thuật. Thầy thuốc Trương Trọng Cảnh (khoảng 150-219) đã viết cuốn Thương Hàn Luận (伤寒论), và người ta cho rằng cả ông và Hoa Đà đã đồng biên soạn cuốn Thần Nông bản thảo kinh.[291]

Thế phả nhà Hán[sửa | sửa mã nguồn]


Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Barnes (2007), tr. 63.
  2. ^ a ă Taagepera (1979), tr. 128.
  3. ^ a ă Nishijima (1986), tr. 595–596.
  4. ^ Zhou (2003), tr. 34.
  5. ^ Schaefer (2008), tr. 279.
  6. ^ Loewe (1986), tr. 116.
  7. ^ Ebrey (1999), tr. 60–61.
  8. ^ Loewe (1986), tr. 116–122.
  9. ^ Davis (2001), tr. 44–46.
  10. ^ Loewe (1986), tr. 122.
  11. ^ a ă Loewe (1986), tr. 122–125.
  12. ^ a ă Bielenstein (1980), tr. 106; Ch'ü (1972), tr. 76.
  13. ^ Loewe (1986), tr. 139–144.
  14. ^ Bielenstein (1980), tr. 105.
  15. ^ Di Cosmo (2002), tr. 175–189, 196–198; Torday (1997), tr. 80–81; Yü (1986), tr. 387–388.
  16. ^ Torday (1997), tr. 75–77.
  17. ^ Torday (1997), tr. 75–77; Di Cosmo (2002), tr. 190–192.
  18. ^ Yü (1967), tr. 9–10; Morton & Lewis (2005), tr. 52; Di Cosmo (2002), tr. 192–195.
  19. ^ Yü (1986), tr. 388–389; Torday (1997), tr. 77, 82–83; Di Cosmo (2002), tr. 195–196.
  20. ^ Torday (1997), tr. 83–84; Yü (1986), tr. 389–390.
  21. ^ Yü (1986), tr. 389–391; Di Cosmo (2002), tr. 211–214.
  22. ^ Torday (1997), tr. 91–92.
  23. ^ Yü (1986), tr. 390; Di Cosmo (2002), tr. 237–240.
  24. ^ Loewe (1986), tr. 196–197, 211–213; Yü (1986), tr. 395–398.
  25. ^ Chang (2007), tr. 5–8; Di Cosmo (2002), tr. 241–242; Yü (1986), tr. 391.
  26. ^ Chang (2007), tr. 34–35.
  27. ^ Chang (2007), tr. 6, 15–16, 44–45.
  28. ^ Chang (2007), tr. 15–16, 33–35, 42–43.
  29. ^ Di Cosmo (2002), tr. 247–249; Morton & Lewis (2005), tr. 54–55; Yü (1986), tr. 407; Ebrey (1999), tr. 69; Torday (1997), tr. 104–117.
  30. ^ An (2002), tr. 83; Ebrey (1999), tr. 70.
  31. ^ Di Cosmo (2002), tr. 250–251; Yü (1986), tr. 390–391, 409–411; Chang (2007), tr. 174; Loewe (1986), tr. 198.
  32. ^ Ebrey (1999), tr. 83; Yü (1986), tr. 448–453.
  33. ^ Wagner (2001), tr. 1–17; Loewe (1986), tr. 160–161; Nishijima (1986), tr. 581–588; Ebrey (1999), tr. 75; Morton & Lewis (2005), tr. 57; xem thêm Hinsch (2002), tr. 21–22.
  34. ^ Wang, Li & Zhang (2010), tr. 351–352.
  35. ^ Bielenstein (1986), tr. 225–226; Huang (1988), tr. 46–48.
  36. ^ a ă â Bielenstein (1986), tr. 227–230.
  37. ^ Hinsch (2002), tr. 23–24; Bielenstein (1986), tr. 230–231; Ebrey (1999), tr. 66.
  38. ^ Hansen (2000), tr. 134; Bielenstein (1986), tr. 232–234; Morton & Lewis (2005), tr. 58; Lewis (2007), tr. 23.
  39. ^ a ă Hansen (2000), tr. 135; de Crespigny (2007), tr. 196; Bielenstein (1986), tr. 241–244.
  40. ^ de Crespigny (2007), tr. 568; Bielenstein (1986), tr. 248.
  41. ^ de Crespigny (2007), tr. 197, 560; Bielenstein (1986), tr. 249–250.
  42. ^ de Crespigny (2007), tr. 558–560; Bielenstein (1986), tr. 251–254.
  43. ^ Bielenstein (1986), tr. 251–254; de Crespigny (2007), tr. 196–198, 560.
  44. ^ de Crespigny (2007), tr. 54–55, 269–270, 600–601; Bielenstein (1986), tr. 254–255.
  45. ^ Knechtges (2010), tr. 116.
  46. ^ Yü (1986), tr. 450.
  47. ^ de Crespigny (2007), tr. 562, 660; Yü (1986), tr. 454.
  48. ^ Bielenstein (1986), tr. 237–238; Yü (1986), tr. 399–400.
  49. ^ Yü (1986), tr. 413–414.
  50. ^ Yü (1986), tr. 414–415.
  51. ^ Yü (1986), tr. 414–415; de Crespigny (2007), tr. 73.
  52. ^ Yü (1986), tr. 414–415; de Crespigny (2007), tr. 171.
  53. ^ Yü (1986), tr. 405, 443–444.
  54. ^ Yü (1986), tr. 444–446.
  55. ^ a ă Torday (1997), tr. 393; de Crespigny (2007), tr. 5–6.
  56. ^ Yü (1986), tr. 415–416.
  57. ^ Cribb (1978), tr. 76–78.
  58. ^ Akira (1998), tr. 248, 251; Zhang (2002), tr. 75.
  59. ^ de Crespigny (2007), tr. 239–240, 497, 590; Yü (1986), tr. 450–451, 460–461.
  60. ^ Chavannes (1907), tr. 185.
  61. ^ Hill (2009), tr. 27.
  62. ^ de Crespigny (2007), tr. 600; Yü (1986), tr. 460–461.
  63. ^ An (2002), tr. 83–84; Ball (2016), tr. 153
  64. ^ Ball (2016), tr. 153; Young (2001), tr. 83–84
  65. ^ Yule (1915), tr. 52; Hill (2009), tr. 27
  66. ^ Young (2001), tr. 29; Mawer (2013), tr. 38; Suárez (1999), tr. 92; O'Reilly (2007), tr. 97
  67. ^ de Crespigny (2007), tr. 497, 500, 592.
  68. ^ Hinsch (2002), tr. 25; Hansen (2000), tr. 136.
  69. ^ Bielenstein (1986), tr. 280–283; de Crespigny (2007), tr. 499, 588–589.
  70. ^ Bielenstein (1986), tr. 283–284; de Crespigny (2007), tr. 123–127.
  71. ^ Bielenstein (1986), tr. 284; de Crespigny (2007), tr. 128, 580.
  72. ^ Bielenstein (1986), tr. 284–285; de Crespigny (2007), tr. 473–474, 582–583.
  73. ^ Bielenstein (1986), tr. 285–286; de Crespigny (2007), tr. 597–598.
  74. ^ Hansen (2000), tr. 141.
  75. ^ de Crespigny (2007), tr. 597, 599, 601–602; Hansen (2000), tr. 141–142.
  76. ^ a ă de Crespigny (2007), tr. 602.
  77. ^ Thuộc Lạc Dương, Hà Nam, Trung Quốc
  78. ^ Beck (1986), tr. 319–322.
  79. ^ de Crespigny (2007), tr. 511; Beck (1986), tr. 323.
  80. ^ de Crespigny (2007), tr. 513–514.
  81. ^ de Crespigny (2007), tr. 511.
  82. ^ Ebrey (1986), tr. 628–629.
  83. ^ Beck (1986), tr. 339–340.
  84. ^ Ebrey (1999), tr. 84.
  85. ^ Beck (1986), tr. 339–344.
  86. ^ Beck (1986), tr. 344; Tư Trị Thông Giám, vol. 59.
  87. ^ Beck (1986), tr. 344–345; Morton & Lewis (2005), tr. 62.
  88. ^ Beck (1986), tr. 345.
  89. ^ Beck (1986), tr. 345–346.
  90. ^ Beck (1986), tr. 346–349.
  91. ^ de Crespigny (2007), tr. 158.
  92. ^ Beck (1986), tr. 349–351; de Crespigny (2007), tr. 36.
  93. ^ a ă Beck (1986), tr. 351–352; de Crespigny (2007), tr. 36–37.
  94. ^ Beck (1986), tr. 352; de Crespigny (2007), tr. 37.
  95. ^ Beck (1986), tr. 353–357; Hinsch (2002), tr. 206.
  96. ^ Ch'ü (1972), tr. 66–72.
  97. ^ Ch'ü (1972), tr. 76; Bielenstein (1980), tr. 105–107.
  98. ^ Nishijima (1986), tr. 552–553; Ch'ü (1972), tr. 16.
  99. ^ Ch'ü (1972), tr. 84.
  100. ^ Ebrey (1986), tr. 631, 643–644; Ebrey (1999), tr. 80.
  101. ^ Hansen (2000), tr. 141–142; de Crespigny (2007), tr. 601–602.
  102. ^ Ch'ü (1972), tr. 104–111; Nishijima (1986), tr. 556–557; Ebrey (1986), tr. 621–622; Ebrey (1974), tr. 173–174.
  103. ^ Ch'ü (1972), tr. 112.
  104. ^ Ch'ü (1972), tr. 104–105, 119–120; Nishijima (1986), tr. 576–577.
  105. ^ Nishijima (1986), tr. 576–577; Ch'ü (1972), tr. 114–117.
  106. ^ Ch'ü (1972), tr. 127–128.
  107. ^ Csikszentmihalyi (2006), tr. 172–173, 179–180; Ch'ü (1972), tr. 106, 122–127.
  108. ^ Wang (1982), tr. 57, 203.
  109. ^ Bielenstein (1980), tr. 83.
  110. ^ Hinsch (2002), tr. 46–47; Ch'ü (1972), tr. 3–9.
  111. ^ Ch'ü (1972), tr. 9–10.
  112. ^ a ă Wiesner-Hanks (2011), tr. 30.
  113. ^ Hinsch (2002), tr. 35; Ch'ü (1972), tr. 34.
  114. ^ Ch'ü (1972), tr. 44–47; Hinsch (2002), tr. 38–39.
  115. ^ Hinsch (2002), tr. 40–45; Ch'ü (1972), tr. 37–43.
  116. ^ Ch'ü (1972), tr. 16–17.
  117. ^ Ch'ü (1972), tr. 6–9.
  118. ^ Ch'ü (1972), tr. 17–18.
  119. ^ Ch'ü (1972), tr. 17.
  120. ^ Ch'ü (1972), tr. 49–59.
  121. ^ Hinsch (2002), tr. 74–75.
  122. ^ Ch'ü (1972), tr. 54–56; Hinsch (2002), tr. 29, 51, 54, 59–60, 65–68, 70–74, 77–78.
  123. ^ Csikszentmihalyi (2006), tr. 24–25; Loewe (1994), tr. 128–130.
  124. ^ Kramers (1986), tr. 754–756; Csikszentmihalyi (2006), tr. 7–8; Loewe (1994), tr. 121–125; Ch'en (1986), tr. 769.
  125. ^ Kramers (1986), tr. 753–755; Loewe (1994), tr. 134–140.
  126. ^ Kramers (1986), tr. 754.
  127. ^ Ebrey (1999), tr. 77–78; Kramers (1986), tr. 757.
  128. ^ Ch'ü (1972), tr. 103.
  129. ^ de Crespigny (2007), tr. 513; Barbieri-Low (2007), tr. 207; Huang (1988), tr. 57.
  130. ^ Ch'en (1986), tr. 773–794.
  131. ^ Hardy (1999), tr. 14–15; Hansen (2000), tr. 137–138.
  132. ^ Norman (1988), tr. 185; Xue (2003), tr. 161.
  133. ^ Ebrey (1986), tr. 645.
  134. ^ Hansen (2000), tr. 137 138; de Crespigny (2007), tr. 1049; Neinhauser và đồng nghiệp (1986), tr. 212; Lewis (2007), tr. 222; Cutter (1989), tr. 25–26.
  135. ^ Hulsewé (1986), tr. 525–526; Csikszentmihalyi (2006), tr. 23–24; Hansen (2000), tr. 110–112.
  136. ^ Hulsewé (1986), tr. 523–530; Hinsch (2002), tr. 82.
  137. ^ Hulsewé (1986), tr. 532–535.
  138. ^ Hulsewé (1986), tr. 531–533.
  139. ^ Hulsewé (1986), tr. 528–529.
  140. ^ Wang (1982), tr. 83–85; Nishijima (1986), tr. 581–583.
  141. ^ Wang (1982), tr. 52.
  142. ^ Wang (1982), tr. 53, 206.
  143. ^ Wang (1982), tr. 57–58.
  144. ^ Hansen (2000), tr. 119–121.
  145. ^ Wang (1982), tr. 206; Hansen (2000), tr. 119.
  146. ^ Wang (1982), tr. 53, 59–63, 206; Loewe (1968), tr. 139; Ch'ü (1972), tr. 128.
  147. ^ Ch'ü (1972), tr. 30–31.
  148. ^ Hansen (2000), tr. 119; Csikszentmihalyi (2006), tr. 140–141.
  149. ^ Ch'ü (1972), tr. 71.
  150. ^ Loewe (1994), tr. 55; Csikszentmihalyi (2006), tr. 167; Sun & Kistemaker (1997), tr. 2–3; Ebrey (1999), tr. 78 79.
  151. ^ Ebrey (1999), tr. 78–79; Loewe (1986), tr. 201; de Crespigny (2007), tr. 496, 592.
  152. ^ Loewe (2005), tr. 101–102; Csikszentmihalyi (2006), tr. 116–117.
  153. ^ Hansen (2000), tr. 144.
  154. ^ Hansen (2000), tr. 144–146.
  155. ^ Needham (1972), tr. 112; Demiéville (1986), tr. 821–822.
  156. ^ Demiéville (1986), tr. 821–822.
  157. ^ Demiéville (1986), tr. 823.
  158. ^ Akira (1998), tr. 247–251; xem thêm Needham (1972), tr. 112.
  159. ^ de Crespigny (2007), tr. 1216; Wang (1949), tr. 141–143.
  160. ^ Bielenstein (1980), tr. 144; Wang (1949), tr. 173–177.
  161. ^ Ch'ü (1972), tr. 70–71.
  162. ^ de Crespigny (2007), tr. 1221; Bielenstein (1980), tr. 7–17.
  163. ^ Wang (1949), tr. 143–144, 145–146, 177; Bielenstein (1980), tr. 7–8, 14.
  164. ^ Wang (1949), tr. 147–148; Bielenstein (1980), tr. 8–9, 15–16.
  165. ^ Wang (1949), tr. 150; Bielenstein (1980), tr. 10–13.
  166. ^ de Crespigny (2007), tr. 1222; Wang (1949), tr. 151; Bielenstein (1980), tr. 17–23.
  167. ^ de Crespigny (2007), tr. 1222; Bielenstein (1980), tr. 23–24.
  168. ^ de Crespigny (2007), tr. 1223; Bielenstein (1980), tr. 31.
  169. ^ de Crespigny (2007), tr. 1223; Bielenstein (1980), tr. 34–35.
  170. ^ Bielenstein (1980), tr. 38; Wang (1949), tr. 154.
  171. ^ de Crespigny (2007), tr. 1223–1224; Bielenstein (1980), tr. 39–40.
  172. ^ Wang (1949), tr. 155; Bielenstein (1980), tr. 41.
  173. ^ de Crespigny (2007), tr. 1224; Bielenstein (1980), tr. 43.
  174. ^ de Crespigny (2007), tr. 1224; Bielenstein (1980), tr. 47.
  175. ^ de Crespigny (2007), tr. 1228.
  176. ^ Bielenstein (1980), tr. 103.
  177. ^ Nishijima (1986), tr. 551–552.
  178. ^ Hsu (1965), tr. 360; Bielenstein (1980), tr. 105–106; Loewe (1986), tr. 126.
  179. ^ Hsu (1965), tr. 360; Bielenstein (1980), tr. 105–106.
  180. ^ Chang (2007), tr. 70–71.
  181. ^ a ă Nishijima (1986), tr. 599; Bielenstein (1980), tr. 114.
  182. ^ de Crespigny (2007), tr. 564–565, 1234.
  183. ^ Bielenstein (1980), tr. 114–115.
  184. ^ de Crespigny (2007), tr. 1234; Bielenstein (1980), tr. 117–118.
  185. ^ de Crespigny (2007), tr. 1234; Bielenstein (1980), tr. 116, 120–122.
  186. ^ a ă Nishijima (1986), tr. 586.
  187. ^ Nishijima (1986), tr. 586–587.
  188. ^ Nishijima (1986), tr. 587.
  189. ^ Ebrey (1986), tr. 609; Bielenstein (1986), tr. 232–233; Nishijima (1986), tr. 587–588.
  190. ^ Nishijima (1986), tr. 587–588; Bielenstein (1980), tr. 47, 83.
  191. ^ Nishijima (1986), tr. 600–601.
  192. ^ Nishijima (1986), tr. 598.
  193. ^ Nishijima (1986), tr. 588.
  194. ^ Nishijima (1986), tr. 601.
  195. ^ Nishijima (1986), tr. 577; Ch'ü (1972), tr. 113–114.
  196. ^ Nishijima (1986), tr. 558–601; Ebrey (1974), tr. 173 174; Ebrey (1999), tr. 74–75.
  197. ^ Ebrey (1999), tr. 75; Ebrey (1986), tr. 619–621.
  198. ^ Loewe (1986), tr. 149–150; Nishijima (1986), tr. 596–598.
  199. ^ Nishijima (1986), tr. 596–598.
  200. ^ Nishijima (1986), tr. 599; de Crespigny (2007), tr. 564–565.
  201. ^ Needham (1986c), tr. 22; Nishijima (1986), tr. 583–584.
  202. ^ Nishijima (1986), tr. 584; Wagner (2001), tr. 1–2; Hinsch (2002), tr. 21–22.
  203. ^ Nishijima (1986), tr. 584; Wagner (2001), tr. 15–17.
  204. ^ Nishijima (1986), tr. 600; Wagner (2001), tr. 13–14.
  205. ^ Ebrey (1999), tr. 75.
  206. ^ de Crespigny (2007), tr. 605.
  207. ^ Ebrey (1999), tr. 66; Wang (1982), tr. 100.
  208. ^ Jin, Fan & Liu (1996), tr. 178–179; Needham (1972), tr. 111.
  209. ^ a ă Tsien, Tsuen-Hsuin (1985). "Paper and Printing". Joseph Needham, Science and Civilisation in China, Chemistry and Chemical Technology. 5 part 1. Cambridge University Press: 38.
  210. ^ Li, Hui-Lin 1974. An archeological and historical account of cannabis in China. Economic Botany 28(4): 437–448.
  211. ^ Loewe (1968), tr. 89, 94–95; Tom (1989), tr. 99; Cotterell (2004), tr. 11–13.
  212. ^ Buisseret (1998), tr. 12
  213. ^ Needham & Tsien (1986), tr. 1–2, 40–41, 122–123, 228; Day & McNeil (1996), tr. 122.
  214. ^ Cotterell (2004), tr. 11.
  215. ^ Wagner (2001), tr. 7, 36–37, 64–68, 75–76; Pigott (1999), tr. 183–184.
  216. ^ Pigott (1999), tr. 177, 191.
  217. ^ Wang (1982), tr. 125; Pigott (1999), tr. 186.
  218. ^ Wagner (1993), tr. 336; Wang (1982), tr. 103–105, 122–124.
  219. ^ Greenberger (2006), tr. 12; Cotterell (2004), tr. 24; Wang (1982), tr. 54–55.
  220. ^ Nishijima (1986), tr. 563–564; Ebrey (1986), tr. 616–617.
  221. ^ a ă Nishijima (1986), tr. 561–563.
  222. ^ Hinsch (2002), tr. 67–68; Nishijima (1986), tr. 564–566.
  223. ^ Nishijima (1986), tr. 568–572.
  224. ^ Ch'ü (1972), tr. 68–69.
  225. ^ Guo (2005), tr. 46–48.
  226. ^ Bulling (1962), tr. 312.
  227. ^ a ă Ebrey (1999), tr. 76.
  228. ^ Ebrey (1999), tr. 76; Wang (1982), tr. 1–40.
  229. ^ Steinhardt (2004), tr. 228–238.
  230. ^ Thorp (1986), tr. 360–378.
  231. ^ Wang (1982), tr. 1, 30, 39–40, 148–149; Chang (2007), tr. 91–92; Morton & Lewis (2005), tr. 56
  232. ^ Wang (1982), tr. 1–39.
  233. ^ Steinhardt (2005a), tr. 279; Liu (2002), tr. 55.
  234. ^ Steinhardt (2005a), tr. 279–280; Liu (2002), tr. 55.
  235. ^ Steinhardt (2005b), tr. 283–284.
  236. ^ Wang (1982), tr. 175–178.
  237. ^ a ă Watson (2000), tr. 108.
  238. ^ Needham (1986d), tr. 161–188.
  239. ^ Needham (1986c), tr. 171–172.
  240. ^ Liu (2002), tr. 56.
  241. ^ Loewe (1968), tr. 191–194; Wang (1982), tr. 105.
  242. ^ Loewe (1968), tr. 191–194; Tom (1989), tr. 103; Ronan (1994), tr. 91.
  243. ^ Loewe (1968), tr. 193–194
  244. ^ Needham (1986c), tr. 2, 9; xem thêm Barbieri-Low (2007), tr. 36.
  245. ^ Needham (1986c), tr. 2.
  246. ^ Needham (1988), tr. 207–208.
  247. ^ Barbieri-Low (2007), tr. 197.
  248. ^ Needham (1986c), tr. 99, 134, 151, 233.
  249. ^ Needham (1986b), tr. 123, 233–234.
  250. ^ Needham (1986c), tr. 116–119, Plate CLVI.
  251. ^ Needham (1986c), tr. 281–285.
  252. ^ Needham (1986c), tr. 283–285.
  253. ^ Loewe (1968), tr. 195–196.
  254. ^ Needham (1986c), tr. 183–184, 390–392.
  255. ^ Needham (1986c), tr. 396–400.
  256. ^ de Crespigny (2007), tr. 184; Needham (1986c), tr. 370.
  257. ^ Needham (1986c), tr. 89, 110, 342–344.
  258. ^ Needham (1986a), tr. 343.
  259. ^ de Crespigny (2007), tr. 1050; Needham (1986c), tr. 30, 479 footnote e; Morton & Lewis (2005), tr. 70; Bowman (2000), tr. 595.
  260. ^ de Crespigny (2007), tr. 1050; Needham (1986c), tr. 479 footnote e.
  261. ^ de Crespigny (2007), tr. 1050; Fraser (2014), tr. 375; Morton & Lewis (2005), tr. 70.
  262. ^ Needham (1986a), tr. 626–631.
  263. ^ Fraser (2014), tr. 376.
  264. ^ Dauben (2007), tr. 212; Liu và đồng nghiệp (2003), tr. 9–10.
  265. ^ Needham (1986a), tr. 99–100; Berggren, Borwein & Borwein (2004), tr. 27.
  266. ^ Dauben (2007), tr. 219–222; Needham (1986a), tr. 22.
  267. ^ Needham (1986a), tr. 84–86
  268. ^ Shen, Crossley & Lun (1999), tr. 388; Straffin (1998), tr. 166; Needham (1986a), tr. 24–25, 121.
  269. ^ Needham (1986a), tr. 65–66
  270. ^ a ă Liu và đồng nghiệp (2003), tr. 9–10.
  271. ^ Teresi (2002), tr. 65–66.
  272. ^ McClain & Ming (1979), tr. 212; Needham (1986b), tr. 218–219.
  273. ^ Cullen (2006), tr. 7; Lloyd (1996), tr. 168.
  274. ^ Deng (2005), tr. 67.
  275. ^ de Crespigny (2007), tr. 498.
  276. ^ Loewe (1994), tr. 61, 69; Csikszentmihalyi (2006), tr. 173–175; Sun & Kistemaker (1997), tr. 5, 21–23; Balchin (2003), tr. 27.
  277. ^ Dauben (2007), tr. 214; Sun & Kistemaker (1997), tr. 62; Huang (1988), tr. 64.
  278. ^ Needham (1986a), tr. 227, 414.
  279. ^ Needham (1986a), tr. 468.
  280. ^ Hsu (1993), tr. 90–93; Needham (1986a), tr. 534–535.
  281. ^ Hsu (1993), tr. 90–93; Hansen (2000), tr. 125.
  282. ^ de Crespigny (2007), tr. 659
  283. ^ Needham (1986a), tr. 580–581.
  284. ^ de Crespigny (2007), tr. 1050; Hsu (1993), tr. 90–93; Needham (1986a), tr. 538–540; Nelson (1974), tr. 359.
  285. ^ Needham (1986d), tr. 627–628; Chung (2005), tr. 152; Tom (1989), tr. 103–104; Adshead (2000), tr. 156; Fairbank & Goldman (1998), tr. 93; Block (2003), tr. 93, 123.
  286. ^ Needham (1986c), tr. 263–267; Greenberger (2006), tr. 13.
  287. ^ a ă Needham (1986c), tr. 308–312, 319–323.
  288. ^ Csikszentmihalyi (2006), tr. 181–182; Sun & Kistemaker (1997), tr. 3–4; Hsu (2001), tr. 75.
  289. ^ Csikszentmihalyi (2006), tr. 181–182.
  290. ^ de Crespigny (2007), tr. 332; Omura (2003), tr. 15, 19–22; Loewe (1994), tr. 65; Lo (2001), tr. 23.
  291. ^ de Crespigny (2007), tr. 1055.

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Adshead, Samuel Adrian Miles (2000), China in World History, London: MacMillan Press, ISBN 978-0-312-22565-0.
  • Akira, Hirakawa (1998), A History of Indian Buddhism: From Sakyamani to Early Mahayana, New Delhi: Jainendra Prakash Jain At Shri Jainendra Press, ISBN 978-81-208-0955-0.
  • An, Jiayao (2002), “When glass was treasured in China”, trong Juliano, Annette L.; Lerner, Judith A. (biên tập), Silk Road Studies VII: Nomads, Traders, and Holy Men Along China's Silk Road, Turnhout: Brepols Publishers, tr. 79–94, ISBN 978-2-503-52178-7.
  • Bailey, H.W. (1985), Indo-Scythian Studies being Khotanese Texts Volume VII, Cambridge University Press, ISBN 978-0-521-11992-4.
  • Balchin, Jon (2003), Science: 100 Scientists Who Changed the World, New York: Enchanted Lion Books, ISBN 978-1-59270-017-2.
  • Ball, Warwick (2016), Rome in the East: Transformation of an Empire, London & New York: Routledge, ISBN 978-0-415-72078-6.
  • Barbieri-Low, Anthony J. (2007), Artisans in Early Imperial China, Seattle & London: University of Washington Press, ISBN 978-0-295-98713-2.
  • Barnes, Ian (2007), Mapping History: World History, London: Cartographica, ISBN 978-1-84573-323-0.
  • Beck, Mansvelt (1986), “The fall of Han”, trong Twitchett, Denis; Loewe, Michael (biên tập), The Cambridge History of China: Volume I: the Ch'in and Han Empires, 221 B.C. – A.D. 220, Cambridge: Cambridge University Press, tr. 317–376, ISBN 978-0-521-24327-8.
  • Berggren, Lennart; Borwein, Jonathan M.; Borwein, Peter B. (2004), Pi: A Source Book, New York: Springer, ISBN 978-0-387-20571-7.
  • Bielenstein, Hans (1980), The Bureaucracy of Han Times, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 978-0-521-22510-6.
  • ——— (1986), “Wang Mang, the Restoration of the Han Dynasty, and Later Han”, trong Twitchett, Denis; Loewe, Michael (biên tập), The Cambridge History of China: Volume I: the Ch'in and Han Empires, 221 B.C. – A.D. 220, Cambridge: Cambridge University Press, tr. 223–290, ISBN 978-0-521-24327-8.
  • Block, Leo (2003), To Harness the Wind: A Short History of the Development of Sails, Annapolis: Naval Institute Press, ISBN 978-1-55750-209-4.
  • Bower, Virginia (2005), “Standing man and woman”, trong Richard, Naomi Noble (biên tập), Recarving China's Past: Art, Archaeology and Architecture of the 'Wu Family Shrines', New Haven and London: Yale University Press and Princeton University Art Museum, tr. 242–245, ISBN 978-0-300-10797-5.
  • Bowman, John S. (2000), Columbia Chronologies of Asian History and Culture, New York: Columbia University Press, ISBN 978-0-231-11004-4.
  • Buisseret, David (1998), Envisioning the City: Six Studies in Urban Cartography, Chicago: University Of Chicago Press, ISBN 978-0-226-07993-6.
  • Bulling, A. (1962), “A landscape representation of the Western Han period”, Artibus Asiae, 25 (4): 293–317, doi:10.2307/3249129, JSTOR 3249129.
  • Chang, Chun-shu (2007), The Rise of the Chinese Empire: Volume II; Frontier, Immigration, & Empire in Han China, 130 B.C. – A.D. 157, Ann Arbor: University of Michigan Press, ISBN 978-0-472-11534-1.
  • Chavannes, Édouard (1907), “Les pays d'Occident d'après le Heou Han chou” (PDF), T'oung Pao, 8: 149–244, doi:10.1163/156853207x00111.
  • Ch'en, Ch'i-Yün (1986), “Confucian, Legalist, and Taoist thought in Later Han”, trong Twitchett, Denis; Loewe, Michael (biên tập), Cambridge History of China: Volume I: the Ch'in and Han Empires, 221 B.C. – A.D. 220, Cambridge: Cambridge University Press, tr. 766–806, ISBN 978-0-521-24327-8.
  • Ch'ü, T'ung-tsu (1972), Dull, Jack L. (biên tập), Han Dynasty China: Volume 1: Han Social Structure, Seattle and London: University of Washington Press, ISBN 978-0-295-95068-6.
  • Chung, Chee Kit (2005), “Longyamen is Singapore: The Final Proof?”, Admiral Zheng He & Southeast Asia, Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, ISBN 978-981-230-329-5.
  • Cotterell, Maurice (2004), The Terracotta Warriors: The Secret Codes of the Emperor's Army, Rochester: Bear and Company, ISBN 978-1-59143-033-9.
  • Cribb, Joe (1978), “Chinese lead ingots with barbarous Greek inscriptions”, Coin Hoards, 4: 76–78.
  • Csikszentmihalyi, Mark (2006), Readings in Han Chinese Thought, Indianapolis and Cambridge: Hackett Publishing Company, ISBN 978-0-87220-710-3.
  • Cullen, Christoper (2006), Astronomy and Mathematics in Ancient China: The Zhou Bi Suan Jing, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 978-0-521-03537-8.
  • Cutter, Robert Joe (1989), The Brush and the Spur: Chinese Culture and the Cockfight, Hong Kong: The Chinese University of Hong Kong, ISBN 978-962-201-417-6.
  • Dauben, Joseph W. (2007), “Chinese Mathematics”, trong Katz, Victor J. (biên tập), The Mathematics of Egypt, Mesopotamia, China, India, and Islam: A Sourcebook, Princeton: Princeton University Press, tr. 187–384, ISBN 978-0-691-11485-9.
  • Davis, Paul K. (2001), 100 Decisive Battles: From Ancient Times to the Present, New York: Oxford University Press, ISBN 978-0-19-514366-9.
  • Day, Lance; McNeil, Ian (1996), Biographical Dictionary of the History of Technology, New York: Routledge, ISBN 978-0-415-06042-4.
  • de Crespigny, Rafe (2007), A Biographical Dictionary of Later Han to the Three Kingdoms (23–220 AD), Leiden: Koninklijke Brill, ISBN 978-90-04-15605-0.
  • Demiéville, Paul (1986), “Philosophy and religion from Han to Sui”, trong Twitchett, Denis; Loewe, Michael (biên tập), Cambridge History of China: Volume I: the Ch'in and Han Empires, 221 B.C. – A.D. 220, Cambridge: Cambridge University Press, tr. 808–872, ISBN 978-0-521-24327-8.
  • Deng, Yingke (2005), Ancient Chinese Inventions, Wang Pingxing biên dịch, Beijing: China Intercontinental Press (五洲传播出版社), ISBN 978-7-5085-0837-5.
  • Di Cosmo, Nicola (2002), Ancient China and Its Enemies: The Rise of Nomadic Power in East Asian History, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 978-0-521-77064-4.
  • Ebrey, Patricia Buckley (1974), “Estate and family management in the Later Han as seen in the Monthly Instructions for the Four Classes of People”, Journal of the Economic and Social History of the Orient, 17 (2): 173–205, doi:10.1163/156852074X00110, JSTOR 3596331.
  • ——— (1986), “The Economic and Social History of Later Han”, trong Twitchett, Denis; Loewe, Michael (biên tập), Cambridge History of China: Volume I: the Ch'in and Han Empires, 221 B.C. – A.D. 220, Cambridge: Cambridge University Press, tr. 608–648, ISBN 978-0-521-24327-8.
  • ——— (1999), The Cambridge Illustrated History of China, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 978-0-521-66991-7.
  • Fairbank, John K.; Goldman, Merle (1998), China: A New History, Enlarged Edition, Cambridge: Harvard University Press, ISBN 978-0-674-11673-3.
  • Fraser, Ian W. (2014), “Zhang Heng 张衡”, trong Brown, Kerry (biên tập), The Berkshire Dictionary of Chinese Biography, Great Barrington: Berkshire Publishing, ISBN 978-1-933782-66-9.
  • Greenberger, Robert (2006), The Technology of Ancient China, New York: Rosen Publishing Group, ISBN 978-1-4042-0558-1.
  • Guo, Qinghua (2005), Chinese Architecture and Planning: Ideas, Methods, and Techniques, Stuttgart and London: Edition Axel Menges, ISBN 978-3-932565-54-0.
  • Hansen, Valerie (2000), The Open Empire: A History of China to 1600, New York & London: W.W. Norton & Company, ISBN 978-0-393-97374-7.
  • Hardy, Grant (1999), Worlds of Bronze and Bamboo: Sima Qian's Conquest of History, New York: Columbia University Press, ISBN 978-0-231-11304-5.
  • Hill, John E. (2009), Through the Jade Gate to Rome: A Study of the Silk Routes during the Later Han Dynasty, 1st to 2nd Centuries AD, Charleston, South Carolina: BookSurge, ISBN 978-1-4392-2134-1.
  • Hinsch, Bret (2002), Women in Imperial China, Lanham: Rowman & Littlefield Publishers, ISBN 978-0-7425-1872-8.
  • Hsu, Cho-Yun (1965), “The changing relationship between local society and the central political power in Former Han: 206 B.C. – 8 A.D.”, Comparative Studies in Society and History, 7 (4): 358–370, doi:10.1017/S0010417500003777.
  • Hsu, Elisabeth (2001), “Pulse diagnostics in the Western Han: how mai and qi determine bing”, trong Hsu, Elisabeth (biên tập), Innovations in Chinese Medicine, Cambridge, New York, Oakleigh, Madrid, and Cape Town: Cambridge University Press, tr. 51–92, ISBN 978-0-521-80068-6.
  • Hsu, Mei-ling (1993), “The Qin maps: a clue to later Chinese cartographic development”, Imago Mundi, 45: 90–100, doi:10.1080/03085699308592766.
  • Huang, Ray (1988), China: A Macro History, Armonk & London: M.E. Sharpe, ISBN 978-0-87332-452-6.
  • Hulsewé, A.F.P. (1986), “Ch'in and Han law”, trong Twitchett, Denis; Loewe, Michael (biên tập), The Cambridge History of China: Volume I: the Ch'in and Han Empires, 221 B.C. – A.D. 220, Cambridge: Cambridge University Press, tr. 520–544, ISBN 978-0-521-24327-8.
  • Jin, Guantao; Fan, Hongye; Liu, Qingfeng (1996), “Historical Changes in the Structure of Science and Technology (Part Two, a Commentary)”, trong Dainian, Fan; Cohen, Robert S. (biên tập), Chinese Studies in the History and Philosophy of Science and Technology, Kathleen Dugan and Jiang Mingshan biên dịch, Dordrecht: Kluwer Academic Publishers, tr. 165–184, ISBN 978-0-7923-3463-7.
  • Knechtges, David R. (2010), “From the Eastern Han through the Western Jin (AD 25–317)”, trong Owen, Stephen (biên tập), The Cambridge History of Chinese Literature, volume 1, Cambridge University Press, tr. 116–198, ISBN 978-0-521-85558-7.
  • ——— (2014), “Zhang Heng 張衡”, trong Knechtges, David R.; Chang, Taiping (biên tập), Ancient and Early Medieval Chinese Literature: A Reference Guide, Part Four, Leiden: Brill, tr. 2141–55, ISBN 978-90-04-27217-0.
  • Kramers, Robert P. (1986), “The development of the Confucian schools”, trong Twitchett, Denis; Loewe, Michael (biên tập), Cambridge History of China: Volume I: the Ch'in and Han Empires, 221 B.C. – A.D. 220, Cambridge: Cambridge University Press, tr. 747–756, ISBN 978-0-521-24327-8.
  • Lewis, Mark Edward (2007), The Early Chinese Empires: Qin and Han, Cambridge: Harvard University Press, ISBN 978-0-674-02477-9.
  • Liu, Xujie (2002), “The Qin and Han dynasties”, trong Steinhardt, Nancy S. (biên tập), Chinese Architecture, New Haven: Yale University Press, tr. 33–60, ISBN 978-0-300-09559-3.
  • Liu, Guilin; Feng, Lisheng; Jiang, Airong; Zheng, Xiaohui (2003), “The Development of E-Mathematics Resources at Tsinghua University Library (THUL)”, trong Bai, Fengshan; Wegner, Bern (biên tập), Electronic Information and Communication in Mathematics, Berlin, Heidelberg and New York: Springer Verlag, tr. 1–13, ISBN 978-3-540-40689-1.
  • Lloyd, Geoffrey Ernest Richard (1996), Adversaries and Authorities: Investigations into Ancient Greek and Chinese Science, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 978-0-521-55695-8.
  • Lo, Vivienne (2001), “The influence of nurturing life culture on the development of Western Han acumoxa therapy”, trong Hsu, Elisabeth (biên tập), Innovation in Chinese Medicine, Cambridge, New York, Oakleigh, Madrid and Cape Town: Cambridge University Press, tr. 19–50, ISBN 978-0-521-80068-6.
  • Loewe, Michael (1968), Everyday Life in Early Imperial China during the Han Period 202 BC–AD 220, London: B.T. Batsford, ISBN 978-0-87220-758-5.
  • ——— (1986), “The Former Han Dynasty”, trong Twitchett, Denis; Loewe, Michael (biên tập), The Cambridge History of China: Volume I: the Ch'in and Han Empires, 221 B.C. – A.D. 220, Cambridge: Cambridge University Press, tr. 103–222, ISBN 978-0-521-24327-8.
  • ——— (1994), Divination, Mythology and Monarchy in Han China, Cambridge, New York and Melbourne: Cambridge University Press, ISBN 978-0-521-45466-7.
  • ——— (2005), “Funerary Practice in Han Times”, trong Richard, Naomi Noble (biên tập), Recarving China's Past: Art, Archaeology, and Architecture of the 'Wu Family Shrines', New Haven and London: Yale University Press and Princeton University Art Museum, tr. 23–74, ISBN 978-0-300-10797-5.
  • ——— (2006), The Government of the Qin and Han Empires: 221 BCE–220 CE, Hackett Publishing Company, ISBN 978-0-87220-819-3.
  • Mawer, Granville Allen (2013), “The Riddle of Cattigara”, trong Robert Nichols and Martin Woods (biên tập), Mapping Our World: Terra Incognita to Australia, Canberra: National Library of Australia, tr. 38–39, ISBN 978-0-642-27809-8.
  • McClain, Ernest G.; Ming, Shui Hung (1979), “Chinese cyclic tunings in late antiquity”, Ethnomusicology, 23 (2): 205–224, doi:10.2307/851462, JSTOR 851462.
  • Morton, William Scott; Lewis, Charlton M. (2005), China: Its History and Culture , New York City: McGraw-Hill, ISBN 978-0-07-141279-7.
  • Needham, Joseph (1972), Science and Civilization in China: Volume 1, Introductory Orientations, London: Syndics of the Cambridge University Press, ISBN 978-0-521-05799-8.
  • ——— (18 tháng 4 năm 1986), Science and Civilization in China: Volume 3; Mathematics and the Sciences of the Heavens and the Earth, Taipei: Caves Books, ISBN 978-0-521-05801-8.
  • ——— (18 tháng 4 năm 1986), Science and Civilization in China: Volume 4, Physics and Physical Technology; Part 1, Physics, Taipei: Caves Books, ISBN 978-0-521-05802-5.
  • ——— (18 tháng 4 năm 1986), Science and Civilisation in China: Volume 4, Physics and Physical Technology; Part 2, Mechanical Engineering, Taipei: Caves Books, ISBN 978-0-521-05803-2.
  • ——— (18 tháng 4 năm 1986), Science and Civilization in China: Volume 4, Physics and Physical Technology, Part 3, Civil Engineering and Nautics, Taipei: Caves Books, ISBN 978-0-521-07060-7.
  • Needham, Joseph; Tsien, Tsuen-Hsuin (1986), Science and Civilisation in China: Volume 5, Chemistry and Chemical Technology, Part 1, Paper and Printing, Taipei: Caves Books, ISBN 978-0-521-08690-5.
  • Needham, Joseph (1988), Science and Civilization in China: Volume 5, Chemistry and Chemical Technology, Part 9, Textile Technology: Spinning and Reeling, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 978-0-521-32021-4.
  • Neinhauser, William H.; Hartman, Charles; Ma, Y.W.; West, Stephen H. (1986), The Indiana Companion to Traditional Chinese Literature: Volume 1, Bloomington: Indiana University Press, ISBN 978-0-253-32983-7.
  • Nelson, Howard (1974), “Chinese maps: an exhibition at the British Library”, The China Quarterly, 58: 357–362, doi:10.1017/S0305741000011346.
  • Nishijima, Sadao (1986), “The economic and social history of Former Han”, trong Twitchett, Denis; Loewe, Michael (biên tập), Cambridge History of China: Volume I: the Ch'in and Han Empires, 221 B.C. – A.D. 220, Cambridge: Cambridge University Press, tr. 545–607, ISBN 978-0-521-24327-8.
  • Norman, Jerry (1988), Chinese, Cambridge and New York: Cambridge University Press, ISBN 978-0-521-29653-3.
  • Omura, Yoshiaki (2003), Acupuncture Medicine: Its Historical and Clinical Background, Mineola: Dover Publications, ISBN 978-0-486-42850-5.
  • O'Reilly, Dougald J.W. (2007), Early Civilizations of Southeast Asia, Lanham, New York, Toronto, Plymouth: AltaMira Press, Division of Rowman and Littlefield Publishers, ISBN 978-0-7591-0279-8.
  • Paludan, Ann (1998), Chronicle of the Chinese Emperors: the Reign-by-Reign Record of the Rulers of Imperial China, London: Thames & Hudson, ISBN 978-0-500-05090-3.
  • Pigott, Vincent C. (1999), The Archaeometallurgy of the Asian Old World, Philadelphia: University of Pennsylvania Museum of Archaeology and Anthropology, ISBN 978-0-924171-34-5.
  • Ronan, Colin A (1994), The Shorter Science and Civilization in China: 4, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 978-0-521-32995-8. (an abridgement of Joseph Needham's work)
  • Schaefer, Richard T. (2008), Encyclopedia of Race, Ethnicity, and Society: Volume 3, Thousand Oaks: Sage Publications Inc, ISBN 978-1-4129-2694-2.
  • Shen, Kangshen; Crossley, John N.; Lun, Anthony W.C. (1999), The Nine Chapters on the Mathematical Art: Companion and Commentary, Oxford: Oxford University Press, ISBN 978-0-19-853936-0.
  • Steinhardt, Nancy Shatzman (2004), “The Tang architectural icon and the politics of Chinese architectural history”, The Art Bulletin, 86 (2): 228–254, doi:10.2307/3177416, JSTOR 3177416.
  • ——— (18 tháng 4 năm 2021), “Pleasure tower model”, trong Richard, Naomi Noble (biên tập), Recarving China's Past: Art, Archaeology, and Architecture of the 'Wu Family Shrines', New Haven and London: Yale University Press and Princeton University Art Museum, tr. 275–281, ISBN 978-0-300-10797-5.
  • ——— (18 tháng 4 năm 2021), “Tower model”, trong Richard, Naomi Noble (biên tập), Recarving China's Past: Art, Archaeology, and Architecture of the 'Wu Family Shrines', New Haven and London: Yale University Press and Princeton University Art Museum, tr. 283–285, ISBN 978-0-300-10797-5.
  • Straffin, Philip D., Jr (1998), “Liu Hui and the first Golden Age of Chinese mathematics”, Mathematics Magazine, 71 (3): 163–181, doi:10.1080/0025570x.1998.11996627, JSTOR 2691200.
  • Suárez, Thomas (1999), Early Mapping of Southeast Asia, Singapore: Periplus Editions, ISBN 978-962-593-470-9.
  • Sun, Xiaochun; Kistemaker, Jacob (1997), The Chinese Sky During the Han: Constellating Stars and Society, Leiden, New York, Köln: Koninklijke Brill, Bibcode:1997csdh.book.....S, ISBN 978-90-04-10737-3.
  • Taagepera, Rein (1979), “Size and Duration of Empires: Growth-Decline Curves, 600 B.C. to 600 A.D.”, Social Science History, 3 (3/4): 115–138, doi:10.1017/s014555320002294x, JSTOR 1170959.
  • Teresi, Dick (2002), Lost Discoveries: The Ancient Roots of Modern Science–from the Babylonians to the Mayas, New York: Simon and Schuster, ISBN 978-0-684-83718-5.
  • Thorp, Robert L. (1986), “Architectural principles in early Imperial China: structural problems and their solution”, The Art Bulletin, 68 (3): 360–378, doi:10.1080/00043079.1986.10788358, JSTOR 3050972.
  • Tom, K.S. (1989), Echoes from Old China: Life, Legends, and Lore of the Middle Kingdom, Honolulu: The Hawaii Chinese History Center of the University of Hawaii Press, ISBN 978-0-8248-1285-0.
  • Torday, Laszlo (1997), Mounted Archers: The Beginnings of Central Asian History, Durham: The Durham Academic Press, ISBN 978-1-900838-03-0.
  • Turnbull, Stephen R. (2002), Fighting Ships of the Far East: China and Southeast Asia 202 BC–AD 1419, Oxford: Osprey Publishing, ISBN 978-1-84176-386-6.
  • Wagner, Donald B. (1993), Iron and Steel in Ancient China, Brill, ISBN 978-90-04-09632-5.
  • ——— (2001), The State and the Iron Industry in Han China, Copenhagen: Nordic Institute of Asian Studies Publishing, ISBN 978-87-87062-83-1.
  • Wang, Yu-ch'uan (1949), “An outline of The central government of the Former Han dynasty”, Harvard Journal of Asiatic Studies, 12 (1/2): 134–187, doi:10.2307/2718206, JSTOR 2718206.
  • Wang, Zhongshu (1982), Han Civilization, K.C. Chang and Collaborators biên dịch, New Haven and London: Yale University Press, ISBN 978-0-300-02723-5.
  • Wang, Xudang; Li, Zuixiong; Zhang, Lu (2010), “Condition, Conservation, and Reinforcement of the Yumen Pass and Hecang Earthen Ruins Near Dunhuang”, trong Neville Agnew (biên tập), Conservation of Ancient Sites on the Silk Road: Proceedings of the Second International Conference on the Conservation of Grotto Sites, Mogao Grottoes, Dunhuang, People's Republic of China, June 28 – July 3, 2004, tr. 351–352 [351–357], ISBN 978-1-60606-013-1.
  • Watson, William (2000), The Arts of China to AD 900, New Haven: Yale University Press, ISBN 978-0-300-08284-5.
  • Wiesner-Hanks, Merry E. (2011) [2001], Gender in History: Global Perspectives (ấn bản 2), Oxford: Wiley-Blackwell, ISBN 978-1-4051-8995-8
  • Xue, Shiqi (2003), “Chinese lexicography past and present”, trong Hartmann, R.R.K. (biên tập), Lexicography: Critical Concepts, London and New York: Routledge, tr. 158–173, ISBN 978-0-415-25365-9.
  • Young, Gary K. (2001), Rome's Eastern Trade: International Commerce and Imperial Policy, 31 BC – AD 305, London & New York: Routledge, ISBN 978-0-415-24219-6.
  • Yü, Ying-shih (1967), Trade and Expansion in Han China: A Study in the Structure of Sino-Barbarian Economic Relations, Berkeley: University of California Press.
  • ——— (1986), “Han foreign relations”, trong Twitchett, Denis; Loewe, Michael (biên tập), The Cambridge History of China: Volume I: the Ch'in and Han Empires, 221 B.C. – A.D. 220, Cambridge: Cambridge University Press, tr. 377–462, ISBN 978-0-521-24327-8.
  • Yule, Henry (1915), Henri Cordier (biên tập), Cathay and the Way Thither: Being a Collection of Medieval Notices of China, Vol I: Preliminary Essay on the Intercourse Between China and the Western Nations Previous to the Discovery of the Cape Route, 1, London: Hakluyt Society.
  • Zhang, Guangda (2002), “The role of the Sogdians as translators of Buddhist texts”, trong Juliano, Annette L.; Lerner, Judith A. (biên tập), Silk Road Studies VII: Nomads, Traders, and Holy Men Along China's Silk Road, Turnhout: Brepols Publishers, tr. 75–78, ISBN 978-2-503-52178-7.
  • Zhou, Jinghao (2003), Remaking China's Public Philosophy for the Twenty-First Century, Westport: Greenwood Publishing Group, ISBN 978-0-275-97882-2.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]